Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 8. Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Bích
Ngày gửi: 05h:01' 22-10-2021
Dung lượng: 8.1 MB
Số lượt tải: 231
Số lượt thích: 0 người
LỤC VÂN TIÊN CỨU 
KIỀU NGUYỆT NGA
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1822-1888
Dựa vào chú thích sgk, em hãy nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu?
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822) tại quê mẹ là làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc phường Cầu Kho, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông xuất thân trong gia đình nhà nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người làng Bồ Điền, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mẹ là bà Trương Thị Thiệt vợ thứ , người làng Tân Thới, sinh ra bảy con (4 trai, 3 gái) và Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu lòng.
- Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế từ 11 tuổi (1833) đến 18 tuổi (1840) thì trở về Gia Định.
- Năm Quý Mão (1843), ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Khi ấy có một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông.

- Năm 1847 ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849. Nhưng chưa kịp thi thì được tin mẹ mất tại Sài Gòn (1849). Trên đường trở về chịu tang mẹ, vì thời tiết thất thường, vất vả và khóc thương nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt. Trong thời gian nghỉ lại Quảng Nam chữa bệnh, tuy bệnh không hết, nhưng ông đã được vị danh y truyền dạy nghề thuốc.
- Đui mù, mất mẹ, hôn thê bội ước, cảnh nhà sa sút... ông đóng cửa chịu tang cho đến năm 1851, ông mới mở trường dạy học và bóc thuốc.
- Năm 1854, một người học trò tên là Lê Tăng Quýnh vì cảm phục và mến thương ông, nên đã xin gia đình gả cô em gái thứ năm của mình tên là Lê Thị Điền (1835 - 1886), người Cần Giuộc (Long An), cho thầy...
Cố Thủ tướng Phạm Văn đồng từng nhận xét về Nguyễn đình Chiểu: “Trên trời có những vì sao có những ánh sáng khác thường, thoạt nhìn thì chưa thấy sáng, song càng nhìn càng thấy sáng. Nguyễn Đình Chiểu – nhà thơ yêu nước vĩ đại của nhân dân miền Nam thế kỉ XIX – là một trong những ngôi sao như thế!”

“Một con người tật nguyền như vậy, nếu chỉ sống bình thường, trong sạch cũng là quý, không ai nỡ đòi hỏi phải gánh vác việc đời. Ấy mà cụ đã sống và đã làm việc với ba cương vị trí thức, luôn luôn có mặt ở phía trước, luôn luôn gương mẫu, cống hiến không kể mình, và như vậy cho đến ngày từ giã cõi đời. Còn có tấm gương người mù nào đáng soi hơn cho người có đủ hai mắt”.
( Lê Trí Viễn)

Toµn c¶nh l¨ng
§å NguyÔn
Cổng
vào
lăng
cụ
Đồ Nguyễn
Quang
cảnh
Mộ
Nguyễn
Đình
Chiểu
* Những tác phẩm chính:
Truyện Lục Vân Tiên
Chạy giặc
Ngư tiều y thuật vấn đáp
Dương Từ - Hà Mậu
Văn tế Trương Định
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc


Kể tên những tác phẩm chính của ông?
I.Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
a. Cuộc đời:
- Nguyễn Đình Chiểu( 1822-1888), tục gọi là Đồ Chiểu; quê mẹ ở tỉnh Gia Định (nay thuộc tinh Thành phố HCM), quê cha ở tỉnh Thừa Thiên - Huế.
- Ông là nhà thơ Nam Bộ, sống và sáng tác ở thời kì đau thương mà anh dũng của dân tộc- thế kỉ XIX.
b.Sự nghiệp sáng tác.
- Tác phẩm tiêu biểu: Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc…
- Nguyễn Đình Chiểu sáng tác văn chương nhằm mục đích:
+ Truyền bá đạo lí làm người;
+ Cổ vũ lòng yêu nước, ý chí cứu nước.
MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
(Trích truyện Lục Vân Tiên)
Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy, nhằm làng xông vô.
Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ!
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.”
Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:
“Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây.
Trước gây việc dữ tại mầy,
Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.”
Vân Tiên tả đột hữu xông,
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
Dẹp rồi lũ kiến chòm ong,

Hỏi: “Ai than khóc ở trong xe này?”
Thưa rằng: “Tôi thiệt người ngay,
Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ.
Trong xe chật hẹp khôn phô,
Cúi đầu trăm lạy, cứu cô tôi cùng.”
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la.
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái, ta là phận trai.
Tiểu thư con gái nhà ai,
Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ.
Chẳng hay tên họ là chi?
Khuê môn phận gái việc gì đến đây?
Trước sau chưa hãn dạ nầy,
Hai nàng ai tớ, ai thầy nói ra?”
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
Con này tì tất tên là Kim Liên.
Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.
Sai quân đem bức thư về,
Rước tôi qua đó định bề nghi gia.
Làm con đâu dám cãi cha,
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành!
Chẳng qua là sự bất bình,
Hay vầy cũng chẳng đăng trình làm chi.
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,
Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.
Trước xe quân tử tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa:
Chút tôi liễu yếu đào thơ,
Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần.
Hà Khê qua đó cũng gần,
Xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng.
Gặp đây đương lúc giữa đàng,
Của tiền không có, bạc vàng cũng không.
Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.”
Vân Tiên nghe nói liền cười:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
Này đà rõ đặng nguồn cơn,
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì?
Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.”
16

Truyện Lục Vân Tiên ra đời khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX, thể hiện rõ lí tưởng đạo đức mà Nguyễn Đình Chiểu muốn gởi gắm qua tác phẩm.
18
Tóm tắt tác phẩm:
+ Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga.
+Lục Vân Tiên gặp nạn và được cứu giúp.
+ Kiều Nguyệt Nga gặp nạn mà vẫn giữ lòng chung thủy với Lục Vân Tiên.
+ Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga gặp lại nhau .
Thảo luận

Yếu tố trùng hợp:
Việc bỏ thi về chịu tang, bị đau mắt, bị mù.
Bị bội hôn.
Về sau đều gặp lại cuộc hôn nhân tốt đẹp (Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga, còn Nguyễn Đình Chiểu với cô Năm Điền)
Sự khác biệt:
Lục Vân Tiên được tiên cho thuốc sáng mắt lại, tiếp tục đi thi đỗ Trạng Nguyên, cầm quân đánh giặc thắng lợi.
Nguyễn Đình Chiểu vĩnh viễn là bóng tối.

BÀI THƠ
VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH
-Phạm Tiến Duật-


Tiết 46
Văn bản:
I. Tìm hiểu chung
II. Đọc hiểu văn bản
1. Đọc - Tìm hiểu chú thích
2. Nhan đề bài thơ
3. Phân tích
3.1. Hình ảnh những chiếc xe không kính
Hiện thực khốc liệt thời chiến tranh: bom đạn kẻ thù, những con đường ra trận để lại dấu tích trên những chiếc xe không kính.
Phần 1: “14 câu đầu”: Lục Vân Tiên đánh tan bọn cướp, tiêu diệt tên cầm đầu Phong Lai.
Phần 2: “đoạn còn lại”: Cuộc trò chuyện giữa Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau trận đánh.
2 phần:
2.Tác phẩm:
Em hãy xác định thể loại của tác phẩm? Sáng tác vào khoảng thời gian nào?
- Truyện Lục Vân Tiên là một truyện thơ nôm của Nguyễn Đình Chiểu, được sáng tác khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ 19, gồm 2082 câu thơ lục bát.
Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu của truyện
Bố cục đoạn trích
+ Phần 1: 14 câu đầu.
Lục Vân Tiên đánh cướp.
+ Phần 2 : 44 câu còn lại.
 Cuộc trò chuyện giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
XEM LẠI ĐOẠN TRÍCH
Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
(Trích truyện Lục Vân Tiên)
Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy, nhằm làng xông vô.
Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ!
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.”
Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:
“Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây.
Trước gây việc dữ tại mầy,
Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.”
Vân Tiên tả đột hữu xông,
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
Dẹp rồi lũ kiến chòm ong,

Hỏi: “Ai than khóc ở trong xe này?”
Thưa rằng: “Tôi thiệt người ngay,
Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ.
Trong xe chật hẹp khôn phô,
Cúi đầu trăm lạy, cứu cô tôi cùng.”
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la.
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái, ta là phận trai.
Tiểu thư con gái nhà ai,
Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ.
Chẳng hay tên họ là chi?
Khuê môn phận gái việc gì đến đây?
Trước sau chưa hãn dạ nầy,
Hai nàng ai tớ, ai thầy nói ra?”
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
Con này tì tất tên là Kim Liên.
Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.
Sai quân đem bức thư về,
Rước tôi qua đó định bề nghi gia.
Làm con đâu dám cãi cha,
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành!
Chẳng qua là sự bất bình,
Hay vầy cũng chẳng đăng trình làm chi.
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,
Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.
Trước xe quân tử tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa:
Chút tôi liễu yếu đào thơ,
Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần.
Hà Khê qua đó cũng gần,
Xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng.
Gặp đây đương lúc giữa đàng,
Của tiền không có, bạc vàng cũng không.
Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.”
Vân Tiên nghe nói liền cười:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
Này đà rõ đặng nguồn cơn,
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì?
Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.”
1. Nhân vật Lục Vân Tiên
*Đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga
- Hoàn cảnh: trên đường đi thi, ghé về thăm nhà.
- Tình thế: đơn độc (một mình) tay không.
- Thái độ: bất bình
- Hành động: bẻ cây làm gậy, xông vô
- Lời nói: “kêu rằng ..... hại dân”.
=> Dũng cảm, nghĩa khí.
=> Khí phách của người anh hùng.
→Tính cách anh hùng, tài năng, vị nghĩa
1. Nhân vật Lục Vân Tiên
*Đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga
* Trò chuyện với Kiều Nguyệt Nga
- Sau khi đánh tan bọn cướp
- Lời nói:
+ Hỏi: “ai than khóc”
-> Quan tâm, sẵn sàng giúp đỡ.
+ Khẳng định: “ta đã...”
-> An ủi.
+ Can ngăn: “khoan khoan...”
-> Hiểu và xem trọng lễ giáo, cư xử đúng mực, coi trọng danh dự.
- Thái độ: vô tư, trong sáng, khiêm nhường, coi trọng khí phách, bổn phận của người anh hùng.
=> Thái độ ân cần, chu đáo, cư xử đúng mực, hiểu lễ giáo; tính cách khiêm nhường.
→ Lục Vân Tiên là nhân vật lí tưởng, chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, từ tâm, nhân hậu.
Bài tập:
1/ Hành động Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga đã thể hiện vẻ đẹp nào của Lục Vân Tiên?
A/Có tính cách anh hùng.
B/Có tài năng.
C/ Có tấm lòng vị nghĩa
D/ Cả A , B và C đều đúng.
2/ Hai câu thơ sau: “Vân Tiên tả đột hữu xông
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang”, sử dụng biện pháp tu từ gì?
A/ So sánh
B/ Nhân hoá
C/ Ẩn dụ
D/ Hoán dụ
- Lục Vân tiên là nhân vật lí tưởng của tác phẩm (Thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của tác giả về con người trong cuộc sống đời thường) Đây là chàng trai vừa rời trường học bước vào đời,16 tuổi lòng đầy hăm hở muốn lập công danh. Chàng cũng mong thi thố tài năng, cứu người, giúp đời. Gặp tình huống “bất bằng” này là một thử thách đầu tiên, cũng là cơ hội đề hành động cho chàng. Hành động đánh cướp trước hết bộc lộ tính cách anh hùng , tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Vân Tiên.
- Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh cướp được miêu tả thật đẹp – vẻ đẹp của người dung tướng theo phong cách văn chương xưa nghĩa là so sánh những mẫu lí tưởng như Triệu Tử Long.
- Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vị nghĩa vong thân” (Vì việc nghĩa quên thân mình )
=> Cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu chiến thắng những thế lực tàn bạo.
2. Nhân vật Kiều Nguyệt Nga
Tự mình giới thiệu về mình
Quân tử - tiện thiếp
-> Cách xưng hô: dịu dàng, khiêm nhường, mực thước.
=> Một cô gái khuê các, nết na, hiền hậu, có học thức, có hiếu, có giáo dục, trọng ân nghĩa.
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
……
Sai quân đem bức thơ về
Sai quân đem bức thư về,
Rước tôi qua đó định bề nghi gia.
Làm con đâu dám cãi cha,
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành!
Chẳng qua là sự bất bình,
Hay vầy cũng chẳng đăng trình làm chi.
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,
Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.
Trước xe quân tử tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa:
Chút tôi liễu yếu đào thơ,
Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần.
Hà Khê qua đó cũng gần,
Xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng.
Gặp đây đương lúc giữa đàng,
Của tiền không có, bạc vàng cũng không.
Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.”

III. TỔNG KẾT:
III. TỔNG KẾT
1. Nghệ thuật:
- Ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường, mang màu sắc địa phương Nam Bộ
- Ngôn ngữ thơ đa dạng phù hợp với diễn biến tình tiết (Đoạn đầu: lời Vân Tiên đầy phẫn nộ, tướng cướp kiêu căng, đoạn sau: cuộc đối thoại giữa Lục Vân Tiên và Nguyệt Nga thì lời lẽ mềm mỏng, xúc động, chân thành.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: qua hành động, cử chỉ, lời nói.
2. Nội dung:
- Văn bản trích thể hiện khát vọng hành giúp đời của tác giả và khắc hoạ những phẩm chất tốt đẹp của 2 nhân vật Lục Vân Tiên Tiên và Kiều Nguyệt Nga.
HƯỚNG DẪN CHUẨN BỊ BÀI MỚI
* Bài vừa học
Học thuộc thơ;
Nắm nội dung và nghệ thuật đoạn trích.
*Bài mới: Ôn tập truyện trung đại
- Hệ thống lại nội dung văn bản truyện và truyện thơ: Nhân vật, sự việc, cốt truyện trong tác phẩm truyện trung đại
- Tóm tắt văn bản, nêu chủ đề các tác phẩm truyện trung đại đã học.
 
Gửi ý kiến