Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

môn Mỹ thuật

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thùy Lan
Ngày gửi: 21h:27' 16-04-2020
Dung lượng: 9.9 MB
Số lượt tải: 53
Số lượt thích: 0 người
CHÀO MỪNG THẦY GIÁO VÀ CÁC BẠN ĐẾN VÓI PHẦN THUYẾT TRÌNH MÔN MỸ THUẬT VÀ THƯỜNG THỨC MỸ THUẬT CỦA NHÓM 2 !
Nhóm 2 gồm 11 thành viên:
Nguyễn Thị Thùy Lan
Ngô Nguyễn Diệu Huyền
Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Vũ Thị Liễu
Nguyễn Thị Hường
Giáp Thị Vân Anh
Nguyễn Thị Ngọc Anh
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Vi Thị Linh
Phạm Thị Hiền
Đỗ Thị Minh Anh

A, SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MỸ THUẬT VIỆT NAM
PHẦN I: NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH THỜI TIỀN SỬ VÀ THỜI CÁC VUA HÙNG
1) Nghệ thuật tạo hình nước ta trong thời kì nguyên thủy: không có nhiều, nhất là trong thời kỳ đồ đá cũ. Những di chỉ còn lại ở núi Đọ, Trung Đội, Yên Lương không có giá trị gì nhiều về mặt mỹ thuật.Vào thời kỳ đồ đá giữa và đồ đá mới, công cụ đã bắt đầu có tính chuyên môn hơn, và bắt đầu thể hiện sự ý thức về mỹ thuật.như văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn. Có những công cụ tiếp tục phát triển hình thức tới thời đại đồ đồng ( như lưỡi rìu có vai, lưỡi rìu xéo). Có những hình dáng vò, vại, chum, nồi đã được tạo hình hợp lý và tồn tại tới ngày nay không thay đổi gì lớn. Cách đan khuôn trước, trát đất rồi đem nung để làm đồ gốm tạo một gợi ý về những hoa văn trang trí sau này. Cuối thời đồ đá mới hoa văn trang trí đã phong phú, làm nền tảng cho trang trí về sau.
2) Thời kì Văn Lang:
Khoảng 3.000 năm trước công nguyên, nhà nước Văn Lang ra đời từ sự thống nhất của những bộ tộc bản địa và những bộ tộc người Việt di chuyển từ phương Bắc xuống. Đây là được gọi là thời đại các vua Hùng, thời kỳ dựng nước. Cách gọi này để chỉ giai đoạn lịch sử có các nền văn hóa từ văn hóa Phùng Nguyên(hậu kỳ đồ đá mới), Đồng Đậu, Gò Mun đến nền văn hóa Đông Sơn, thời đại đồng thau, mà trong thời kì này, nổi bật lên là sự kiện Hùng vương tạo dựng nước Au Lạc, đoàn kết các bộ tộc thành những người “ đồng bào” như sự tích trăm trứng biểu hiện.
3) Giai đoạn Phùng Nguyên:
Trong thời gian này dân tộc ta đã biết sử dụng đồng luyện kim làm công cụ như dấu vết ở Thượng Nung (Gò Bông) chứng tỏ. Đồ gốm và đồ đá mài đã trở nên tinh vi và độc đáo, chứng tỏ tính “ Bản địa” của nền văn hóa này. Những công cụ được chế khéoléo hơn, nhất là những đồ trang sức đã trở nên rất thanh nhã, chứng tỏ trình độ điêu luyện, óc thẩm mỹ của dân ta trong thời kỳ này. Đồ gốm với nhiều hoa văn phong phú sẽ là nền tảng cho sự phát triển liên tục đến thời Đông Sơn. Luật lặp lại, đối xứng và xen kẽ đã xuất hiện trong các hoa văn thời kì này.Những di vật này chứng minh nguồn gốc dân tộc của nền văn hóa nước ta.
4) Giai đoạn Đồng Đậu,Đồng thau : đã được phát hiện lần đầu tiên trong giai đoạn này. Tuy vậy, hiện vật chủ yếu được tìm thấy là đồ đá tinhxảo và đồ gốm với nhiệt độ nung cao hơn, do vậy, nhiều màu sắc phong phú hơn. Loại hoa văn “khuôn nhạc” (có lẽ dùng một dụng cụ hình răng lược ấn vào vật dụng chưa nung) tạo nên sự đặc sắc, khác biệt với thời Phùng Nguyên. Ơ Đồng Đền, Từ Sơn, hiện vật tìmthấy nhiều chủng loại dụng cụ đồng thau có hình dáng rất hợp lý.Giai đoạn Gò MunKỹ thuật đúc đồng đã trở nên phổ biến với trình độ cao. Đồ gốm có nhiệt độ nung cao hơn nên rắn chắc hơn.Điểm đặc biệt là thị hiếu thẩm mỹ của con người của giai đoạn Gò Mun. Những hoa văn trang trí trở nên đơn giản hơn với tính trừu tượng cao hơn, chứng tỏ khả năng khái quát hóa cao hơn trong thị hiếu thẩm mỹ của thời đại này. Chúng sẽ được phát triển cao hơn ở giai đoạn Đông Sơn. Có thể nói Đồng Đậu là giai đoạn nền tảng cho sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đông Sơn.
5) Giai đoạn Đông Sơn:
Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật dân tộc trong thời kỳ dựng nước, đến nỗi nhiều học giả nước ngoài, với tính kỳ thị dân tộc, đã cho rằng những hiện vật của thời kỳ này thuộc một nền văn hóa ngoại lai. Sau khi phát hiện các giai đoạn phát triển liên tục, có qui luật từ văn hóa Phùng Nguyên, trải dài qua văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun, chúng ta đã có bằng chứng không thể chối cãi về nguồn gốc dân tộc của nền văn hóa này. Chỉ đến cuối giai đoạn này, một số yếu tố ngoại lai như những đường nét cách điệu cao, mất tính hiện thực mới xuất hiện.Đồ đá đến giai đoạn này chủ yếu chỉ đóng vai trò làm trang sức. Đồ gốm cũng không tinh xảo như trong những giai đoạn trước. Tất cả tinh hoanghệ thuật của dân tộc ta dường như dồn hết cho những chế tác bằng đồng thau, biến chúng thành những sản phẩm tuyệt vời, mang lại vinh dự cho nền nghệ thuật dân tộc
Những công cụ sản xuất nông nghiệp trở nên nhiều kiểu dáng, có lẽ để thích hợp với nhiều vùng đất khác nhau như các loại lưỡi cày, mai, lưỡi hái... Công cụ thủ công cũng trở nên tinh xảo hơn. Nhưng có lẽ đáng lưu ý nhất là các loại vũ khí bằng đồng, chứng tỏ mối quan tâm của dân tộc ta vào thời kỳ dựng nước. Nhiều loại vũ khí trở nên một tác phẩm nghệ thuật, mang đầy sắc thái dân tộc với sự độc đáo của nó. Nhất là loại rìu lưỡi xéo mà hình dáng đã xuất hiện từ giai đoạn Phùng Nguyên, đến nay đã trở nên hoàn thiện. Chúng được trang trí bằng những họa tiết đẹp, hình dáng cân xứng, tiện lợi. Ngoàira các cán dao găm cũng được trang trí bằng những hình tượng người, động vật, có thể làm tư liệu cho chúng ta ngày nay về cách trang phục của người xưa và thị hiếu thẩm mỹ của họ. Số lượng lớn những mũi tên, mũi lao đồng ở Cổ Loa cũng minh chứng cho truyền thuyết nỏ thần của An Dương Vương là dựa trên sự thật
Đồ trang sức bằng đồng thời Đông Sơn là sự phát triển kiểu dáng của trang sức bằng đá của những thời kỳ trước. Loại hình mới mẻ là những tượng nhỏ bằng đồng như người cõng nhau, người quì dưới chân đèn,... hình những con thú gần gũi với đời sống con người.Trống đồng là hiện vật được tìm thấy nhiều ở nước ta. Đẹp nhất là những trống đồng Ngọc Lũ, Khai Hóa, Hoàng Hạ, sông Đà. Hình dáng chung của trống đồng Đông Sơn giống như nồi gốm thời Gò Mun, và khá giống với nồi đồng hiện nay úp ngược lại. Phải chăng trống đồng ra đời do sự gợi ý của cái nồi bởi sự cộng hưởng âm thanh của nó? Những họa tiết trên trống thể hiện thế giới quan của người xưa, với những cảnh sinh họat, đám rước, những loại chim mà chúng tacoi như vật tổ của ông cha. Gần đây có những giả thiết cho rằng những vòng tròn trên trống thể hiện bộ lịch cổ theo mặt trời của dân tộc ta. Trống đồng thời Đông Sơn còn được phát triển đến mãi sau này tới thời Trần vẫn còn được nhắc đến như một nhạc cụ dùng trong lễ hội và trận mạc.
Những họa tiết trên trống đồng còn giúp chúng ta hiểu được phần nào trang phục, kiến trúc của người xưa. Nhà sàn với dáng mái hình mui thuyền rất phổ biến ở vùng Đông Nam Á, những đầu nóc uốn cong hình như tả những vật tổ mà hiện nay vẫn còn thấy ở mái nhà các dân tộc thiểu số. Có người cho rằng loại mái này do chiếc thuyền hoặc chiếc thuyền lật úp, phương tiện vận chuyển chủ yếu của cư dân vùng Đông Nam Á gợi ý.Nhưng kiến trúc quan trọng nhất vẫn tồn tại tới ngày nay là thànhCổ Loa. Đây là một kiến trúc hết sức độc đáo với sự kết hợp tài tình của nó với địa hình thiên nhiên, tạo nên một công trình quân sự rất hiệu quả. Cổ Loa cùng với nỏ liên châu của Cao Lỗ trở nên hai lợi khí quan trọng trong việc bảo vệ đất nước, và được thần thánh hóa trong huyền thoại An Dương Vuơng.
Phần II: THỜI KỲ BẮC THUỘC
Triệu Đà dùng mưu cướp nước ta, mở ra một thời kỳ dài gần 10 thế kỷ dân ta sống dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Một thời gian quá dài đủ để nhiều dân tộc bị đồng hóa hoàntoàn. Nhưng ngược lại, dân tộc ta vẫn không ngừng phản kháng, vùng lên dành độc lập, bảo vệ nền văn hóa của tổ tiên. “Đánh cho dài tóc, đen răng...” là một trong những mục tiêu của các cuộc khởi nghĩa. Cuộc chiến đấu để dành lại tổ quốc, bảo vệ bản sắc dântộc ấy là cuộc chiến đấu không cân sức, nhưng với nền văn hóa sâu sắc, hình thành theo chiều dài lịch sử, ông cha ta đã chiến thắng, dù biết bao thế hệ phải trải qua bao hy sinh lớn lao. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, không những ông cha không đánh mất bảnsắc dân tộc mà còn tiếp thu những tinh hoa văn hóa của chính kẻ thù, làm giàu cho bản sắc dân tộc.Tất nhiên với sự thống trị của phong kiến phương Bắc, văn hóa Việt Nam không thể phát triển được. Đây có lẽ là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam, kể cả về chính trị cũng như sự phát triển văn hóa.
Những kiến trúc của dân tộc ta thời kì này không có gì đáng kể trừ những kiến trúc quân sự như thành Hạ Lôi, thành Vạn An, thành Rền, thành Đại La... bởi vì kiến trúc dân sự không thể có những công trình đồsộ, có giá trị do sự qui định, áp đặt từ bọn thống trị phương Bắc.Trong khi đó, những sản phẩm mỹ thuật tuy không còn nhiều do thời gian, sự tàn phá vơ vét của phong kiến phương Bắc... cũng phần nào nói lên khả năng sáng tạo, khiếu thẩm mỹ của nhân dân ta thời đó. Những tháp Bát Vận, những đồ tùy tángtheo phong cách Đông Sơn, những đồ mỹ nghệ tinh xảo, sành tráng men, ... đặc biệt là nghề khảm xà cừ thể hiện trình độ mỹ thuật của nghệ nhân nước ta. Rất nhiều sản vật bị cống nạp sang Trung Quốc, một nước nổi tiếng có nền mỹ thuật tinh xảo.
Phần III: ĐỘC LẬP TỰ CHỦ TRONG CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
Tạm chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn Đầu: từ khi ngô Quyền giành lại độc lập từ Nam hán đến khi kết thúc thời Tền Lê.
Giai đoạn hai: Từ nhà lý đến cuối thời nhà Hậu Lê.
Giai đoạn ba: Từ thời nhà Nguyễn.
=> Ba giai đoạn này cũng trùng khớp với sự hưng vong của chế độ phong kiến nước ta, với sự hình thành phát triển và suy tàn của nó.
1.Giai đoạn đầu từ khi Ngô Quyền dành lại độc lập từ Nam Hán đến khi kết thúc giai đoạn Tiền Lê
- Như đã nói ở trên, giai đoạn này bắt đầu từ khi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở đầu một giai đoạn bền vững, lâu dài hàng nghìn năm của sự phát triển của dân tộc. Với tinh thần tự hào dân tộc, những giá trị văn hóa Việt Nam bắt đầu được khôi phục, tạo điều kiện cho những giai đoạn phát triển sau nay. Tuy vậy, với thời gian ở ngôi không lâu, ảnh hưởng của nghệ thuật phương Bắc còn nhiều, triều đại của Ngô Quyền chưa làm được gì nhiều cho nền nghệ thuật dân tộc.
- Sau đó, loạn 12 sứ quân chỉ để lại những di tích manh mún của một vài công trình quân sự. Đinh Tiên Hoàng đã bước đầu xây dựng kinh đô ở Hoa Lư,từ đó, cùng với sự ổn định về chính trị của chính quyền phong kiến, nghệ thuật mới có điều kiện định hình.











Cố đô Hoa Lư
Chỉ đến khi vua Lê Đại Hành lên ngôi, cùng với thời gian, nền nghệ thuật dân tộc mới phục hồi, cộng thêm ảnh hưởng mới lạ của nghệ thuật Chăm Pa do những cuộc chinh phục của Vua về phương Nam đem lại, nền văn hóa Việt Nam mới có những bước tiến đáng kể.
- Ngày nay chúng ta còn biết đến những dấu tích của những tòa thành nhỏ của thời 12 sứ quân như thành Quèn, Hồ Đỗ, Bạch Hạc, Độc Nhĩ… nhưng chúng không thể so sánh với công trình thành Hoa Lư, kinh đô của 2 triều vua Đinh Bộ Lĩnh và Lê Đại Hành. Thành này mang một đặc điểm quan trọng của các tòa thành Việt Nam có từ thời xây thành Cổ Loa là không vuông vức khống chế không gian như những tòa thành phương Bắc, mà luôn dựa vào địa thế núi
non để dễ phòng thủ, tấn công, vừa đỡ tốn công xây đắp.
Một số di tích cho thấy ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm Pa với kiến trúc và điêu khắc. Đặc biệt hơn cả, di tích còn lại của chùa Nhất Trụ có thể là tiền thân cho chùa Một Cột thời Lý ở Thăng Long, một công trình Phật giáo độc đáo của Việt Nam.
- Nghệ thuật tạo hình cũng chịu số phận như những công trình kiến trúc, đến nay không còn gì nhiều. Nhưng những gì còn sót lại cho ta thấy nghệ nhân thời đó đã biết sáng tạo những những hoa văn trang trí hướng tâm, những loại họa tiết đan xen tạo thế vững vàng về bố cục mà vẫn thoải mái bay bướm,chứng tỏ tay nghề, trình độ mỹ thuật khá cao.
- Một số di vật ở Hà Nội thời nhà Lý vẫn còn mang dấu ấn của thời kỳ này, cùng với kiến trúc chùa Một Cột cho ta thấy sự sự phát triển của nghệ thuật dân tộc ta luôn theo một dòng chảy thống nhất, trên cơ sở một nền văn hóa có bản lĩnh, có thể có tiếp thu văn hoá bên
ngoài, nhưng không vì thế mà làm lu mờ bản sắc dân tộc, nhất là khi có nền độc
lập tự chủ, với ý thức tự cường của nhân dân ta.

2.Giai đoạn thứ 2: Lý - Trần - Hồ - Lê
- Trong giai đoạn này, ta thấy một sự phát triển rực rỡ nhất, thời hoàng kim của nền nghệ thuật dân tộc, đồng thời là những mầm mống của sự suy tàn của nó, khi mà chế độ phong kiến bộc lộ sự lỗi thời phản động của nó. Có thể nói giai đoạn lịch sử này thể hiện hết sự thịnh vong của cả một chế độ chính trị, tồn tại suốt chiều dài của cả 1 thiên niên kỷ, đồng thời nó cũng cho chúng ta thấy nghệ thuật luôn luôn gắn liền số phận của nó với chính trị, gắn liền với sự tồn
vong của dân tộc
+ Lý - Trần – Hồ, 3 triều đại nối tiếp nhau là thời kỳ hoàng kim của nền nghệ thuật Việt Nam, trong đó nghệ thuật tạo hình. Đây là những triều đại tiếp thu di sản của những thời kì trước, nền kinh tế được phát triển trên cơ sở một chế độ chính trị thích hợp với trình độ của thời kỳ đó.
Nó khác hẳn với kiến trúc thành Hoa Lư, nơi mà tính chất quân sự còn được đưa lên hàng đầu.Thành nội với trung tâm là điện Càn Nguyên, các điện Tập Hiền, Giảng Vũ, điện Long An, Long Thụy, điện Cao Minh, Nhật quang, Nguyệt Minh vây quanh cùng các cung Nghênh Xuân, Thúy Hoa, Long Thụy. Thành ngoại là 36 phố phường,
nơi tập trung những phường hội, chợ búa, chùa chiền, hành cung của Vua, dinh thự của quan lại, nhà ở của phú thương… sông Tô Lịch và Kim Ngưu chảy quanh vừa là tuyến giao thông vừa là hào thiên nhiên bao quanh bảo vệ kinh thành.
- Do kiến trúc chủ yếu bằng gỗ, những họa tiết được tập trung ở dàn khung nhà (câu đầu, thượng lương, xà nách…) , cửa võng, những bức tường cơ động theo kiểu ván long, lá gió.
- Cùng với đặc điểm thể hiện trong kiến trúc thành quách, kiến trúc đình chùa Việt Nam cũng thường hòa hợp với thiên nhiên, làm đẹp thêm thắng cảnh.Lịch sử sách vở còn ghi lại những danh thắng như vậy như chùa Thắng Nghiêm,Diên Hựu, Báo Thiên, Phật Tích, Quang Nghiêm, Siêu Loại… chúng đều là những tác phẩm nghệ thuật với sự hài hòa cùng khung cảnh và sự trang trí lộng lẫy phía bên trong. Nó đã là nơi qui tụ của khách thập phương viếng cảnh, là nơi tập trung dân chúng trong những dịp lễ hội, góp phần tạo nên nét đặc sắc trong phong cách sống của người Việt Nam.
Trong những chùa nổi tiếng, chúng ta có thể kể đến chùa Một Cột với lối kiến trúc độc đáo, vừa thể hiện hết nội dung, vừa mang một sắc thái thơ mộng.Nó có thể đựoc gợi ý từ cấu trúc của chùa Nhất Trụ thời Lê Đại Hành
Chùa Một Cột
2.tượng A di đà ở chùa Phật tích
Tượng La Hán
Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời tuy nằm ngoài mưu đồ của Pháp vẫn đào tạo được các nghệ sỹ có tên tuổi như Cao Đàm, Nguyễn cao Trí,Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh,Trần văn Cẩn,Phạm Hậu… Sơn dầu, một chất liệu với nhiều khả năng tạo hình được du nhập vào nước ta, và dần mang sắc thái Việt Nam. Sơn mài được khai thác như những sản vật mỹ nghệ, được các nghệ sỹ Việt Nam sáng tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Kỹ thuật hình họa đã mang cho tranh lụa truyền thống một sắc thái mới.
Khắc gỗ dân gian được truyền thêm phong cách duyên dáng, trau chuốt và hiện đại. Những hội nghệ sỹ, những triển lãm ra đời tuy với ý đồ kiểm soát nghệ sỹ của thực dân, nhưng cũng góp phần tạo điều kiện gây phong trào sáng tác, môi trường trao đổi kiến thức giữa các nghệ sỹ.
Tác giả Tô Ngọc Vân
PHẦN IV: THỜI KÌ PHÁP THUỘC
Với tinh thần phấn khởi, tự hào khi dân tộc dành được độc lập sau 82
năm nô lệ , nghệ sỹ Việt Nam cùng toàn dân bước vào xây dựng nền nghệ thuật của một nước Việt Nam tự do, tiến bộ. Tinh thần ấy được biểu lộ trong triển lãm mỹ thuật đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tháng 12 năm 1956.
Nhưng thực dân Pháp lại cướp nước ta một lần nữa. Nghệ sỹ Việt Nam
yêu nước lại cùng dân tộc bước vào cuộc kháng chiến vĩ đại. Nhiều người đã trực tiếp cầm súng lập công như Nguyễn Cao Thương, nhiều người tiếp tục sáng tác, phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, như Lương Xuân Nhị, Nguyễn Sáng, Huỳnh Văn Gấm, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tỵ, Huỳnh Văn Thuận, Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Luyện, Hoàng Như Tiếp… trong số đó không ít người đã hi sinh.
- Cuộc kháng chiến đã đào luyện tư tưởng, thay đổi quan điểm mỹ học cho giới làm nghệ thuật. Đảng, Bác và Nhà nước luôn quan tâm, hướng dẫn về tư tưởng, tạo điều kiện vật chất để giới nghệ sỹ sáng tác dù điều kiện rất gian khổ.Vì vậy, nghệ sỹ yêu nước rất hăng hái, tích cực phục vụ kháng chiến bằng tất cả tâm huyết của mình. Ngoài những đóng góp lớn lao trong việc phục vụ kháng chiến bằng công tác tuyên truyền, bằng những cuộc triển lãm có cả những tác phẩm dài hơi bằng chất liệu khó như sơn mài, sơn dầu, bằng những công trình kiến trúc bằng vật liệu tre nứa như hội trường Hội nghị Thống nhật Việt Minh, họ đã đưa nghệ thuật vào quần chúng, và còn đào tạo một lớp nghệ sĩ trẻ, bằng những xưởng họa, và nhất là trường Mỹ thuật Việt Bắc do Hiệu trưởng Tô Ngọc Vân lãnh đạo.
 - Những học viên ấy đã phục vụ kháng chiến ngay từ khi học tâp,
đúng theo phương châm: “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” trong tinh thần “ cách mạng hóa tư tưởng, quấn chúng hóa sinh hoạt” của Bác Hồ. Sau này, họ đã cùng những bậc thầy của mình góp phần tạo nền móng cho nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại.



 
PHẦN V: THỜI KÌ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC, KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Sau khi ra khỏi cuộc kháng chiến gian khổ, nghệ thuật tạo hình Việt Nam
lại cùng dân tộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giải phóng đất nước, thống nhất đất nước.
Những cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc ở miền Bắc ngay từ năm 1945 đã thực sự là cuộc biểu dương lực lượng của giới nghệ sỹ tạo hình trong công cuộc phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc. Qua chúng, người ta có thể dễ dàng thấy sự lớn mạnh của phong trào làm nghệ thuật. Số lượng tác giả ngày càng nhiều, đề tài ngày càng phong phú, kỹ thuật, chất liệu ngày càng được nâng cao. Điều đó có được là do của Đảng, Nhà nước ý thức rất rõ vai trò của nghệ thuật với đời sống tinh thần của nhân dân, với cách mạng. Điều đó được thể hiện bằng sự quan tâm bằng tinh thần và vật chất với nghệ thuật.
Kiến trúc của ta đã thực sự tạo nên một bộ mặt môi trường sinh hoạt của đất nước ta trong thời kỳ xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa. Rất nhiều công trình được xây lên phục vụ cho kinh tế, xã hội. Nhưng với tốc độ phát triển quá nhanh, lại xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu, không có nhiều công trình lớn, vốn liếng eo hẹp, kiến trúc nước ta chưa có nhiều công trình đẹp, đậm phong cách Việt nam. Không phải không có những biểu hiện èo uột, thậm chí phản động trong nghệ thuật. Nhưng với bản lĩnh chính trị vững vàng, với phẩm chất nghệ sỹ cao, giới nghệ sỹ yêu nước đã đấu tranh quyết liệt, bảo vệ cho sự trong sáng của nền nghệ thuật dân tộc.
Nghệ thuật tạo hình ở miền Nam trong vùng tạm chiếm nhìn chung trở nên yếu ớt, lai căng do chế độ nô dịch về chính trị và văn hóa của Mỹ và tay sai. Những trào lưu sống như Hiện sinh, Híp py, Hư vô chủ nghĩa, những phong cách nghệ thuật “mới” được đưa vào một cách ồ ạt. Và nó tỏ ra thích hợp với những tâm hồn trốn tránh thực tế. Một số họa sĩ bị sa vào “ đám mây mù tư tưởng” đó. Họ trốn tránh hiện thực, thậm chí trốn tránh cả cơ bản tạo hình bằng luận thuyết: “ tâm hồn của nghệ sỹ là tất cả, anh ta đứng trên tất cả”. Kết quả là một số lượng tranh lớn không có chất lượng cao, những tượng đài không thể làm vinh dự cho bất cứ điêu khắc gia nào được làm nên trong thời gian này.
Tất nhiên không thể thiếu được những tâm hồn có tâm huyết, những họa sỹ thực sự có tay nghề, tuy nhiên số này không đủ nhiều để tạo nên bộ mặt nghệ thuật tạo hình sáng sủa hơn.
Trong khi đó, kiến trúc thị thành miền Nam có những bước tiến đáng kể. Tiếp thu khoa học hiện đại, vốn đầu tư thích đáng, những villa, những building, những chùa chiền đẹp được xây dựng. Tất nhiên đấy là nói về trình độ xây dựng chứ không thể nói môi trường kiến trúc trong đời sống. Bởi chúng không che lấp nổi những kiểu kiến trúc lai căng, khu nhà ổ chuột trên kinh Thị Nghè, rạch Bến Nghé… và những đường phố vắng bóng cây xanh.
Trong vùng Giải phóng, những nghệ sỹ từng tham gia kháng chiến chống Pháp như Lê Hồng Hải, Huỳnh Phương Đông, Lê Lam, … cùng những họa sỹ yêu nước rời vùng tạm chiếm tham gia kháng chiến như Cổ Tấn Long Châu Trang Phượng, Nguyễn Văn Kính…lại tiếp tục truyền thống kháng chiến của mỹ thuật Việt Nam thời chống Pháp. Họ lại lăn lộn trong gian khổ để cổ vũ cuộc chiến đấu của nhân dân. Cũng thành lập trường Mỹ thuật Giải phóng để tạo những hạt giống cho Mỹ thuật sau này. Những tác phẩm của họ tuy không đồ sộ về khuôn khổ, đơn giản về chất liệu nhưng nêu bật được không khí sôi sục cuộc kháng chiến với đầy chất hiện thực, tính anh hùng ca. Chúng được giới nghệ sỹ và nhân dân miền Bắc trân trọng, khâm phục không chỉ vì tinh thần dũng cảm của những nghệ sỹ làm việc đối mặt với cái chết và gian khổ, mà bằng cả trình độ nghệ thuật khá cao.
Tuy vậy, sự giao lưu với nước ngoài cũng phần nào làm hoang mang
những nghệ sỹ thiếu bản lĩnh. Thêm vào đó, trong một thời gian dài nền kinh tế tụt hậu đi vào khủng hoảng, làm mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, làm khó khăn cho việc phát triển nghệ thuật trên cơ sở lòng tin của nghệ sỹ vào chính thể, vào cách mạng, làm tăng thêm sự hướng ngoại, dễ dàng tiếp thu không chọn lọc những khuynh hướng nước ngoài, kể cả những khuynh hướng không thích hợp.
Phần VI:
MỸ THUẬT SAU KHI DÀNH ĐỘC LẬP, ĐẤU TRANH THỐNG NHẤTĐẤT NƯỚC VÀ HIỆN NAY.

Giai đoạn này có thể chia ra thành 3 thời kỳ lớn: thời kì chống Pháp, thời
kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ và thời kì hiện nay.Thời kỳ chống Pháp Với tinh thần phấn khởi, tự hào khi dân tộc dành được độc lập sau 82 năm nô lệ , nghệ sỹ Việt Nam cùng toàn dân bước vào xây dựng nền nghệ thuật của một nước Việt Nam tự do, tiến bộ. Tinh thần ấy được biểu lộ trong triển lãm mỹ thuật đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tháng 12 năm
1956.Nhưng thực dân Pháp lại cướp nước ta một lần nữa. Nghệ sỹ Việt Nam yêu nước lại cùng dân tộc bước vào cuộc kháng chiến vĩ đại
Nhiều người đã trực tiếp cầm súng lập công như Nguyễn Cao Thương, nhiều người tiếp tục sáng tác, phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, như Lương Xuân Nhị, Nguyễn Sáng, Huỳnh Văn Gấm, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tỵ, Huỳnh Văn Thuận, Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Luyện, Hoàng Như Tiếp… trong số đó
không ít người đã hi sinh.
Cuộc kháng chiến đã đào luyện tư tưởng, thay đổi quan điểm mỹ học cho giới làm nghệ thuật. Đảng, Bác và Nhà nước luôn quan tâm, hướng dẫn về tư tưởng, tạo điều kiện vật chất để giới nghệ sỹ sáng tác dù điều kiện rất gian khổ.

Vì vậy, nghệ sỹ yêu nước rất hăng hái, tích cực phục vụ kháng chiến bằng tất cả tâm huyết của mình. Ngoài những đóng góp lớn lao trong việc phục vụ kháng chiến bằng công tác tuyên truyền, bằng những cuộc triển lãm có cả những tác phẩm dài hơi bằng chất liệu khó như sơn mài, sơn dầu, bằng những công trình kiến trúc bằng vật liệu tre nứa như hội trường Hội nghị Thống nhật Việt Minh, họ đã đưa nghệ thuật vào quần chúng, và còn đào tạo một lớp nghệ sĩ trẻ, bằng
những xưởng họa, và nhất là trường Mỹ thuật Việt Bắc do Hiệu trưởng Tô Ngọc
Tác phẩm của Trần Văn Cẩn
Tác phẩm Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ của nguyễn Sáng
Phần VII:
MỘT SỐ NỀN NGHỆ THUẬT CÁC DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
 Đất nước ta có rất nhiều dân tộc. Trong đó có những dân tộc có những
dân tộc có nền nghệ thuật độc đáo và đã từng phát triển rực rỡ. Điểm giống nhau của các dân tộc trên núi cao là loại kiến trúc nhà sàn. Với những dân tộc núi cao phía Bắc nhà cửa thường khang trang hơn vì cuộc sống của họ tương đối định cư hơn, trong khi đó đời sống du cư ở các dân tộc phía Nam tạo cho kiến trúc nhà sàn của họ thường đơn sơ hơn, trừ nhà Rông, nơi tập trung dân làng trong sinh hoạt cộng đồng. Nơi đây thường được được trang trí rất đẹp, mang nhiều bản sắc của từng dân tộc. Trang trí, và điêu khắc của các dân tộc này rất đặc sắc. Những tượng đầu cầu thang, tượng nhà mồ người Tây Nguyên,
những vật dụng được trang trí của người Mường, tranh thờ, thổ cẩm… của các dân tộc phía Bắc đều là những vật phẩm đẹp, độc đáo, mang bản sắc dân tộc của từng vùng, từng dân tộc.
 Phần cuối:
KẾT LUẬN.
Lướt qua lịch sử mỹ thuật Việt Nam từ thời tiền sử tới nay, ta thấy nền nghệ thuật tạo hình nước nhà nằm trong một nền văn hóa bản địa, có truyền thống, xuyên suốt theo dòng lịch sử trong một dòng chảy thống nhất. Có thịnh, lúc suy, nhưng không khi nào nghệ thuật Việt Nam mất đi bản sắc dân tộc của mình, kể cả trong những giai đoạn thử thách lớn lao nhất, thậm chí với âm mưu đồng hóa của nước ngoài. Cùng với bản sắc dân tộc đó, người Việt tồn tại, trở thành một giống nòi không thể khuất phục. Trong khi đó trên thế giới, không ít những dân tộc bị đồng hóa, bị mất đi vĩnh viễn với những trở ngại nhỏ hơn nhiều lần so với những trở ngại mà dân tộc ta phải đối mặt. Có thể thấy bản sắc dân tộc là cội nguồn cho sự tồn tại của một quốc gia, một giống nòi.
Những giai đoạn như văn hóa Đông Sơn, thời đại Lý Trần Hồ, hậu Lê là những lúc nền nghệ thuật phát triển, đậm đà bản sắc dân tộc nhất. Sự tồn tại, phát triển mạnh mẽ đó cũng tương hợp với những giai đoạn của nền độc lập được khẳng định lâu dài, tinh thần tự tôn dân tộc lên cao, nền kinh tế phát triển. Và nghệ thuật, đến luợt nó góp phần vào sự tồn tại và phát triển chung của dân tộc. Những lúc bị nô dịch, những vương triều tự ty với truyền thống, văn hóa Việt Nam dù không mất đi, vẫn âm ỷ trong lòng người Việt Nam yêu nước, thì vẫn không thể nào phát triển được. Điều đó cho ta thấy điều kiện cho một nền văn hóa chính ở lòng tự hào dân tộc. Một khi chúng ta đủ bản lĩnh, tự hào với truyền thống của mình, thì dù có thế lực bên ngoài lớn mạnh đến đâu, chúng ta cũng có thể đương đầu và vượt lên. Và biểu hiện của một nền văn hóa chính là nghệ thuật của nó. Một đất nước có nền nghệ thuật độc đáo, thấm sâu vào mọi tầng lớp nhân dân, trở thành máu thịt của nó thì đất nước đó trở thành bất diệt.
B, SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MỸ THUẬT THẾ GIỚI
Mĩ thuật là nét loại hình nghệ thuật xuất hiện đầu tiên trên thế giới. Mĩ thuật xuất hiện ngay từ khi con người có mặt trên trái đất. Nó ra  đời từ thời sơ khai, con người trong thời nguyên thuỷ, vẫn c̣òn ăn hang, ở lỗ, săn bắn và hái lượm. Lịch sử Mĩ thuật cùng với lịch sử thế giới trải qua các thời kì phát triển và các giai đoạn lắng đọng hay tàn lụi.
Mĩ thuật thời Nguyên Thuỷ
Mĩ thuật thời Ai Cập Cổ Đại
Mĩ thuật thời Hi Lạp Cổ Đại
Mĩ thuật thời La Mă Cổ Đại
Mĩ thuật thời Trung Đại
Mĩ thuật thời Phục Hưng
Mĩ thuật thời Cận Đại
Mĩ thuật thời Hiện Đại
1. Mỹ thuật thời nguyên thủy: mộc mạc như chính họ, giản dị, trong sáng, với niềm tin thuần khiết vào Thần.
Xã hội loài người thời nguyên thủy là chế độ thị tộc, mỗi thời kỳ có những đặc điểm riêng.
Khởi đầu là Thời Đồ Đá, gồm đồ Đá cũ, đồ Đá giữa, đồ Đá mới. Thời kỳ này nói chung con người biết tạo ra những công cụ từ giản đơn nhất, con người còn nhỏ bé, non nớt trước thiên nhiên, nhưng lại trong sáng, thuần khiết và tin vào Thần. Những dấu tích nghệ thuật bắt đầu xuất hiện.
Một trong những nghệ thuật đặc sắc nhất thời kỳ này là tranh hang động, những bức vẽ được thực hiện trong bóng tối của hang động.











Tranh trong hang Altamira, gần Santander, Tây Ban Nha. Ảnh: Rameessos 







Tranh tại hang Lascaux, 15.000 – 10.000 năm TCNTranh trong hang Lascaux
Tranh trong hang Lascaux
Thời Đồ Đồng: Xuất hiện chế độ chiếm hữu nô lệ, hình thành nhà nước có giai cấp như Ai Cập, Trung Hoa, Lưỡng Hà. Một chất liệu mới thâm nhập nhanh chóng là đồng và đồng thau. Nghệ thuật bắt đầu cũng phát triển mạnh mẽ dần đi đôi với tín ngưỡng và các hình thức tín ngưỡng.


Tranh chân dung bằng đồng

Trang sức bằng đồng
Chum đồng
Và tới thời Đồ Sắt: Sự xuất hiện của sắt, nói lên sự phát triển kỹ thuật và ngành luyện kim. Xã hội có sự phân hóa, sinh ra những cuộc chiến tranh. Tiêu biểu cho thời kỳ này là nền văn hóa Hansơtasơ (Áo), phát triển rộng đến vùng Trung và Nam Âu (thế kỷ 10 đến thế kỷ 5 TCN ) là kho tàng nghệ thuật ứng dụng.


                                                                                                                                                            Cốc bạc
Cốc bạc
Nghi lễ cho người chết
Lao động và cuộc sống
Trong đó kiệt xuất nhất là kiến trúc, còn các loại hình khác như hội họa, điêu khắc thì theo sát kiến trúc. Nhìn chung, đó là một nền nghệ thuật tổng hợp và hoàn chỉnh. Nghệ thuật Ai-cập có nét đặc thù rất riêng, khó lẫn lộn với các nền nghệ thuật khác.
Về hội họa và phù điêu, người Ai-cập có cái nhìn “mặt nghiêng hay chính diện” nét tạo hình rất độc đáo, khỏe và dứt khoát. Cách sử dụng màu sắc cũng đơn giản, chỉ vài màu cơ bản như trắng –nâu, vàng –đỏ nhưng rất nhịp điệu.
Trong điêu khắc, họ luôn phối hợp các khối vuông chắc, giản dị của hình kỹ hà. Các loại đồ gốm như bình, lọ bằng đất sét mang tính trang trí, chủ đề thường là phong tục chôn cất người chết, cảnh cúng lễ, làm ruộng hay bơi thuyền qua sông Nin.
Các công trình là Kim Tự Tháp, tượng chân dung để thờ người chết, các bích họa và chạm nổi, tất cả đều không sử dụng luật viễn cận, mà là phương pháp đồ họa không gian 3D.
Kim tự tháp và những điều bí ẩn để lại cho khoa học nhân loại
2/ MỸ THUẬT HY LẠP CỔ ĐẠI :
Thế giới cổ đại, là một khái niệm phức tạp theo tiếng la-tinh “Anticơ” nghĩa là (cổ xưa) được các nhà nhân văn Italia thời phục hưng gọi cho nền văn hóa Hy lạp. Đến khi, người ta phát hiện ra có những nền văn minh của phương Đông cổ đại cổ xưa hơn ca văn minh Hy lạp, thì khái niệm thuật ngữ cổ đại chỉ mang ý nghĩa tương đối. Một phần liên quan khác của thế giới cổ đại là các bộ lạc ở châu Âu, châu Á và châu Phi có giao hữu lâu đời với người Hylạp-Lamã về kinh tế và văn hóa. Lịch sử mỹ thuật của thế giới cổ đại chủ yếu được xây dựng trên nguồn tài liệu của các công trình khảo cổ.
Nghệ thuật hội họa, điêu khắc, mỹ nghệ của Hylạp cổ đại có những nét tiêu biểu, xuất phát từ nghệ thuật đảo Cretơ. Đối tượng là hình tượng các thần thánh và con người siêu phàm, được thể hiện hài hòa, tỷ lệ đẹp, khả năng diễn đạt hình khối và tỷ lệ đạt đến độ hoàn chỉnh tuyệt hảo. Phù điêu và trang trí mỹ nghệ,trong bố cục có cái đẹp của nhịp điệu. Các nghệ sĩ thường là kiến trúc sư kiêm điêu khắc gia và mỗi người có phong cách riêng, có những phong cách đến ngày nay vẫn còn sử dụng. Có thể kể như Mirông, Pôliclét, Prấcxiten, Xcôpaxơ, Lêôkharơ…
Kiến trúc cổ Hylạp có ba thức chính là: Thức Đô-ric, I-ô-nic và cô-ranh-tiên. Những loại phổ biến là đền thờ, lăng mộ và hí trường như : Đền Pác-tê-nông do kiến trúc sư Ít –tê-nốt cùng nhà điêu khắc Phi-đi-át khởi công từ năm 447 đến 432 /TCN. Lăng vua Mô-xô-lơ ở Ha-li-các-nát-sơ là một công trình lớn, đẹp được người thời cổ xếp vào bảy kỳ quan thế giới. Đáng tiếc ngày nay chỉ còn là một cảnh hoang tàn. Hí trường Hy lạp cũng được xây dựng vào thế kỷ IV/ TCN , phần nhiều các hí trường bị hủy hoại, riêng hí trường Ê-pi-đô-rơ do nhà kiến trúc kiêm điêu khắc Pô-ly-cơ-le-tơ xây dựng, nay còn tương đối tốt .
3/ MỸ THUẬT LA MÃ CỔ ĐẠI :
Tuy ảnh hưởng của Hy lạp trong nền nghệ thuật của La mã, nhưng những sáng tạo của La mã vẫn tồn tại đến ngày nay, nhất là về kiến trúc. Sự sáng chế ra xi-măng, dùng gạch nung và vữa giúp cho các công trình kiến trúc quy mô ,đồ sộ như cách thức xây vòng cung, vòm mui thuyền, nóc tròn.v.v..là những bước tiến lớn. Quy hoạch thành phố, chính là thành tích kiến trúc lớn của La mã, mà ngày nay nhiều nước chưa thể làm được. Ngoài ra, xây cầu máng dẫn nước hết sức vĩ đại, hoặc ở thủ đô thì có khải hoàn môn, trụ đá chạm để kỷ niệm sự kiện quan trọng của lịch sử như khải hoàn môn Công-stăng-tanh hay trụ kỷ niệm Tơ-ra-giăng. Sự phổ biến tượng đẹp của Hy lạp làm ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật của La mã, tuy nhiên vì quan niệm thẩm mỹ và tính chất dân tộc khác biệt nên điêu khắc La mã thiên về phù điêu hơn là tượng tròn, giỏi về chân dung hơn là tác phẩm hư cấu. Hy lạp mượn đề tài thần thoại để đề cao con người, còn La mã thì lấy đề tài lịch sử để đề cao giai cấp thống trị, về điêu khắc La mã là học trò nhỏ của Hy lạp .
4. MĨ THUẬT THỜI KÌ TRUNG ĐẠI
Giữa các thế kỷ của sự thống trị phương thức sản xuất chủ nô và thời kỳ của chủ nghĩa tư bản là các thế kỷ trung cổ, cũng là thời kỳ hình thành, phát triển và suy tàn của xã hội phong kiến. Thời kỳ nầy, văn hóa phát triển mạnh hơn thời cổ đại : Tây Âu, Byzantine, Iran, Ấn Độ, Trung Quốc… Tín ngưỡng (với nhiều đạo giáo khác nhau) chi phối con người khá mạnh ,Nó tác động rất lớn vào đời sống văn hóa và nghệ thuật, tạo ra một thứ văn hóa-nghệ thuật “nhà thờ” hay “nhà chùa”.
Từ thế kỷ IV đến thế kỷ V, trên mảnh đất Hy lạp cổ đại có một thủ đô mới là Constantinopolis, hình thành nghệ thuật Byzantine trong các khu vực của đế chế La Mã phương Đông. Hình thức mới nầy hiện rõ trong nghệ thuật kiến trúc với các quảng trường, tượng các đại đế, nhà tắm công cộng…Trong hội họa và điêu khắc là tranh ghép mảnh, nghệ thuật trang trí tường nhà. Về sau đến thế kỷ VI, nghệ thuật Icon công giáo ra đời và phát triển theo hai hướng: 

5/ MỸ THUẬT THỜI PHỤC HƯNG : 
Trong thời Phục hưng có những cái mới, xây dựng trên nền tảng khoa học, trên cơ sở nhận thức được cái đẹp từ thiên nhiên. Họ tìm ra những định luật, nghiên cứu kỹ về con người, và các phương pháp thể hiện mới có thể tóm tắt như sau : 
1. Tìm ra định luật của phép phối cảnh.
2. Quan tâm đến hình khối, sự cân đối của cơ thể con người. Trong khi tạo ra ngôn ngữ mới ấy, nghệ sĩ phục hưng dựa vào kinh nghiệm của các nghệ sĩ cổ đại, các ngành khoa học tự nhiên như quang học, hình học, giải p
 
Gửi ý kiến