Tìm kiếm Bài giảng
Bài 23. Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Châu Anh
Ngày gửi: 22h:41' 08-03-2023
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 174
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Châu Anh
Ngày gửi: 22h:41' 08-03-2023
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 174
Số lượt thích:
0 người
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
KIẾN THỨC CƠ BẢN
- ĐÓI TƯỢNG NGHỊ LUẬN
- CÁC DẠNG ĐỀ
- CÁCH LÀM BÀI – CẤU TRÚC BÀI VĂN
- LUYỆN TẬP
Biên soạn và thực hiện: Ninh Thị Loan, THCS Cẩm Phúc
KIỂM TRA BÀI CŨ
1. Thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích ?
Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày
những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề
hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.
2. Đề bài nào sau đây là đề nghị luận tác phẩm truyện
A. Suy nghĩ về đạo lý của dân tộc: “ Uống nước nhớ nguồn”.
B. Đất nước ta có nhiều tấm gương vượt khó học giỏi. Em hãy trình
bày một số tấm gương đó và nêu suy nghĩ của mình.
C Phân tích truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
C.
D. Suy nghĩ của em về câu tục ngữ “ Lá lành đùm lá rách”
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN TÁC PHẨM TRUYỆN NHƯ THẾ NÀO?
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
Đề 1: Thân phận người phụ nữ
trong xã hội cũ qua nhân vật
Vũ Nương ở Chuyện người
con gái Nam Xương.
Đề 2:Diễn biến cốt truyện trong
truyện ngắn Làng của Kim Lân
Đề 3: Thân phận của Thúy
Kiều trong đoạn trích Mã Giám
Sinh mua Kiều.
Đề 4: Đời sống tình cảm gia
đình trong chiến tranh qua
truyện ngắn Chiếc lược ngà
của Nguyễn Quang Sáng.
Đề 1. Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ
trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở
Chuyện người con gái Nam Xương của
Nguyễn Dữ.
Đề 2. Phân tích diễn biến cốt truyện trong
truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Đề 3. Suy nghĩ về thân phận Thúy Kiều trong
đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều của
Nguyễn Du.
Đề 4. Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình
trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược
ngà của Nguyễn Quang Sáng.
Các đề bài yêu cầu nghị
luận về vấn đề gì ?
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
Đề 1: Thân phận người phụ nữ
trong xã hội cũ qua nhân vật
Vũ Nương
Chuyện
Các từ ởsuy
nghĩ, người
con gái Nam Xương.
phân tích cho ta
Đề 2:Diễn biến cốt truyện trong
điểm
truyệnbiết
ngắnđược
Làng của
Kim Lân
Đề 3:giống
Thân và
phậnkhác
của Thúy
Kiều nhau
trong đoạn
Mã Giám
của trích
chúng
Sinh mua
Kiều.
như thế
nào ?
Đề 4: Đời sống tình cảm gia
đình trong chiến tranh qua
truyện ngắn Chiếc lược ngà
của Nguyễn Quang Sáng.
* Từ ngữ nêu yêu cầu làm
bài
Đề 1. Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ
trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở
Chuyện người con gái Nam Xương của
Nguyễn Dữ.
Đề 2. Phân tích diễn biến cốt truyện trong
truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Đề 3. Suy nghĩ về thân phận Thúy Kiều trong
đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều của
Nguyễn Du.
Đề 4. Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình
trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược
ngà của Nguyễn Quang Sáng.
- Suy nghĩ: Thể hiện được những suy nghĩ, nhận
định của bản thân về một vấn đề nào đó của tác
phẩm.
- Phân tích: Phân tích một khía cạnh nào đó của
tác phẩm để rút ra được những giá trị của tác
phẩm.
=> Đây là yêu cầu thao tác lậpluaanj chứ
không phải hai kiểu bài.
PHÂN TÍCH CÁC TỪ NGỮ NÊU YÊU CẦU LÀM BÀI
Suy nghĩ
Khác
nhau
Giống
nhau
yêu cầu đề xuất
nhận xét về tác
phẩm trên cơ sở
một tư tưởng, góc
nhìn nào đó, ví
dụ như quyền
sống của con
người, ...
Phân tích
Yêu cầu
phân tích
tác phẩm
để nêu ra
nhận xét
Đề 1. Suy nghĩ về thân phận người
phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật
Vũ Nương ở Chuyện người con gái
Nam Xương của Nguyễn Dữ.
Đề 2. Phân tích diễn biến cốt truyện
trong truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Đề 3. Suy nghĩ về thân phận Thúy
Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh
mua Kiều của Nguyễn Du.
Đề 4. Suy nghĩ về đời sống tình cảm
Đều là kiểu bài nghị luận về gia đình trong chiến tranh qua truyện
tác phẩm truyện (hoặc đoạn ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn
trích)
Quang Sáng.
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
*Từ ngữ nêu yêu cầu làm bài
3. Kết luận
Các bước làm bài:
- Tìm hiểu đề và tìm ý
- Lập dàn bài
- Viết bài
- Đọc lại bài viết và sửa chữa
Đề văn nghị luận có thể yêu
cầu bµn vÒ chñ ®Ò, nh©n
vËt cèt truyÖn, nghÖ thuËt
cña truyÖn.
II. Các bước làm bài nghị
luận tác phẩm truyện
1. Đề bài.
2. Các bước làm bài
Vậy đề văn nghị
Nêu về
cáctác
bước
làm
luận
phẩm
bài tập(hoặc
làm văn.
truyện
đoạnÁp
dụnglàcác
bước
làm
trích)
bàn
về vấn
bàiđề
cho
gìđề
? bài?
BỐN BƯỚC LÀM BÀI
a. Tìm hiểu để và tìm ý
Bằng cách chép lại đề trên giấy rõ ràng, gạch dưới các từ quan trọng, các
ý quan trọng và tìm xem yêu cầu chính của đề bài là gì.
Ví dụ: Như đề 3 suy nghĩ của Thúy Kiều trong đoạn trích Mã giám Sinh
mua kiều của Nguyễn Du, ta cần tìm ra các yêu cầu gồm:
•Đề nghị luận nhắc đến nhân vật nào, tác phẩm nào?
•Phải làm bài theo hướng phân tích hay trình bày suy nghĩ.
•Ngoài yêu cầu phân tích hoặc nêu suy nghĩ, có còn yêu cầu nào khác
không.
b. Lập dàn ý
•Phần mở bài: giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, thời gian sáng tác,
hoàn cảnh sáng tác và mục đích viết bài nghị luận trên.
•Phần thân bài: Tập trung phân tích hoặc trình bày suy nghĩ về những
điểm chính mà trong phần tìm hiểu ý ta đã lập ra. Lưu ý nên viết đúng
trọng tâm, ngắn gọn, xúc tích và lựa chọn câu chữ phù hợp. Có thể kết
hợp các kiểu liên kết văn bản, biện pháp tu từ để giúp bài nghị luận được
điểm cao.
•Phần kết bài: Nêu ra quan điểm và ý nghĩa tác phẩm, những bài học hay
giá trị mà tác phẩm mang lại cho người đọc.
c. Viết bài
d. Kiểm tra lại bài viết
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
Đọc các bước làm bài cho đề bài – SGK
trang 665,66,67
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
*Từ ngữ nêu yêu cầu làm bài
3. Kết luận
Đề văn nghị luận có thể yêu
cầu bµn vÒ chñ ®Ò, nh©n
vËt cèt truyÖn, nghÖ thuËt
cña truyÖn.
II. Các bước làm bài nghị
luận tác phẩm truyện
1. Đề bài: Suy nghĩ về nhân
vật ông Hai trong truyện
Làng của Kim Lân
2. Các bước làm bài
Đọc các bước làm
bì cho đề bài:
* Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý
+ Tìm hiểu đề
- Thể loại : nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
- Đối tượng : nhân vật ông Hai.
- Nội dung : truyện ngắn Làng của Kim Lân.
+ Tìm ý
- Phẩm chất nổi bật:
Tình yêu làng hòa quyện gắn bó với lòng yêu nước.
+ Chi tiết tản cư, nhớ làng.
+ Theo dõi tin tức kháng chiến.
+ Khi nghe tin làng theo giặc.
+ Khi nghe tin cải chính.
- Các chi tiết nghệ thuật:
+ Chọn tình huống tin đồn thất thiệt
+ Các chi tiết miêu tả nhân vật.
+ Các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại
Bước 2. Lập dàn ý
a. Mở bài:
- Giới thiệu nhà văn Kim Lân và truyện ngắn “ Làng”.
- Nêu ý kiến đánh giá sơ bộ về nhân vật ông Hai: tình yêu làng hòa quyện với lòng
yêu nước.
b. Thân bài: Triển khai tình yêu làng, yêu nước của ông Hai và nghệ thuật xây dựng
nhân vật.
* Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai:
- Ông Hai rất yêu làng của mình (Khoe làng, nhớ làng, theo dõi tin tức kháng
chiến).
- Ông Hai cũng yêu nước (đau khổ khi làng theo giặc, thù làng, đứng về phía cách
mạng).
- Tình yêu làng lại thống nhất với tình yêu nước.
+ Tâm trạng khi nghe tin làng theo giặc.
+ Vui mừng khi tin đồn được cải chính.
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Chọn tình huống tin đồn thất thiệt để thể hiện nhân vật.
- Các chi tiết miêu tả nhân vật: ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ tự nhiên dân dã giàu tính
khẩu ngữ, đặc biệt là tâm lý hay khoe làng của nhân vật ông Hai.
- Các hình thức trần thuật phong phú: đối thoại, độc thoại nội tâm.
c. Kết bài: Truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân.
Nêu nhận định, đánh giá chung về tác phẩm.
Bước 3. Viết bài
- Mở bài: có 2 cách
+ Đi từ khái quát -> cụ thể
+ Nêu trực tiếp những suy nghĩ của người viết, nhân vật, tác giả, tác
phẩm…
- Thân bài: trình bày các luận điểm (nhận xét, đánh giá về nội dung, nghệ
thuật của tác phẩm).
-> Giữa các phần, các đoạn của bài văn cần có sự liên kết hợp lí, tự nhiên
- Kết bài: Sự thành công của tác giả, bài học đối với cuộc sống chung.
Bước 4: Đọc, kiểm tra và sửa lỗi
Ghi nhớ : sgk – trang 68
* Bài ngị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) có thể bàn về
chủ đề, nhân vật, cốt truyện, nghệ thuật của truyện.
* Bài làm cần đảm bảo đầy đủ các phần của một bài văn nghị luận :
- Mở bài : Giới thiệu về tác phẩm (tùy theo yêu cầu cụ thể của đề
bài) và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình.
- Thân bài : Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm; có phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu
và xác thực.
- Kết bài : Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác phẩm
truyện (hoặc đoạn trích).
* Trong quá trình triển khai các luận điểm, luận cứ, cần thể hiện
sự cảm thụ và ý kiến riêng của người viết về tác phẩm.
* Giữa các phần, các đoạn của bài văn cần có sự liên
kết hợp lí, tự nhiên.
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
*Từ ngữ nêu yêu cầu làm bài
3. Kết luận
Đề văn nghị luận có thể yêu cầu
bµn vÒ chñ ®Ò, nh©n vËt cèt
truyÖn, nghÖ thuËt cña truyÖn.
II. Các bước làm bài nghị luận
tác phẩm truyện
1. Đề bài: Suy nghĩ về nhân vật
ông Hai trong truyện Làng của
Kim Lân
2. Các bước làm bài
3. Kết luận
III. Luyện tập
1. Đề bài: Suy nghĩ về truyện
ngắn Lão hạc của Nam cao
Đọc các bước làm bài cho đề bài – SGK
trang 665,66,67
1.
2.
3.
4.
Tìm hiểu đề và tìm ý
Lập dàn ý
Viết bài
Đọc lại bài viết và sửa chữa
Yêu cầu Đề bài:
- Viết đoạn mở bài
- Viết một đoạn thân bài
Gợi ý:
- Đọc kĩ truyện, nắm kiến thức về tác giả, tác
phẩm,
- Vận dụng các phép lập luận phân tích, giải
thích, chứng minh đr viết.
Nêu cách làm bài
nghị luận tác phẩm
truyện?
Gợi ý:
1. Mở bài:
Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,... Nam Cao là một cái tên không
thể thiếu khi nhắc tới những nhà văn hiện thực nhân đạo. Các sáng tác
của ông vừa rất mực chân thực, vừa có một ý vị triết lí mang ý nghĩa
nhân bản sâu sắc. Truyện ngắn "Lão Hạc" là một trong những tác phấm
tiêu biểu như thế! Truyện đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số
phận người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của
họ.
2. Thân bài (Tham khảo 1 đoạn phần thân bài) :
Về phần cuối truyện, tác giả đặt nhân vật giữa hai tọa độ nhìn khác
nhau: vợ ông giáo và Binh Tư. Trò chuyện với vợ, ông giáo nghiền
ngẫm, triết lí về sự nhìn nhận và đánh giá của người đời. Trò chuyện với
Binh Tư, ông giáo từ sửng sốt chuyển sang thất vọng về lão Hạc. Ở chỗ
nãy, Nam Cao thật cao tay – ông đưa ra một hiểu lầm thật bất ngờ để rồi
cũng bằng cách bất ngờ nhất, ông "lật tẩy" sự việc làm cho người đọc
thỏa mãn trong sự hiểu biết trọn vẹn: lão Hạc vẫn nguyên vẹn, trong sạch
cho đến chết.
MỘT SỐ DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN
TRUYỆN
Nghị luận về nhân vật
• Đặc
điểm NV
• NT
* Giá trị ND
Nghị luận về tác phẩm
Đặc điểm 1:
Đặc điểm 2:
Tình huống thể hiện nhân vật
Ngôn ngữ nhân v ật
Miêu tả nhân vật
Giá trị nhân đạo
Giá trị hiện thực
Xây dựng tình huống truyện
* Giá trị NT
Xây dựng nhân vật
Ngôn ngữ của truyện
• Cảm
Nghị luận một giá trị
của truyện
thông với số phận của nhân vật.
• Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của họ.
• Lên án xã hội bất công tàn ác.
Bài 1. Cảm nhận của em về vẻ đẹp của đoạn trích sau:
Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó – buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt mưa còn đọng
trên lá, rừng sáng lấp lánh. Đang ngồi làm việc dưới tấm ni lông nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ
con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với
tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà.
Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi li của Mĩ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc
ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố
công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy
bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây
lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con
gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng lược
có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của
ba”. Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm
trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây
lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng
mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám –
năm đó ta chưa võ trang – trong một trận càn lớn của quân Mĩ – ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị
viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại
điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược,
đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho
đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.
Tôi cúi xuống gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.
(Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, Tập một)
Gợi ý: Cảm nhận về vẻ đẹp đoạn trích:
a. Vẻ đẹp của tấm lòng người cha:
- Tình yêu thương con thắm thiết, sâu nặng và cao đẹp:
+ Đoạn trích thể hiện nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau của nhân vật ông Sáu
nhưng những cảm xúc ấy đều hướng về đứa con gái thân yêu trong hoàn cảnh
xa cách: day dứt, ân hận vì đã đánh con khi nóng giận; mong muốn làm một
chiếc lược ngà cho bé Thu; vui mừng, sung sướng khi tìm được khúc ngà; nhớ
thương, khao khát gặp lại con...
+ Ông Sáu tỉ mỉ cưa từng chiếc răng lược, tẩn mẩn khắc từng nét chữ yêu
thương, dành hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược để thực hiện lời dặn
của bé Thu. Chiếc lược ngà là một vật quý giá, thiêng liêng, làm dịu đi nỗi ân
hận và chứa đựng tấm lòng yêu thương thắm thiết, sâu nặng của người cha
dành cho con gái trong hoàn cảnh chiến tranh.
+ Việc ông Sáu trao lại chiếc lược cho người bạn thân trước lúc hi sinh bộc lộ
ước nguyện cao đẹp, thiêng liêng của người cha và khẳng định sức sống của
tình cha con trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.
- Tấm lòng yêu thương con của ông Sáu được đặt trong một tình huống đau
thương:
Ông Sáu làm chiếc lược cho bé Thu nhưng chưa được gặp lại con thì ông đã
hi sinh. Tình huống truyện này vừa tỏa sáng tấm lòng của người cha vừa khẳng
định sức sống bất diệt của tình cảm cha con. Nó vượt lên trên sự xa cách, gian
khổ, mất mát vì chiến tranh.
b. Đặc sắc nghệ thuật:
- Việc lựa chọn nhân vật kể chuyện là người bạn thân của ông Sáu khiến cho
câu chuyện chân thực, xúc động.
- Xây dựng tình huống éo le, hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng; ngôn ngữ giản
dị, giàu cảm xúc.
- Miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc.
Bài 2. Cảm nhận của em về vẻ đẹp của các cô gái thanh niên xung
phong qua hai đoạn trích sau:
Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Mà ban ngày chạy trên
cao điểm không phải chuyện chơi. Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn
ta lẩn trong ruột những quả bom. Tôi bây giờ còn một vết thương chưa lành
miệng ở đùi. Tất nhiên, tôi không vào viện quân y. Việc nào cũng có cái thú của
nó. Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay
đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu,
chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có
thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ... Rồi khi xong việc,
quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang.
Và:
Tôi thích nhiều bài. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả
đường mặt trận. Tôi thích dân ca quan họ mềm mại, dịu dàng. Thích "Ca-chiusa" của Hồng quân Liên Xô. Thích ngồi bó gối mơ màng: "Về đây khi mái tóc
còn xanh xanh...". [...] Chị Thao hát: "Đây Thăng Long, đây Đông Đô... Hà
Nội ...". Nhạc sai bét, còn giọng thì chua, chị không hát trôi chảy được bài nào.
Nhưng chị lại có ba quyền số dày, chép bài hát. Rỗi là ngồi chép bài hát. Thậm
chí, say mê chép cả những lời tôi tự bịa ra nữa.
(Trích Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê, SGK Ngữ văn 9, tập 2)
Gợi ý:
1. Hoàn cảnh sống và chiến đấu:
- Phương Định cùng với chị Thao và Nho làm thành một tổ trinh sát mặt đường.
Họ ở “trong một hang dưới chân cao điểm”…
- Công việc của Phương Định và đồng đội đặc biệt nguy hiểm. Hằng ngày, họ
thay nhau đứng trên cao điểm đếm bom rơi rồi lao ra trọng điểm sau mỗi trận
bom để đo khối lượng đất, đá phải san lấp, đánh dấu và phá những quả bom
chưa nổ.
=> Cuộc sống gian khổ giữa chiến trường ác liệt, công việc đầy nguy hiểm và
luôn phải đối mặt với cái chết, nhưng Phương Định vẫn giữ được những vẻ đẹp
của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nổi bật là tinh thần dũng cảm, gan dạ,
không sợ hi sinh được thể hiện sâu sắc trong một lần phá bom.
- Dù công việc của họ rất khó khăn nguy hiểm nhưng họ vẫn lạc quan và yêu
đời
+ Cô thuộc rất nhiều bài hát và hay hát
+ Cô rất hay mơ mộng và nghĩ vẫn vơ
=> Phương Định là một cô gái lạc quan yêu đời và yêu nước, có tâm hồn trong
trắng, hồn nhiên.
2. Tinh thần dũng cảm, gan dạ trong một lần phá bom:
- Khung cảnh và không khí chưa đầy sự căng thẳng “Vắng lặng đến phát sợ.
Cây còn lại xơ xác. Ðất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung,
che đi những gì từ xa”.
=> Không cần tô vẽ, tự bản thân khung cảnh ấy, với những hình ảnh của
hung thần chiến tranh đã đủ gây ấn tượng về chiến trường ác liệt, nơi hằng
ngày Phương Định cùng với những người đồng đội của mình phải sống và
chiến đấu, làm nhiệm vụ. Trang viết của Lê Minh Khuê đã ghi lại một cách
ít lời nhất cuộc chiến đấu khốc liệt của tổ trinh sát mặt đường.
- Trong không khí căng thẳng và vắng lặng đến rợn người, nhưng rồi một
cảm giác bỗng đến với cô làm cô không sợ nữa: “Tôi đến gần quả bom.
Cảm thấy ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ
không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng
hoàng mà bước tới”. Lòng dũng cảm của cô như được kích thích bởi sự tự
trọng. Chính tình đồng đội đã khiến cô vững tâm hơn, yên tâm hơn về công
việc nguy hiểm mà mình đang và sẽ phải đối mặt ở phía trước.
- Và khi đã ở bên quả bom, kề sát với cái chết có thể đến tức khắc, từng cảm
giác của cô như cũng trở nên sắc nhọn hơn và căng như dây đàn: “thỉnh thoảng
lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt
tôi, tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí!
Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Thần chết nằm chực ở đó chờ
phút ra tay. Cô phải nhanh hơn, mạnh hơn nó, không được phép chậm chễ một
giây. Thật đáng sợ cái công việc chọc giận Thần Chết đó. Ai dám chắc là quả
bom sẽ không nổ ngay bây giờ, lúc Phương định đang lúi húi đào đào, bới bới
ấy. Thế mà cô vẫn không run tay, không bỏ cuộc và thực hiện nhiệm vụ cho
đến thao tác cuối cùng. Cô cố gắng thực hiện các động tác nhanh, chạy đua với
thời gian nhưng vẫn cẩn trọng, nhẹ nhàng; chỉ cần sai sót nhỏ thôi là bom sẽ nổ
ngay lập tức.
- Xong nhiệm vụ, Phương Định chạy tới chỗ ẩn nấp, hồi hộp chờ đợi, lo lắng,
“tim đập không rõ”, thần kinh căng thẳng cao độ. Cô có nghĩ đến cái chết,
nhưng đó là “một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”; tâm trí Phương Định chỉ còn
băn khoăn việc “liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm cách nào để
châm mìn lần thứ hai”. Cô không ngần ngại hi sinh; cái công việc khủng khiếp
bóp nghẹt trái tim này đâu chỉ diễn ra hôm nay, những nguy hiểm không
kể xiết ấy diễn ra từng ngày, trở thành một điều quen thuộc.: “Quen rồi. Một
ngày chúng tôi phá bom đến năm lần”. Cô chỉ sợ đường không thông, không
hoàn thành nhiệm vụ. Rồi khi bom nổ - một thứ tiếng kì quái váng óc - ngực
nhói, mắt cay, cô vẫn phủi áo và chạy xuống ngay nơi nổ.
- Trong truyện, có lẽ đây là đoạn xuất sắc nhất; tâm lí nhân vật được miêu tả vô
cùng chi tiết. Khi cái chết im lìm và đáng sợ kề bên, mọi cảm giác của Phương
Định đều trở nên sắc nhọn. Chính sự khốc liệt của chiến trường đã tôi luyện
tâm hồn vốn nhạy cảm của một nữ sinh thành bản lĩnh của người thanh niên
xung phong kiên cường, bất khuất.
=> Cảm xúc và suy nghĩ chân thực của cô đã truyền sang cho người đọc nỗi
niềm đồng cảm yêu mến và sự kính phục. Một cô nữ sinh nhỏ bé, hồn nhiên,
giàu mơ mộng và nhạy cảm mà cũng thật anh hùng, thật xứng đáng với những
kì tích khắc ghi trên những tuyến đường Trường Sơn bi tráng. Một ngày trong
những năm tháng Trường Sơn của cô là như vậy! Những trang lịch sử Trường
Sơn không thể quên ghi một ngày như thế!
3. Nhận xét, đánh giá về nội dung và nghệ thuật:
- Có thể nói, gan dạ, dũng cảm là nét nổi bật trong phẩm chất của Phương Định,
của biết bao người con gái, người con trai khi đến với chiến trường ác liệt, tham
gia vào việc chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc.
- Người đọc yêu mến cô còn bởi lí tưởng sống cao đẹp, tình đồng đội gắn bó,
tâm hồn trong sáng giàu mơ mộng. Với tất cả những phẩm chất đáng quí đó, cô
và những người đồng đội của mình thực sự là “những ngôi sao xa xôi” toả sáng
trong trái tim độc giả, trong suy nghĩ của biết bao thế hệ con người Việt Nam
hôm qua, hôm nay và mãi mãi mai sau.
- Thành công nghệ thuật của tác giả Lê Minh Khuê khi xây dựng nhân vật: ngôi
kể thứ nhất, Phương Định là nhân vật chính cũng là người kể chuyện; giọng
điệu nữ tính; xây dựng nhân vật vừa có nét tương đồng lại có những cá tính
riêng.
HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ
- Học thuộc (ghi nhớ sgk – trang 68.
- Hoàn thiện các bài tập.
- Chuẩn bị bài : Luyện tập nghị luận về tác phẩm
truyện
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
KIẾN THỨC CƠ BẢN
- ĐÓI TƯỢNG NGHỊ LUẬN
- CÁC DẠNG ĐỀ
- CÁCH LÀM BÀI – CẤU TRÚC BÀI VĂN
- LUYỆN TẬP
Biên soạn và thực hiện: Ninh Thị Loan, THCS Cẩm Phúc
KIỂM TRA BÀI CŨ
1. Thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích ?
Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày
những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề
hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.
2. Đề bài nào sau đây là đề nghị luận tác phẩm truyện
A. Suy nghĩ về đạo lý của dân tộc: “ Uống nước nhớ nguồn”.
B. Đất nước ta có nhiều tấm gương vượt khó học giỏi. Em hãy trình
bày một số tấm gương đó và nêu suy nghĩ của mình.
C Phân tích truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
C.
D. Suy nghĩ của em về câu tục ngữ “ Lá lành đùm lá rách”
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN TÁC PHẨM TRUYỆN NHƯ THẾ NÀO?
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
Đề 1: Thân phận người phụ nữ
trong xã hội cũ qua nhân vật
Vũ Nương ở Chuyện người
con gái Nam Xương.
Đề 2:Diễn biến cốt truyện trong
truyện ngắn Làng của Kim Lân
Đề 3: Thân phận của Thúy
Kiều trong đoạn trích Mã Giám
Sinh mua Kiều.
Đề 4: Đời sống tình cảm gia
đình trong chiến tranh qua
truyện ngắn Chiếc lược ngà
của Nguyễn Quang Sáng.
Đề 1. Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ
trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở
Chuyện người con gái Nam Xương của
Nguyễn Dữ.
Đề 2. Phân tích diễn biến cốt truyện trong
truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Đề 3. Suy nghĩ về thân phận Thúy Kiều trong
đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều của
Nguyễn Du.
Đề 4. Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình
trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược
ngà của Nguyễn Quang Sáng.
Các đề bài yêu cầu nghị
luận về vấn đề gì ?
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
Đề 1: Thân phận người phụ nữ
trong xã hội cũ qua nhân vật
Vũ Nương
Chuyện
Các từ ởsuy
nghĩ, người
con gái Nam Xương.
phân tích cho ta
Đề 2:Diễn biến cốt truyện trong
điểm
truyệnbiết
ngắnđược
Làng của
Kim Lân
Đề 3:giống
Thân và
phậnkhác
của Thúy
Kiều nhau
trong đoạn
Mã Giám
của trích
chúng
Sinh mua
Kiều.
như thế
nào ?
Đề 4: Đời sống tình cảm gia
đình trong chiến tranh qua
truyện ngắn Chiếc lược ngà
của Nguyễn Quang Sáng.
* Từ ngữ nêu yêu cầu làm
bài
Đề 1. Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ
trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở
Chuyện người con gái Nam Xương của
Nguyễn Dữ.
Đề 2. Phân tích diễn biến cốt truyện trong
truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Đề 3. Suy nghĩ về thân phận Thúy Kiều trong
đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều của
Nguyễn Du.
Đề 4. Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình
trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược
ngà của Nguyễn Quang Sáng.
- Suy nghĩ: Thể hiện được những suy nghĩ, nhận
định của bản thân về một vấn đề nào đó của tác
phẩm.
- Phân tích: Phân tích một khía cạnh nào đó của
tác phẩm để rút ra được những giá trị của tác
phẩm.
=> Đây là yêu cầu thao tác lậpluaanj chứ
không phải hai kiểu bài.
PHÂN TÍCH CÁC TỪ NGỮ NÊU YÊU CẦU LÀM BÀI
Suy nghĩ
Khác
nhau
Giống
nhau
yêu cầu đề xuất
nhận xét về tác
phẩm trên cơ sở
một tư tưởng, góc
nhìn nào đó, ví
dụ như quyền
sống của con
người, ...
Phân tích
Yêu cầu
phân tích
tác phẩm
để nêu ra
nhận xét
Đề 1. Suy nghĩ về thân phận người
phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật
Vũ Nương ở Chuyện người con gái
Nam Xương của Nguyễn Dữ.
Đề 2. Phân tích diễn biến cốt truyện
trong truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Đề 3. Suy nghĩ về thân phận Thúy
Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh
mua Kiều của Nguyễn Du.
Đề 4. Suy nghĩ về đời sống tình cảm
Đều là kiểu bài nghị luận về gia đình trong chiến tranh qua truyện
tác phẩm truyện (hoặc đoạn ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn
trích)
Quang Sáng.
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
*Từ ngữ nêu yêu cầu làm bài
3. Kết luận
Các bước làm bài:
- Tìm hiểu đề và tìm ý
- Lập dàn bài
- Viết bài
- Đọc lại bài viết và sửa chữa
Đề văn nghị luận có thể yêu
cầu bµn vÒ chñ ®Ò, nh©n
vËt cèt truyÖn, nghÖ thuËt
cña truyÖn.
II. Các bước làm bài nghị
luận tác phẩm truyện
1. Đề bài.
2. Các bước làm bài
Vậy đề văn nghị
Nêu về
cáctác
bước
làm
luận
phẩm
bài tập(hoặc
làm văn.
truyện
đoạnÁp
dụnglàcác
bước
làm
trích)
bàn
về vấn
bàiđề
cho
gìđề
? bài?
BỐN BƯỚC LÀM BÀI
a. Tìm hiểu để và tìm ý
Bằng cách chép lại đề trên giấy rõ ràng, gạch dưới các từ quan trọng, các
ý quan trọng và tìm xem yêu cầu chính của đề bài là gì.
Ví dụ: Như đề 3 suy nghĩ của Thúy Kiều trong đoạn trích Mã giám Sinh
mua kiều của Nguyễn Du, ta cần tìm ra các yêu cầu gồm:
•Đề nghị luận nhắc đến nhân vật nào, tác phẩm nào?
•Phải làm bài theo hướng phân tích hay trình bày suy nghĩ.
•Ngoài yêu cầu phân tích hoặc nêu suy nghĩ, có còn yêu cầu nào khác
không.
b. Lập dàn ý
•Phần mở bài: giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, thời gian sáng tác,
hoàn cảnh sáng tác và mục đích viết bài nghị luận trên.
•Phần thân bài: Tập trung phân tích hoặc trình bày suy nghĩ về những
điểm chính mà trong phần tìm hiểu ý ta đã lập ra. Lưu ý nên viết đúng
trọng tâm, ngắn gọn, xúc tích và lựa chọn câu chữ phù hợp. Có thể kết
hợp các kiểu liên kết văn bản, biện pháp tu từ để giúp bài nghị luận được
điểm cao.
•Phần kết bài: Nêu ra quan điểm và ý nghĩa tác phẩm, những bài học hay
giá trị mà tác phẩm mang lại cho người đọc.
c. Viết bài
d. Kiểm tra lại bài viết
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
Đọc các bước làm bài cho đề bài – SGK
trang 665,66,67
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
*Từ ngữ nêu yêu cầu làm bài
3. Kết luận
Đề văn nghị luận có thể yêu
cầu bµn vÒ chñ ®Ò, nh©n
vËt cèt truyÖn, nghÖ thuËt
cña truyÖn.
II. Các bước làm bài nghị
luận tác phẩm truyện
1. Đề bài: Suy nghĩ về nhân
vật ông Hai trong truyện
Làng của Kim Lân
2. Các bước làm bài
Đọc các bước làm
bì cho đề bài:
* Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý
+ Tìm hiểu đề
- Thể loại : nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
- Đối tượng : nhân vật ông Hai.
- Nội dung : truyện ngắn Làng của Kim Lân.
+ Tìm ý
- Phẩm chất nổi bật:
Tình yêu làng hòa quyện gắn bó với lòng yêu nước.
+ Chi tiết tản cư, nhớ làng.
+ Theo dõi tin tức kháng chiến.
+ Khi nghe tin làng theo giặc.
+ Khi nghe tin cải chính.
- Các chi tiết nghệ thuật:
+ Chọn tình huống tin đồn thất thiệt
+ Các chi tiết miêu tả nhân vật.
+ Các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại
Bước 2. Lập dàn ý
a. Mở bài:
- Giới thiệu nhà văn Kim Lân và truyện ngắn “ Làng”.
- Nêu ý kiến đánh giá sơ bộ về nhân vật ông Hai: tình yêu làng hòa quyện với lòng
yêu nước.
b. Thân bài: Triển khai tình yêu làng, yêu nước của ông Hai và nghệ thuật xây dựng
nhân vật.
* Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai:
- Ông Hai rất yêu làng của mình (Khoe làng, nhớ làng, theo dõi tin tức kháng
chiến).
- Ông Hai cũng yêu nước (đau khổ khi làng theo giặc, thù làng, đứng về phía cách
mạng).
- Tình yêu làng lại thống nhất với tình yêu nước.
+ Tâm trạng khi nghe tin làng theo giặc.
+ Vui mừng khi tin đồn được cải chính.
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Chọn tình huống tin đồn thất thiệt để thể hiện nhân vật.
- Các chi tiết miêu tả nhân vật: ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ tự nhiên dân dã giàu tính
khẩu ngữ, đặc biệt là tâm lý hay khoe làng của nhân vật ông Hai.
- Các hình thức trần thuật phong phú: đối thoại, độc thoại nội tâm.
c. Kết bài: Truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân.
Nêu nhận định, đánh giá chung về tác phẩm.
Bước 3. Viết bài
- Mở bài: có 2 cách
+ Đi từ khái quát -> cụ thể
+ Nêu trực tiếp những suy nghĩ của người viết, nhân vật, tác giả, tác
phẩm…
- Thân bài: trình bày các luận điểm (nhận xét, đánh giá về nội dung, nghệ
thuật của tác phẩm).
-> Giữa các phần, các đoạn của bài văn cần có sự liên kết hợp lí, tự nhiên
- Kết bài: Sự thành công của tác giả, bài học đối với cuộc sống chung.
Bước 4: Đọc, kiểm tra và sửa lỗi
Ghi nhớ : sgk – trang 68
* Bài ngị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) có thể bàn về
chủ đề, nhân vật, cốt truyện, nghệ thuật của truyện.
* Bài làm cần đảm bảo đầy đủ các phần của một bài văn nghị luận :
- Mở bài : Giới thiệu về tác phẩm (tùy theo yêu cầu cụ thể của đề
bài) và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình.
- Thân bài : Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm; có phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu
và xác thực.
- Kết bài : Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác phẩm
truyện (hoặc đoạn trích).
* Trong quá trình triển khai các luận điểm, luận cứ, cần thể hiện
sự cảm thụ và ý kiến riêng của người viết về tác phẩm.
* Giữa các phần, các đoạn của bài văn cần có sự liên
kết hợp lí, tự nhiên.
Tiết 122-Tập làm văn
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)
I. Đề bài nghi luận về tác
phẩm truyện (đoạn trích).
1. Ví dụ: Các đề bài (Sgk/64,65)
2. Nhận xét
* Đối tượng nghị luận
*Từ ngữ nêu yêu cầu làm bài
3. Kết luận
Đề văn nghị luận có thể yêu cầu
bµn vÒ chñ ®Ò, nh©n vËt cèt
truyÖn, nghÖ thuËt cña truyÖn.
II. Các bước làm bài nghị luận
tác phẩm truyện
1. Đề bài: Suy nghĩ về nhân vật
ông Hai trong truyện Làng của
Kim Lân
2. Các bước làm bài
3. Kết luận
III. Luyện tập
1. Đề bài: Suy nghĩ về truyện
ngắn Lão hạc của Nam cao
Đọc các bước làm bài cho đề bài – SGK
trang 665,66,67
1.
2.
3.
4.
Tìm hiểu đề và tìm ý
Lập dàn ý
Viết bài
Đọc lại bài viết và sửa chữa
Yêu cầu Đề bài:
- Viết đoạn mở bài
- Viết một đoạn thân bài
Gợi ý:
- Đọc kĩ truyện, nắm kiến thức về tác giả, tác
phẩm,
- Vận dụng các phép lập luận phân tích, giải
thích, chứng minh đr viết.
Nêu cách làm bài
nghị luận tác phẩm
truyện?
Gợi ý:
1. Mở bài:
Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,... Nam Cao là một cái tên không
thể thiếu khi nhắc tới những nhà văn hiện thực nhân đạo. Các sáng tác
của ông vừa rất mực chân thực, vừa có một ý vị triết lí mang ý nghĩa
nhân bản sâu sắc. Truyện ngắn "Lão Hạc" là một trong những tác phấm
tiêu biểu như thế! Truyện đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số
phận người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của
họ.
2. Thân bài (Tham khảo 1 đoạn phần thân bài) :
Về phần cuối truyện, tác giả đặt nhân vật giữa hai tọa độ nhìn khác
nhau: vợ ông giáo và Binh Tư. Trò chuyện với vợ, ông giáo nghiền
ngẫm, triết lí về sự nhìn nhận và đánh giá của người đời. Trò chuyện với
Binh Tư, ông giáo từ sửng sốt chuyển sang thất vọng về lão Hạc. Ở chỗ
nãy, Nam Cao thật cao tay – ông đưa ra một hiểu lầm thật bất ngờ để rồi
cũng bằng cách bất ngờ nhất, ông "lật tẩy" sự việc làm cho người đọc
thỏa mãn trong sự hiểu biết trọn vẹn: lão Hạc vẫn nguyên vẹn, trong sạch
cho đến chết.
MỘT SỐ DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN
TRUYỆN
Nghị luận về nhân vật
• Đặc
điểm NV
• NT
* Giá trị ND
Nghị luận về tác phẩm
Đặc điểm 1:
Đặc điểm 2:
Tình huống thể hiện nhân vật
Ngôn ngữ nhân v ật
Miêu tả nhân vật
Giá trị nhân đạo
Giá trị hiện thực
Xây dựng tình huống truyện
* Giá trị NT
Xây dựng nhân vật
Ngôn ngữ của truyện
• Cảm
Nghị luận một giá trị
của truyện
thông với số phận của nhân vật.
• Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của họ.
• Lên án xã hội bất công tàn ác.
Bài 1. Cảm nhận của em về vẻ đẹp của đoạn trích sau:
Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó – buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt mưa còn đọng
trên lá, rừng sáng lấp lánh. Đang ngồi làm việc dưới tấm ni lông nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ
con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với
tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà.
Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi li của Mĩ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc
ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố
công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy
bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây
lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con
gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng lược
có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của
ba”. Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm
trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây
lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng
mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám –
năm đó ta chưa võ trang – trong một trận càn lớn của quân Mĩ – ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị
viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại
điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược,
đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho
đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.
Tôi cúi xuống gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.
(Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, Tập một)
Gợi ý: Cảm nhận về vẻ đẹp đoạn trích:
a. Vẻ đẹp của tấm lòng người cha:
- Tình yêu thương con thắm thiết, sâu nặng và cao đẹp:
+ Đoạn trích thể hiện nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau của nhân vật ông Sáu
nhưng những cảm xúc ấy đều hướng về đứa con gái thân yêu trong hoàn cảnh
xa cách: day dứt, ân hận vì đã đánh con khi nóng giận; mong muốn làm một
chiếc lược ngà cho bé Thu; vui mừng, sung sướng khi tìm được khúc ngà; nhớ
thương, khao khát gặp lại con...
+ Ông Sáu tỉ mỉ cưa từng chiếc răng lược, tẩn mẩn khắc từng nét chữ yêu
thương, dành hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược để thực hiện lời dặn
của bé Thu. Chiếc lược ngà là một vật quý giá, thiêng liêng, làm dịu đi nỗi ân
hận và chứa đựng tấm lòng yêu thương thắm thiết, sâu nặng của người cha
dành cho con gái trong hoàn cảnh chiến tranh.
+ Việc ông Sáu trao lại chiếc lược cho người bạn thân trước lúc hi sinh bộc lộ
ước nguyện cao đẹp, thiêng liêng của người cha và khẳng định sức sống của
tình cha con trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.
- Tấm lòng yêu thương con của ông Sáu được đặt trong một tình huống đau
thương:
Ông Sáu làm chiếc lược cho bé Thu nhưng chưa được gặp lại con thì ông đã
hi sinh. Tình huống truyện này vừa tỏa sáng tấm lòng của người cha vừa khẳng
định sức sống bất diệt của tình cảm cha con. Nó vượt lên trên sự xa cách, gian
khổ, mất mát vì chiến tranh.
b. Đặc sắc nghệ thuật:
- Việc lựa chọn nhân vật kể chuyện là người bạn thân của ông Sáu khiến cho
câu chuyện chân thực, xúc động.
- Xây dựng tình huống éo le, hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng; ngôn ngữ giản
dị, giàu cảm xúc.
- Miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc.
Bài 2. Cảm nhận của em về vẻ đẹp của các cô gái thanh niên xung
phong qua hai đoạn trích sau:
Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Mà ban ngày chạy trên
cao điểm không phải chuyện chơi. Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn
ta lẩn trong ruột những quả bom. Tôi bây giờ còn một vết thương chưa lành
miệng ở đùi. Tất nhiên, tôi không vào viện quân y. Việc nào cũng có cái thú của
nó. Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay
đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu,
chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có
thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ... Rồi khi xong việc,
quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang.
Và:
Tôi thích nhiều bài. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả
đường mặt trận. Tôi thích dân ca quan họ mềm mại, dịu dàng. Thích "Ca-chiusa" của Hồng quân Liên Xô. Thích ngồi bó gối mơ màng: "Về đây khi mái tóc
còn xanh xanh...". [...] Chị Thao hát: "Đây Thăng Long, đây Đông Đô... Hà
Nội ...". Nhạc sai bét, còn giọng thì chua, chị không hát trôi chảy được bài nào.
Nhưng chị lại có ba quyền số dày, chép bài hát. Rỗi là ngồi chép bài hát. Thậm
chí, say mê chép cả những lời tôi tự bịa ra nữa.
(Trích Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê, SGK Ngữ văn 9, tập 2)
Gợi ý:
1. Hoàn cảnh sống và chiến đấu:
- Phương Định cùng với chị Thao và Nho làm thành một tổ trinh sát mặt đường.
Họ ở “trong một hang dưới chân cao điểm”…
- Công việc của Phương Định và đồng đội đặc biệt nguy hiểm. Hằng ngày, họ
thay nhau đứng trên cao điểm đếm bom rơi rồi lao ra trọng điểm sau mỗi trận
bom để đo khối lượng đất, đá phải san lấp, đánh dấu và phá những quả bom
chưa nổ.
=> Cuộc sống gian khổ giữa chiến trường ác liệt, công việc đầy nguy hiểm và
luôn phải đối mặt với cái chết, nhưng Phương Định vẫn giữ được những vẻ đẹp
của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nổi bật là tinh thần dũng cảm, gan dạ,
không sợ hi sinh được thể hiện sâu sắc trong một lần phá bom.
- Dù công việc của họ rất khó khăn nguy hiểm nhưng họ vẫn lạc quan và yêu
đời
+ Cô thuộc rất nhiều bài hát và hay hát
+ Cô rất hay mơ mộng và nghĩ vẫn vơ
=> Phương Định là một cô gái lạc quan yêu đời và yêu nước, có tâm hồn trong
trắng, hồn nhiên.
2. Tinh thần dũng cảm, gan dạ trong một lần phá bom:
- Khung cảnh và không khí chưa đầy sự căng thẳng “Vắng lặng đến phát sợ.
Cây còn lại xơ xác. Ðất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung,
che đi những gì từ xa”.
=> Không cần tô vẽ, tự bản thân khung cảnh ấy, với những hình ảnh của
hung thần chiến tranh đã đủ gây ấn tượng về chiến trường ác liệt, nơi hằng
ngày Phương Định cùng với những người đồng đội của mình phải sống và
chiến đấu, làm nhiệm vụ. Trang viết của Lê Minh Khuê đã ghi lại một cách
ít lời nhất cuộc chiến đấu khốc liệt của tổ trinh sát mặt đường.
- Trong không khí căng thẳng và vắng lặng đến rợn người, nhưng rồi một
cảm giác bỗng đến với cô làm cô không sợ nữa: “Tôi đến gần quả bom.
Cảm thấy ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ
không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng
hoàng mà bước tới”. Lòng dũng cảm của cô như được kích thích bởi sự tự
trọng. Chính tình đồng đội đã khiến cô vững tâm hơn, yên tâm hơn về công
việc nguy hiểm mà mình đang và sẽ phải đối mặt ở phía trước.
- Và khi đã ở bên quả bom, kề sát với cái chết có thể đến tức khắc, từng cảm
giác của cô như cũng trở nên sắc nhọn hơn và căng như dây đàn: “thỉnh thoảng
lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt
tôi, tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí!
Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Thần chết nằm chực ở đó chờ
phút ra tay. Cô phải nhanh hơn, mạnh hơn nó, không được phép chậm chễ một
giây. Thật đáng sợ cái công việc chọc giận Thần Chết đó. Ai dám chắc là quả
bom sẽ không nổ ngay bây giờ, lúc Phương định đang lúi húi đào đào, bới bới
ấy. Thế mà cô vẫn không run tay, không bỏ cuộc và thực hiện nhiệm vụ cho
đến thao tác cuối cùng. Cô cố gắng thực hiện các động tác nhanh, chạy đua với
thời gian nhưng vẫn cẩn trọng, nhẹ nhàng; chỉ cần sai sót nhỏ thôi là bom sẽ nổ
ngay lập tức.
- Xong nhiệm vụ, Phương Định chạy tới chỗ ẩn nấp, hồi hộp chờ đợi, lo lắng,
“tim đập không rõ”, thần kinh căng thẳng cao độ. Cô có nghĩ đến cái chết,
nhưng đó là “một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”; tâm trí Phương Định chỉ còn
băn khoăn việc “liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm cách nào để
châm mìn lần thứ hai”. Cô không ngần ngại hi sinh; cái công việc khủng khiếp
bóp nghẹt trái tim này đâu chỉ diễn ra hôm nay, những nguy hiểm không
kể xiết ấy diễn ra từng ngày, trở thành một điều quen thuộc.: “Quen rồi. Một
ngày chúng tôi phá bom đến năm lần”. Cô chỉ sợ đường không thông, không
hoàn thành nhiệm vụ. Rồi khi bom nổ - một thứ tiếng kì quái váng óc - ngực
nhói, mắt cay, cô vẫn phủi áo và chạy xuống ngay nơi nổ.
- Trong truyện, có lẽ đây là đoạn xuất sắc nhất; tâm lí nhân vật được miêu tả vô
cùng chi tiết. Khi cái chết im lìm và đáng sợ kề bên, mọi cảm giác của Phương
Định đều trở nên sắc nhọn. Chính sự khốc liệt của chiến trường đã tôi luyện
tâm hồn vốn nhạy cảm của một nữ sinh thành bản lĩnh của người thanh niên
xung phong kiên cường, bất khuất.
=> Cảm xúc và suy nghĩ chân thực của cô đã truyền sang cho người đọc nỗi
niềm đồng cảm yêu mến và sự kính phục. Một cô nữ sinh nhỏ bé, hồn nhiên,
giàu mơ mộng và nhạy cảm mà cũng thật anh hùng, thật xứng đáng với những
kì tích khắc ghi trên những tuyến đường Trường Sơn bi tráng. Một ngày trong
những năm tháng Trường Sơn của cô là như vậy! Những trang lịch sử Trường
Sơn không thể quên ghi một ngày như thế!
3. Nhận xét, đánh giá về nội dung và nghệ thuật:
- Có thể nói, gan dạ, dũng cảm là nét nổi bật trong phẩm chất của Phương Định,
của biết bao người con gái, người con trai khi đến với chiến trường ác liệt, tham
gia vào việc chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc.
- Người đọc yêu mến cô còn bởi lí tưởng sống cao đẹp, tình đồng đội gắn bó,
tâm hồn trong sáng giàu mơ mộng. Với tất cả những phẩm chất đáng quí đó, cô
và những người đồng đội của mình thực sự là “những ngôi sao xa xôi” toả sáng
trong trái tim độc giả, trong suy nghĩ của biết bao thế hệ con người Việt Nam
hôm qua, hôm nay và mãi mãi mai sau.
- Thành công nghệ thuật của tác giả Lê Minh Khuê khi xây dựng nhân vật: ngôi
kể thứ nhất, Phương Định là nhân vật chính cũng là người kể chuyện; giọng
điệu nữ tính; xây dựng nhân vật vừa có nét tương đồng lại có những cá tính
riêng.
HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ
- Học thuộc (ghi nhớ sgk – trang 68.
- Hoàn thiện các bài tập.
- Chuẩn bị bài : Luyện tập nghị luận về tác phẩm
truyện
 









Các ý kiến mới nhất