Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 13. Một số hệ điều hành thông dụng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngọc An (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:02' 02-12-2010
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 339
Số lượt thích: 0 người
Bài 13
Một số hệ điều hành thông dụng
GV: Trần Ngọc An
1. Hệ điều hành MS-DOS
Đơn giản, hiệu quả phù hợp với tình trạng thiết bị của máy tính cá nhân trong thập kỉ 80 của thế kỉ XX.
Là hệ điều hành của hãng Microsoft trang bị cho máy tính cá nhân IBM PC.
Là hệ điều hành đơn nhiệm, thực hiện thông qua hệ thống lệnh.
2. Hệ điều hành WINDOWS
Là hệ điều hành của hãng Microsoft với nhiều phiên bản khác nhau, song có một số đặc trưng chung:
Chế độ đa nhiệm.
Có hệ thống giao diện dựa trên cơ sở bảng chọn với biểu tượng kết hợp giữa đồ hoạ và văn bản giải thích.
Cung cấp nhiều công cụ xử lí đồ hoạ đa phương tiện, đảm bảo khai thác hiệu quả nhiều loại dữ liệu khác nhau như âm thanh, hình ảnh...
Đảm bảo các khả năng làm việc trong môi trường mạng.
1. 1985: Windows 1.0: 
Khi Windows 1.0 được ra mắt, nó không tạo được nhiều danh tiếng như những phiên bản sau đó, phiên bản này chỉ chiếm vị trí "thứ yếu" trong suốt lịch sử Windows. Windows 1.0 hoạt động trên nền MS-DOS 2.0, yêu cầu 256kb bộ nhớ và có thể chạy trên ổ cứng hoặc 2 đĩa mềm chạy cùng lúc.
Windows 1.0 lúc đó chứa khá nhiều phần mềm mà ngày nay vẫn còn được sử dụng như Notepad, Calendar và Paint. Windows 1.0 vẫn chưa cho phép các cửa sổ ứng dụng nằm chồng lên nhau mà tính năng này chỉ xuất hiện ở bản 2.0.
2. 1987: Windows 2.0
Windows 2.0 hỗ trợ nhiều tính năng mới nhưng cũng đồng thời nâng cao yêu cầu phần cứng. Người dùng Windows 2.0 phải có bộ nhớ 512kb và yêu cầu DOS 3.0. Phiên bản cập nhật cuối cùng của hệ điều hành này là 2.11 cũng đòi hỏi người dùng phải sử dụng ổ cứng, không cho dùng đĩa mềm.
Windows 2.0 bắt đầu xuất hiện nhiều phần mềm trên nền tảng Windows hơn thay vì DOS trước đó, chẳng hạn như Excel hay Word. Một số phần mềm từ các nhà phát triển cho máy Mac trước đó như PageMaker cũng được chuyển qua Windows. Windows 2.0 cũng là bản Windows bị Apple kiện vì công ty này cho rằng hệ điều hành của Microsoft vi phạm giao diện của họ. Vấn đề này chỉ được giải quyết 7 năm sau đó.

3. 1990: Windows 3.0: 
Windows 3.0 ra mắt vào năm 1990 và kẻ thừa kế 3.1 ra đời 2 năm sau đó là những hệ điều hành đầu tiên chứng tỏ Microsoft sẽ thống trị thế giới trong một thời gian dài.
Windows 3.0 cũng là lần đầu tiên các chương trình DOS có thể chạy đa nhiệm trên những cửa sổ riêng biệt có thể thay đổi kích thước được. Trước đó, DOS bắt buộc phải chạy ở chế độ toàn màn hình. Do hỗ trợ những tính năng đa phương tiện như ở CD-ROM mà yêu cầu RAM tối thiểu của phiên bản Windows 3.00a là 640kb và thêm 256kb bộ nhớ mở rộng nữa.
4. 1993: Windows NT3.1: 
Ra mắt vào tháng 7 năm 1993, Windows NT được xây dựng dành cho doanh nghiệp hơn là người dùng cuối, nó được chế tạo nằm nâng cao tính ổn định cũng như bảo mật tốt hơn. Windows NT 3.1 hỗ trợ 32 bit thay cho kiến trúc 16 bit trước đó. Tuy là bản đầu tiên của kiến trúc NT nhưng nó vẫn được đặt tên là 3.1 để phù hợp với các bản dành cho khách hàng cá nhân. Windows NT đòi hỏi CPU 80386, 12MB RAM (khuyến cáo 16MB) và ổ cứng có 90MB trống. Sau này thì Microsoft còn tiếp tục với 3 bản NT mới: NT3.5 vào năm 1994, NT 3.51 vào 1995 và 1996 là NT 4.0. Cuối cùng, chúng ta thấy NT chuyển thành Windows 2000.
5. 1995: Windows 95: 
Windows 95, ra mắt vào tháng 8 năm 1995 đã lần đầu tiên kết hợp Windows và DOS vào một thể duy nhất thay vì cài đặt Windows trên DOS trước đó. Đây cũng là bản Windows dành cho khách hàng gia đình đầu tiên hỗ trợ kiến trúc 32 bit, Windows 95 được xây dựng bởi cả những dòng lệnh 16bit và 32bit. Nó có rất nhiều cải tiến về giao diện đồ họa mà vẫn còn tồn tại đến ngày này, chẳng hạn như thanh taskbar và Start menu.
Windows 95 ổn định hơn các đàn anh đi trước rất nhiều, nó cũng là hệ điều hành Windows đầu tiên hỗ trợ tiêu chuẩn Plug and Play của Intel và cho phép đặt tên dài hơn 8 ký tự.Về yêu cầu tối thiểu, Windows 95 yêu cầu CPU 80836 DX, 4MB bộ nhớ RAM và ổ cứng 120MB. Tuy nhiên, để chạy mượt thì bạn nên có một bộ xử lý 80486 và 8MB RAM.

6. 1998: Windows 98: 
Windows 95 là một bước tiến lớn so với Windows 95 nhưng Windows 98 lại không thể làm được điều tương đương. Dù vậy, nó cũng có những thay đổi đáng ghi nhận nhất định, chẳng hạn như hỗ trợ tiêu chuẩn Winsock, (TCP/IP) trực tiếp trong hệ điều hành. thay vì cài đặt dưới dạng add-on. Đây cũng là lần đầu tiên Internet Explorer được tích hợp thành một phần của hệ điều hành, một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến việc Microsoft lâm vào vụ kiện chống độc quyền của bộ Tư Pháp Mỹ.
Windows 98 cũng hỗ trợ USB tốt hơn Windows 95. Hệ điều hành này ra mắt với 1 tính năng mới là Active Desktop cho phép truyền tải các tin trực tuyến về máy nhưng nó có quá nhiều lỗi nên đã bị gỡ bỏ trong bản sau. Windows 98 yêu cầu CPU 486DX2 66MHz và 16MB RAM (24MB khuyến cáo) cùng ổ cứng trống 500MB.

7. 2000: Windows 2000: 
Windows 2000, kẻ kế thừa NT4.0 được ra mắt vào tháng 2/2000 và cũng tập trung vào doanh nghiệp. Windows 2000 có rất nhiều phiên bản khác nhau, bổ sung tính năng của Windows 98 vào Windows 2000 như Internet Explorer và Plug and Play. Windows 2000 cũng hỗ trợ hệ thống mã hóa Encrypting File System và Active Directoty cho doanh nghiệp. Cấu hình yêu cầu của Windows 2000 tùy thuộc vào phiên bản máy chủ hay máy bàn (Windows 2000 Pro). Bản 2000 Pro đòi hỏi CPU Pentium 133MHz, 32MB RAM (khuyến cáo 64MB) và 2GB ổ cứng với 650MB trống.
8. 2000: Windows ME (Milennium Edition) 
Được ra mắt vào đầu thiên niên kỷ mới nhưng Windows ME là một trong những thất bại nặng nề nhất của Microsoft với hàng loạt lỗi, thiếu tính tương thích giữa phần cứng và phần mềm, khách hàng gặp trục trặc khi cài đặt.... Nhiều người cho rằng Windows ME không gì khác hơn là một chiêu bài marketing của Microsoft trong nỗ lực kiếm "một thứ gì đó" để bán trong dịp mua sắm của năm 2000. Windows ME đòi hỏi vi xử lý 150MHz, 32MB RAM và 320MB ổ cứng trống để cài đặt. Cấu hình khuyến cáo là 300MHz, 64MB và 2GB ổ cứng. ME là hệ điều hành cuối cùng của Microsoft tích hợp kiến trúc DOS.

9. 2001: Windows XP: 
Windows XP giới thiệu vào tháng 8/2001 là một bước đột phá lớn của Microsoft xét về nhiều mặt. XP là Windows đầu tiên không sử dụng DOS như là một kiến trúc nền tảng cũng như hỗ trợ cả 32 bit và 64bit bằng 2 phiên bản riêng biệt. XP là sự kết hợp của bản Windows 2000 vốn nặng về tính bảo mật và các bản Windows dành cho người dùng gia đình, kết quả là sản phẩm này ổn định hơn rất nhiều và giao diện cũng tốt hơn hẳn các đàn anh đi trước, nhiều màu sắc hơn, hiện đại hơn. Windows XP ra mắt cùng với những tính năng mới như thay đổi hình nền của Themes, remote desktop điều khiển máy tính từ xa.
Windows có 2 phiên bản chính là Home Edition và Professional. Cho dù được giới thiệu cách đây 9 năm nhưng XP vẫn là một trong những bản Windows được sử dụng nhiều nhất, nó cũng xuất hiện như một tùy chọn khác bên cạnh Windows 7 hiện tại. XP đòi người dùng phải có CPU 233MHz (nên là 300MHz) và 64MB RAM (128MB) cũng như 1,5GB ổ cứng trống.

10. 2006:Windows Vista 
Windows Vista ra mắt vào năm 2006 có thể là hệ điều hành bị ghét và chỉ trích nhiều nhất trong tất cả các phiên bản Windows. Sau 5 năm chờ đợi đằng đẵng từ Windows XP, người dùng được chứng kiến một hệ điều hành kém tương thích với phần cứng và không chạy trên các thiết bị cũ, ít nhất là khi Vista mới ra mắt. Vista có 6 phiên bản khác nhau nhưng phổ biến nhất có lẽ là Home Premium. Cấu hình yêu cầu tối thiểu là CPU 1GHz, 1GB bộ nhớ RAM, 15GB ổ cứng và card đồ họa hỗ trợ Aero.
Giao diện người dùng của Vista hoàn toàn khác biệt so với XP.

11. 2009: Windows 7 
Windows 7 vẫn giữ lại giao diện Aero nhưng thay vì đưa thêm hàng loạt các hiệu ứng mới, Windows 7 tập trung vào sửa chữa những lỗi lầm từ Vista. Hầu hết những người dùng Vista nâng cấp lên Windows 7 không gặp khó khăn như khi từ XP lên Vista, hệ điều hành này cũng ổn định hơn khá nhiều.
Windows 7 cũng ra mắt với khá nhiều phiên bản khác nhau như Home Premium, Windows 7 Professional và Ultimate. Cấu hình cơ bản của Windows 7 khá giống Vista với 1GHz CPU, 1GB RAM, ổ cứng 16GB cho bản 32 bit hoặc 20GB cho 64 bit và tất nhiên là card đồ họa hỗ trợ Aero.
3. Các hệ điều hành Unix và Linux
Các đặc trưng cơ bản của hệ điều hành UNIX:
Là hệ điều hành đa nhiệm nhiều người dùng.
Có hệ thống quản lí tệp đơn giản hiệu quả.
Có hệ thống phong phú các môđun và chương trình tiện ích hệ thống.
UNIX
Hệ điều hành Linux
Hệ điều hành Linux là hệ điều hành mã nguồn mở giúp cho người sử dụng dễ dàng sửa chữa các chương trình hệ thống, bổ sung, nâng cấp để sử dụng mà không vi phạm bản quyền.
Hệ điều hành Linux hiện được sử dụng nhiều ở châu Âu, nhất là các trường đại học.
LINUX
RedHat Linux (Fedora Core):
Là phiên bản khá phổ biến. Cung cấp khá nhiều tool và utility để hỗ trợ user (người sử dụng) từ các thao tác setup (cài đặt) đến config (cấu hình) hệ thống.
Mandrake Linux:
Một dòng khác thoát thai từ RedHat Linux, tương thích hoàn toàn với RedHat. Thường có nhiều phần mềm mới đang ở giai đoạn thử nghiệm.
Slackware Linux:
Đây là một trong phiên bản Linux lâu đời. Hỗ trợ các dịch vụ mạng rất mạnh, tuy nhiên việc setup và config đòi hỏi user có kiến thức tốt về hệ điều hành này.
S.u.S.E. Linux:
Do hãng S.u.S.E (Đức) phát hành, khá phổ biến tại Âu châu, nhưng không được phổ biến tại các nước khác. Có các công cụ riêng để hỗ trợ setup và config tương đối dễ sử dụng.

Free BSD Linux:
Được phát triển bởi Đại Học Berkeley, đây không phải là phiên bản thương mại, do vậy ít được phổ biến. Có rất nhiều tiện ích dành cho việc phát triển hệ thống và lập trình. Hỗ trợ đầy đủ các shell trên Unix.
Corel Linux:
Phát triển bởi hãng Corel, dễ setup, có graphic interface (giao diện đồ họa) khá giống Windows NT kể các tool và utility. Tuy nhiên các config tool chưa hoạt động tốt.
Open Linux:
Do hãng Caldera phát triển, dễ cài đặt cũng như sử dụng. Giao diện KDE. Thích hợp cho người sử dụng tại gia đình.
Và còn rất nhiều release khác như Turbo Linux, Linux PPC, Debian Linux, Infomagic Linux, Softlanding Linux System Release (SLS) v.v....
Ngoài ra, hiện nay còn có một dòng Linux gọi là Live-CD Linux (cahỵ trực tiếp trên CD - kô cần cài đặt) như Ubuntu, Knoppix, ....... thíchhợp với các beginner Linux
CỦNG CỐ
Hệ điều hành được khởi động:
Tính chất nào sau đây ko có đối
với một hệ điều hành mạng?
Theo em hệ điều hành nào đang được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam?
DẶN DÒ
1. Trả lời các câu hỏi 1, 2, 3_ trang 87 _ sách giáo khoa .
2. Thực hiện phần B “ Câu hỏi và bài tập “ _ trang 48 đến 49 _ Sách bài tập
3. Chuẩn bị ôn tập và kiểm tra học kì 1
 
Gửi ý kiến