Bài 22. Một số dịch vụ cơ bản của Internet

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: N X Quỳnh
Ngày gửi: 20h:45' 14-04-2008
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 60
Nguồn:
Người gửi: N X Quỳnh
Ngày gửi: 20h:45' 14-04-2008
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 60
Số lượt thích:
0 người
MỘT SỐ DỊCH VỤ CƠ BẢN CỦA INTERNET
Phần 1
Tổ chức và truy cập thông tin
TỔ CHỨC THÔNG TIN
Thông tin trên Internet thường được tổ chức dưới dạng siêu văn bản.
Siêu văn bản thường được tạo ra bằng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML hoặc XHTML.
Trên Internet, mỗi siêu văn bản được gán một địa chỉ truy cập tạo thành một trang web.
Website gồm một hoặc nhiều trang web trong hệ thống WWW được tổ chức dưới một địa chỉ truy cập.
Thiết kế trang web
Có thể dùng phần mềm soạn thảo văn bản như Microsoft Word để tạo 1 trang web đơn giản.
Tuy nhiên, hiện nay có nhiều phần mềm chuyên nghiệp hơn, cho phép thiết kế và quản lí các trang web, điển hình như Microsoft FrontPage, Netscape Navigator Gold, Netscape Communicator…
Có hai loại trang web:
Trang web tĩnh có nội dung không thay đổi
Trang web động cho phép tương tác giữa máy chủ và người dùng. Máy chủ sẽ thực hiện các yêu cầu của người dùng rồi hiển thị dưới dạng một trang văn bản mới.
Nhờ đó Internet có thể trở thành môi trường tốt để triển khai thương mại điện tử, dạy học điện tử, chính phủ điện tử…
Ví dụ: như bách khoa toàn thử mở wikipedia, cứ mỗi lần người dùng gõ vào khung tìm kiếm rồi gửi yêu cầu đến máy chủ thông qua trình duyệt, nội dung tìm thấy sẽ được hiển thị dưới 1 trang mới
TRUY CẬP WEB
Muốn truy cập đòi hỏi phải có một trình duyệt web (browser).
Trình duyệt web là chương trình giúp người dùng giao tiếp với hệ thống WWW, thông qua truy cập web, tương tác máy chủ và tiếp cận các tài nguyên khác.
Nhờ các liên kết, trình duyệt web có thể chuyển đổi giữa các trang web 1 cách dễ dàng và nhanh chóng.
Có nhiều trình duyệt web khác nhau, nhưng thông dụng nhất hiện nay là bộ ba Mozilla Firefox, Microsoft Internet Explorer, Opera và mới đây là các trình duyệt Maxthon, Browzar…
Đi kèm với tốc độ nhanh và giao diện đẹp là những yêu cầu cấu hình và tài nguyên hệ thống cao.
Opera
Firefox
Browzar
Maxthon
Internet
Explorer
Để truy cập một trang web cần biết địa chỉ trang web đó.
Gõ địa chỉ web vào thanh address của trình duyệt rồi bấm Enter, trình duyệt web sẽ hiển thị trang web nếu tìm thấy.
Thanh address
Phần 4
Vấn đề bảo mật thông tin
Quyền truy cập website
Có nhiều cách bảo vệ trang web:
Chỉ hiển thị nội dung trang web cho các thành viên đã đăng kí.
Bảo vệ trang web bằng mật khẩu.
“Ban” địa chỉ IP đối với các máy có lượt truy cập cao bất thường.
Ko cho view source, chọn văn bản, click chuột phải lên văn bản,..v.v..
Mã hoá dữ liệu
Mã hoá thông tin có thể nhằm mục đích bảo mật thông tin.
Việc mã hoá có thể được thực hiện cả bằng phần cứng và phần mềm.
Thông điệp được mã hoá là bản mã. Việc khôi phục thông điệp từ bản mã được gọi là giải mã. Muốn giải mã thì phải thông qua 1 số giao ước nhất định giữa người mã hoá thông tin và người giải mã thông tin.
Ví dụ, khi gửi các file doc quan trọng, người ta thường chọn các font chữ hiếm dùng hoặc tự tạo. Bằng cách này, trong quá trình gửi file nếu có bị đánh cắp dữ liệu thì kẻ đánh cắp cũng không biết phải sử dụng font chữ nào để hiển thị nội dung văn bản chưa bị mã hoá.
Nguy cơ nhiễm virus từ Internet
Máy tính có thể bị nhiễm virus hay spyware khi:
Truy cập các trang web không rõ nội dung.
Tải các tập tin từ trên mạng về.
Nhận mail có chứa virus.
Etc.
Để tự bảo vệ máy tính của mình, người dùng có thể sử dụng các phần chống virus. Do số virus xuất hiện ngày càng nhiều nên phải nâng cấp các chương trình này thường xuyên.
1 số phần mềm bảo vệ máy tính phổ biến như: Norton của Symantec, Kaspersky của Kaspersky Lab, AVG của Grysoft, Bit Defender của SOFTWIN,…. Ngoài ra trong HĐH Windows cũng có sẵn Windows Firewall.
Phần 1
Tổ chức và truy cập thông tin
TỔ CHỨC THÔNG TIN
Thông tin trên Internet thường được tổ chức dưới dạng siêu văn bản.
Siêu văn bản thường được tạo ra bằng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML hoặc XHTML.
Trên Internet, mỗi siêu văn bản được gán một địa chỉ truy cập tạo thành một trang web.
Website gồm một hoặc nhiều trang web trong hệ thống WWW được tổ chức dưới một địa chỉ truy cập.
Thiết kế trang web
Có thể dùng phần mềm soạn thảo văn bản như Microsoft Word để tạo 1 trang web đơn giản.
Tuy nhiên, hiện nay có nhiều phần mềm chuyên nghiệp hơn, cho phép thiết kế và quản lí các trang web, điển hình như Microsoft FrontPage, Netscape Navigator Gold, Netscape Communicator…
Có hai loại trang web:
Trang web tĩnh có nội dung không thay đổi
Trang web động cho phép tương tác giữa máy chủ và người dùng. Máy chủ sẽ thực hiện các yêu cầu của người dùng rồi hiển thị dưới dạng một trang văn bản mới.
Nhờ đó Internet có thể trở thành môi trường tốt để triển khai thương mại điện tử, dạy học điện tử, chính phủ điện tử…
Ví dụ: như bách khoa toàn thử mở wikipedia, cứ mỗi lần người dùng gõ vào khung tìm kiếm rồi gửi yêu cầu đến máy chủ thông qua trình duyệt, nội dung tìm thấy sẽ được hiển thị dưới 1 trang mới
TRUY CẬP WEB
Muốn truy cập đòi hỏi phải có một trình duyệt web (browser).
Trình duyệt web là chương trình giúp người dùng giao tiếp với hệ thống WWW, thông qua truy cập web, tương tác máy chủ và tiếp cận các tài nguyên khác.
Nhờ các liên kết, trình duyệt web có thể chuyển đổi giữa các trang web 1 cách dễ dàng và nhanh chóng.
Có nhiều trình duyệt web khác nhau, nhưng thông dụng nhất hiện nay là bộ ba Mozilla Firefox, Microsoft Internet Explorer, Opera và mới đây là các trình duyệt Maxthon, Browzar…
Đi kèm với tốc độ nhanh và giao diện đẹp là những yêu cầu cấu hình và tài nguyên hệ thống cao.
Opera
Firefox
Browzar
Maxthon
Internet
Explorer
Để truy cập một trang web cần biết địa chỉ trang web đó.
Gõ địa chỉ web vào thanh address của trình duyệt rồi bấm Enter, trình duyệt web sẽ hiển thị trang web nếu tìm thấy.
Thanh address
Phần 4
Vấn đề bảo mật thông tin
Quyền truy cập website
Có nhiều cách bảo vệ trang web:
Chỉ hiển thị nội dung trang web cho các thành viên đã đăng kí.
Bảo vệ trang web bằng mật khẩu.
“Ban” địa chỉ IP đối với các máy có lượt truy cập cao bất thường.
Ko cho view source, chọn văn bản, click chuột phải lên văn bản,..v.v..
Mã hoá dữ liệu
Mã hoá thông tin có thể nhằm mục đích bảo mật thông tin.
Việc mã hoá có thể được thực hiện cả bằng phần cứng và phần mềm.
Thông điệp được mã hoá là bản mã. Việc khôi phục thông điệp từ bản mã được gọi là giải mã. Muốn giải mã thì phải thông qua 1 số giao ước nhất định giữa người mã hoá thông tin và người giải mã thông tin.
Ví dụ, khi gửi các file doc quan trọng, người ta thường chọn các font chữ hiếm dùng hoặc tự tạo. Bằng cách này, trong quá trình gửi file nếu có bị đánh cắp dữ liệu thì kẻ đánh cắp cũng không biết phải sử dụng font chữ nào để hiển thị nội dung văn bản chưa bị mã hoá.
Nguy cơ nhiễm virus từ Internet
Máy tính có thể bị nhiễm virus hay spyware khi:
Truy cập các trang web không rõ nội dung.
Tải các tập tin từ trên mạng về.
Nhận mail có chứa virus.
Etc.
Để tự bảo vệ máy tính của mình, người dùng có thể sử dụng các phần chống virus. Do số virus xuất hiện ngày càng nhiều nên phải nâng cấp các chương trình này thường xuyên.
1 số phần mềm bảo vệ máy tính phổ biến như: Norton của Symantec, Kaspersky của Kaspersky Lab, AVG của Grysoft, Bit Defender của SOFTWIN,…. Ngoài ra trong HĐH Windows cũng có sẵn Windows Firewall.
 







Các ý kiến mới nhất