Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 1. Sơ lược về mĩ thuật thời Nguyễn (1802-1945)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Quang Minh
Ngày gửi: 15h:54' 29-09-2010
Dung lượng: 4.7 MB
Số lượt tải: 75
Số lượt thích: 0 người
HUEÁ LAÊNG TAÅM
THAÉNG CAÛNH- KIEÁN TRUÙC - MYÕ THUAÄT
&
CAÙC TRIEÀU ÑAÏI
PHONG KIEÁN NHAØ NGUYEÃN

GIÔÙI THIEÄU SÔ NEÙT VEÀ COÁ ÑOÂ HUEÁ
Huế là một thành phố ở miền Trung Việt Nam và là tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên-Huế. TP Huế là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, du lịch, khoa học, y tế chuyên sâu, giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao của miền trung và cả nước. Là kinh đô của Việt Nam dưới triều Nguyễn, Huế có nhiều đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên.
HUEÁ VÔÙI LAÊNG TAÅM ÑEÀN ÑAØI
Biểu trưng
Bờ Nam sông Hương
sông Hương
Kinh thành Huế năm 1875
Chợ Đông Ba
Điện Thái Hòa
Địa lý
Thành phố Huế tọa lạc hai bên bờ dòng sông Hương (Huế) liên kết ngoài sông Hương. Huế nằm ở phía bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112km.
Thành phố Huế có toạ độ địa lý 16-16,80 vĩ bắc và 107,8-108,20 kinh đông. Phía Bắc và phía Tây giáp huyện Hương Trà, phía Nam giáp thị xã Hương Thuỷ, phía Đông giáp thị xã Hương Thuỷ và huyện Phú Vang.
Diện tích tự nhiên 83.3 km2, dân số trung bình năm 2003 ước là 350.400 người, chiếm 1,5% về diện tích và 1,5% về dân số so với cả nước.
Huế cách biển Thuận An 12 km, cách sân bay quốc tế Phú Bài 15 km, cách Cảng nước sâu Chân Mây 50 km. Mật độ dân số gần 4200 người/km2.
Khí hậu
Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng nực oi bức, nhiệt độ có khi lên tới 35-40 độ C. Tháng 8 đến tháng 1 là mùa mưa, trong đó từ tháng 10 trở đi là mùa bão lụt, nhiệt độ trung bình 20 độ C, có khi xuống thấp đến 9 độ C. Mùa xuân kéo dài từ tháng 1 đến cuối tháng 2.
Văn hóa Huế

Thuận Hóa - Phú Xuân -Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306). Trong khoảng thời gian khá dài ấy Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền thống văn hóa Huế. Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù - bản địa của một vùng đất, không tách rời những đặc điểm chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam; trong tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Đông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2 và sau thế kỷ 13 hỗn dung với thành phần văn hóa Sa Huỳnhtạo nên nền văn hóa Việt - Chăm. Trong quá trình phát triển, chuyển biến có ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây...
Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện rất phong phú trên nhiều lĩnh vực như: văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng xử, ăn - mặc - ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống...
Kiến trúc
Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại...Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế. Đó là những di tích lịch sử - văn hóa do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, Việt Nam.
Nghệ thuật tuồng ở Huế
Phát triển sớm từ thế kỷ 17 dưới thời các chúa Nguyễn. Đến triều Nguyễn, tuồng được xem là quốc kịch và triều đình Huế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tuồng phát triển. Trong Đại Nội Huế có nhà hát Duyệt Thị Đường, Tĩnh Quang Viện, Thông Minh Đường. Tại Khiêm Lăng, có Minh Khiêm Đường. Thời Minh Mạng đã thành lập Thanh Bình Thự làm nơi dạy diễn viên tuồng. Thời Minh Tự Đức đã thành lập Ban Hiệu Thư chuyên nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính và sáng tác tuồng.
Bài chi tiết: Tuồng Huế
Ca Huế
Ca Huế là một hệ thống bài bản phong phú gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống "hơi" diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán. Bài bản Ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố "chuyên nghiệp" bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn. Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền.
Kỹ thuật đàn và hát Ca Huế đặc biệt tinh tế nhưng Ca Huế lại mang đậm sắc thái địa phương, phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của người Huế nên gần gũi với Hò Huế, Lý Huế; là chiếc cầu nối giữa nhạc cung đình và âm nhạc dân gian.
Lễ nhạc cung đình Huế

Bắt nguồn từ 8 loại lễ nhạc cung đình thời Lê là giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, cửu nhật nguyệt giao trùng nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, đại yến cửu tấu nhạc, cung trung nhạc, đến triều Nguyễn lễ nhạc cung đình Việt Nam đã phát triển thành hai loại hình Đại nhạc và Nhã nhạc (tiểu nhạc) với một hệ thống các bài bản lớn.
Vũ khúc cung đình Huế
Với trên 15 vở múa lớn, từ múa tế lễ, múa chúc tụng, múa tiếp sứ, múa yến tiệc, múa trình diễn tích tuồng. Nhiều vở múa có tính hoành tráng, quy mô diễn viên đông, phô diễn được vẻ đẹp rộn ràng, lấp lánh và kỹ thuật, kỹ xảo của múa hát cung đình Việt Nam thể hiện được sự phát triển nâng cao múa hát cổ truyền của người Việt.
Mỹ thuật, mỹ nghệ Huế

Với những kiểu thức trang trí bắt nguồn từ những mẫu mực của Trung Hoa, các nghệ nhân Việt Nam đã tạo nên một bản sắc nghệ thuật trang trí với những nét độc đáo mang cá tính Huế. Nghệ thuật trang trí mỹ thuật Huế còn tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật Chăm, đặc biệt là tiếp thu nghệ thuật trang trí Tây Phương. Trang trí cung đình Huế còn tiếp nhận và nâng cao nghệ thuật dân gian Việt Nam. Nhiều loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam như chạm khắc gỗ, cẩn xà cừ, cẩn tam khí ngũ khí, sơn son thếp vàng, chạm khắc xương và ngọc ngà, khảm sành sứ, làm vàng bạc, dệt, thêu, đan...đã được các tượng cục triều Nguyễn nâng lên thành những nghệ thuật tinh xảo, sang trọng. Về hội họa nhiều họa sĩ nổi tiếng về tranh thủy mặc sơn thủy, trúc lan, tranh gương, các ấn phẩm nhất thi nhất họa đặc sắc. Đặc biệt, từ Huế xuất hiện người họa sĩ vẽ tranh sơn dầu đầu tiên ở Việt Nam là họa sĩ Lê Văn Miên[24] (1870-1912)...Về điêu khắc, cố đô Huế đã đánh dấu một thời kỳ phát triển mới, thể hiện bằng các tác phẩm điêu khắc trên đá, trên đồng, trên gỗ. Trong điêu khắc gỗ, phần khắc chạm gỗ trang trí với những bức chạm nổi, chạm lộng trên các chi tiết công trình kiến trúc đạt đến sự tinh xảo và có tính thẩm mỹ cao. Về mỹ thuật ứng dụng, ngoài việc nâng cao các loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam, Huế còn một thời sản xuất đồ mỹ nghệ pháp lam cao cấp.
Lễ hội Huế

Có hai loại lễ hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chỉ chú trọng về "lễ" hơn "hội". Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, tiêu biểu như: lễ hội Huệ Nam ở điện Hòn Chén hay còn gọi là lễ rước sắc nữ thần Thiên y A na theo tín ngưỡng của người Chăm pa, lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghề truyền thống, lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh thành lập làng. Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích như đua thuyền, kéo co, đấu vật... còn được tổ chức và thu hút đông người xem.
[Ẩm thực Huế
Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, có cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bản thực đơn ngự thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ. Các món ăn dân dã rất phổ biến trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế biến khéo léo, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn, coi trọng phần chất hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế.
Festival Huế

Tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đến nay Festival Huế tổ chức được 6 lần (2000, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010). Đây là sự kiện văn hóa lớn có quy mô quốc gia và tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người dân Huế. Là điều kiện quan trọng để xây dựng Huế thành thành phố Festival của Việt Nam.
Thương Mại
Huế có nhiều trung tâm thương mại lớn và nổi tiếng toạ lạc ở hai bên bờ sông Hương như: Chợ Đông Ba, chợ Tây Lộc, chợ An Cựu, chợ Bến Ngự, siêu thị Thuận Thành, Trường Tiền Plaza(siêu thị Co.op mart), Phong Phú Plaza(Big C).
Giáo dục
Đại học Huế, tiền thân là Viện Đại học Huế (1957-1975), có lịch sử 50 năm phát triển và tồn tại. Đây là nơi đào tạo nhân lực cho miền Trung và cả Việt Nam. Đại học Huế bao gồm:
1. Kiến trúc kinh đô Huế:
a/ Kinh thành Huế:
- Gồm 3 phần: Phòng thành, Hoàng thành và Tử cấm thành. Kinh thành xây dựng trong 30 năm (1803-1832); thành có 10 cửa chính để ra vào.
- Kinh thành nằm bên bờ sông Hương là một quần thể kiến trúc rộng lớn và đẹp nhất nước ta thời đó.
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
Bản đồ
kinh thành Huế
Phòng thành
Hoàng thành
Tử cấm thành
KINH THAØNH HUEÁ
NHÌN TÖØ HÖÔÙNG ÑOÂNG BAÉC
CỬA NGỌ MÔN

Ngọ Môn (tên chữ Hán: 午門) là cổng chính phía nam của Hoàng thành Huế.
Hiện nay là một trong những di tích kiến trúc thời Nguyễn trong quần thể di tích cố đô Huế.
Ngọ Môn, có nghĩa đen là Cổng giữa trưa hay Cổng xoay về hướng Ngọ,
là cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của Hoàng thành Huế.
Trước kia tại vị trí này là Nam Khuyết Đài, xây dựng đầu thời Gia Long. Trên đài này có điện Càn Nguyên, hai bên có hai cửa là Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn. Đến năm Minh Mạng 14 (1833) khi triều Nguyễn tổ chức qui hoạch lại toàn bộ mặt bằng kiến trúc Hoàng thành, Nam Khuyết Đài bị giải thể hoàn toàn để lấy chỗ xây dựng Ngọ Môn. Về mặt từ nguyên, Ngọ Môn có nghĩa là chiếc cổng xây mặt về hướng Ngọ. Hướng này, theo quan niệm của địa lý phong thủy phương Đông là hướng Nam. Hướng của Ngọ Môn cũng như toàn bộ Kinh thành Huế trên thực tế là hướng càn - tốn (tây bắc - đông nam) nhưng vẫn được xem là hướng Ngọ (hướng nam). Theo Dịch học hướng nam là hướng dành cho bậc vua Chúa để “nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị” (chữ Hán: 而聽天下, 向明而治, tạm dịch: hướng về ánh sáng để nghe thiên hạ và cai trị thiên hạ một cách sáng suốt).
KIếN TRÚC

Về mặt kiến trúc Ngọ Môn có dáng dấp tương tự Thiên An môn ở Cố cung Bắc Kinh
nhưng vẫn thể hiện rõ phong cách kiến trúc dân tộc Việt Nam. Ngọ Môn có hai hần chính là: đài - cổng và lầu Ngũ Phụng.
Phần đài - cổng
Có bình diện hình chữ U vuông góc,
đáy dài 57,77m, cạnh bên dài 27,06m.
Đài được xây bằng gạch đá kết hợp với các thanh dầm chịu lực bằng đồng thau.
Đài cao gần 5m, diện tích chiếm đất hơn 1560m2 (kể cả phần trong lòng chữ U). Thân đài trổ 5 lối đi. Lối chính giữa là Ngọ Môn, chỉ dành cho vua đi. Hai lối bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, dành cho quan văn, võ theo cùng trong đoàn Ngự đạo.Hai lối đi bên ngoài cùng nằm ở hai cánh chữ U là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn, dành cho binh lính và voi ngựa theo hầu.
Lầu Ngũ phụng
là phần lầu đặt ở phía trên đài - cổng. Ngoài phần thân đài, lầu còn được tôn cao bởi một hệ thống nền cao 1,15m cũng chạy suốt thân đài hình chữ U. Lầu có hai tầng, kết cấu bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim với chẳn 100 cây cột. Mái tầng dưới nối liền nhau, chạy vòng quanh để che cho phần hồi lang. Mái tầng trên chia thành 9 bộ, với rất nhiều hình chim phụng trang trí ở phần bờ nóc, bờ quyết, khiến tòa lầu trông rất nhẹ nhàng, thanh thoát. Bộ mái chính giữa của lầu Ngũ Phụng lợp ngói lưu ly màu vàng, tám bộ còn lại lợp ngói lưu ly màu xanh.
Sự kiện
Ngọ Môn cũng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Nơi đây ngày xưa vẫn thường diễn ra các lễ lạc quan trọng nhất của triều Nguyễn như lễ Ban sóc (ban lịch mới), Truyền Lô (tuyên đọc tên tiến sĩ tân khoa)... Ngày 30 tháng 8 năm 1945, tại Ngọ Môn, vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của Việt Nam, đã thoái vị và trao chính quyền lại cho chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hư hỏng trong Trận Mậu Thân 1968
Năm 1968,sau trận đánh Mậu Thân,Ngọ Môn bị hư hỏng rất nặng.Mãi đến năm 1970,Ngọ Môn cùng một số công trình khác(cũng bị hư hỏng) được sửa chữa lớn.
KỲ ĐÀI

Kỳ ĐÀI
Kỳ Đài (kinh thành Huế, còn gọi là Cột cờ Cố đô Huế) là di tích kiến trúc thời Nguyễn nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh cũng là nơi treo cờ của triều đình.
Kỳ Đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807) cùng thời gian xây dựng kinh thành. Đến thời Minh Mạng, Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829, 1831 và 1840
Kỳ Đài gồm hai phần: đài cờ và cột cờ.
Đài cờ gồm ba tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau. Tầng thứ nhất cao hơn 5,5 m, tầng giữa cao khoảng 6 m, tầng trên cùng cao hơn 6 m. Tổng cộng của ba tầng đài cao khoảng 17,5 m. Từ mặt đất lên tầng dưới bằng một lối đi nhỏ ở phía trái Kỳ Ðài, tầng dưới thông với tầng giữa bằng một cửa vòm rộng 4 m, tầng giữa thông với tầng trên cùng cũng bằng một cửa vòm rộng 2 m. Ðỉnh mỗi tầng có xây một hệ thống lan can cao 1 m được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng. Nền ba tầng lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa xuống dưới. Trước đây còn có hai chòi canh và tám khẩu đại bác.
Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm hai tầng, cao gần 30 m. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài hơn 32 m. Đến năm Thành Thái thứ 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn quật gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa. Năm 1948, cột cờ bằng bê tông cốt sắt với tổng chiều cao 37 m hiện nay mới được xây dựng
Chức năng

Thời Nguyễn, trong tất cả các dịp lễ tiết, chầu mừng, tuần du cho đến việc cấp báo đều có hiệu cờ. Trên đỉnh cột cờ còn đặt một trạm quan sát gọi là Vọng Đẩu. Thỉnh thoảng, lính canh phải trèo lên Vọng Đẩu dùng kính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển.
Ngày 23/8/1945, sau khi Bảo Đại thoái vị, lá cờ đỏ sao vàng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thay thế cho lá cờ hình quẻ ly của triều đình Nguyễn [4]. Trong Sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, 8 giờ sáng ngày 31/1/1968 quân giải phóng miền Nam chiếm được kỳ đài và lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên trong 26 ngày đêm. Đến ngày 24/2/1968, đại đội Hắc Báo, thuộc sư đoàn bộ binh 1 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chiếm lại kỳ đài và xé lá cờ này xuống.
Ngày 26/3/1975, sau khi giành thắng lợi trong Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, lá cờ dài 12 m, rộng 8 m của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lại được kéo lên Kỳ Đài
Điện Thái Hòa

Điện Thái Hoà
(hoàng thành Huế)

Điện Thái hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành Huế, là nơi đăng quang của 13 vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại. Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung tâm của đất nước.
Xây dựng và trùng tu
Quá trình xây dựng và trùng tu điện Thái Hòa được chia làm 3 thời kỳ chính; mỗi thời kỳ đều có những thay đổi lớn, cải tiến về kiến trúc và trang trí. Vua Gia Long khởi công xây dựng vào ngày 21 tháng 2 năm 1805 và hoàn thành vào tháng 10 cùng năm. Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại đồ sộ và lộng lẫy hơn. Năm 1923 dưới thời vua Khải Định để chuẩn bị cho lễ Tứ tuần Đại khánh tiết của nhà vua (mừng vua tròn 40 tuổi) diễn ra vào năm 1924, điện Thái Hoà đã được "đại gia trùng kiến".
Qua các đợt trùng tu lớn nói trên và nhiều lần trùng tu sửa chữa nhỏ khác dưới thời vua Thành Thái, Bảo Đại và trong thời gian gần đây (vào năm 1960, 1970, 1981, 1985 và 1992) điện Thái Hòa đã ít nhiều có thay đổi, vẻ cổ kính ngày xưa đã giảm đi một phần. Tuy nhiên, cốt cách cơ bản của nó thì vẫn còn được bảo lưu, nhất là phần kết cấu kiến trúc và trang trí mỹ thuật.
Chức năng
Điện Thái Hòa là biểu trưng quyền lực của Hoàng triều Nguyễn. Điện, cùng với sân chầu, là địa điểm được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Vào những dịp này, nhà vua ngồi uy nghiêm trên ngai vàng. Chỉ các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốc thích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến. Các quan khác có mặt đông đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng từ nhất phẩm đến cửu phẩm, quan văn đứng bên trái, quan võ đứng bên phải. Tất cả các vị trí đều được đánh dấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu.
Kiến trúc

Cung điện được xây theo lối trùng thiềm điệp ốc và được chống đỡ bằng 80 cột gỗ lim được sơn thếp và trang trí hình rồng vờn mây - một biểu tượng về sự gặp gỡ giữa hoàng đế và quần thần đúng như chức năng vốn có của ngôi điện. Nhà trước và nhà sau của điện được nối với nhau bằng một hệ thống trần vỏ cua. Hệ thống vì kèo nóc nhà sau tương đối đơn giản, chỉ làm theo kiểu "vì kèo cánh ác", nhưng hệ thống vì kèo nóc nhà trước thì thuộc loại vì kèo "chồng rường - giả thủ" được cấu trúc tinh xảo. Toàn bộ hệ thống vì kèo, rường cột, xuyên trến ở đây đều liên kết với nhau một cách chặt chẽ bằng hệ thống mộng mẹo chắc chắn. Mái điện lợp ngói hoàng lưu ly, nhưng không phải là một dải liên kết mà được chia làm ba tầng chồng mí lên nhau theo thứ tự từ cao xuống thấp, gọi là mái "chồng diêm", mục đích là để tránh đi sự nặng nề của một tòa nhà quá lớn đồng thời để tôn cao ngôi điện bằng cách tạo ra ảo giác chiều cao cho tòa nhà. Giữa hai tầng mái trên là dải cổ diêm chạy quanh bốn mặt của tòa nhà. Dải cổ diêm được phân khoảng ra thành từng ô hộc để trang trí hình vẽ và thơ văn trên những tấm pháp lam (đồng tráng men nhiều màu) theo lối nhất thi nhất họa.
Trang trí
Trang trí cũng như kiến trúc của điện Thái Hòa nói chung, có một khái niệm đặc biệt đáng chú ý là con số 5, và nhất là con số 9. Hai con số này chẳng những xuất hiện ở trang trí nội ngoại thất của tòa nhà mà còn ở trên các bậc thềm của điện. Từ phía Đại Cung Môn của Tử Cấm Thành đi ra điện Thái Hòa, vua phải bước lên một hệ thống bậc thềm ở tầng nền dưới là 9 cấp và ở tầng nền trên là 5 cấp. Trước mặt điện số bậc cấp bước lên Đệ nhị Bái đình và Đệ nhất Bái đình cộng lại là 9. Tiếp đó, hệ thống bậc thềm ở nền điện cũng có 5 cấp. Đứng ở sân Đại triều nhìn vào hay từ phía Tử Cấm Thành nhìn ra người ta đều thấy trên mỗi mái điện đều được đắp nổi 9 con rồng ở trong các tư thế khác nhau: lưỡng long chầu hổ phù đội bầu rượu, lưỡng long chầu mặt nhật, hồi long (rồng quay đầu lại), rồng ngang v.v…Ở nội điện cũng thế, từ ngai vàng, bửu tán, các mặt diềm gỗ chung quanh cho đến mỗi mặt của ba tầng bệ mỗi nơi đều trang trí một bộ 9 con rồng. Ngày nay, Điện Thái Hoà trở thành một điểm du lịch nổi tiếng.
NGỰ THƯ PHÒNG
CỬA HIỂN NHƠN
Cửa Hiển Nhơn
Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành có 4 cửa:
1. Cửa Ngọ Môn (phía Nam, trông ra đường 23 tháng 8)
2. Cửa Hòa Bình (Bắc, trước dành cho vua đi chơi, trông ra đường Đặng Thái Thân)
3. Cửa Chương Đức (Tây, trước dành cho phái nữ, trông ra đường Lê Huân)
4. Cửa Hiển Nhơn (Đông, trước dành cho phái nam, trông ra đường Đoàn Thị Điểm)
Cửu Đỉnh
Cửu Đỉnh của nhà Nguyễn là chín cái đỉnh bằng đồng, mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một thuỵ hiệu của mỗi vị hoàng đế của triều Nguyễn. Chúng được dùng làm biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất của đất nước và ước mơ triều đại mãi vững bền[1]
Cửu vị thần công

Cửu vị thần công là tên gọi 9 khẩu thần công được các nghệ nhân Huế đúc dưới thời vua Gia Long. 9 khẩu thần công được đánh giá là một trong những tác phẩm nghệ thuật bằng đồng có giá trị cao. Cửu vị thần công xưa được đặt dưới chân Hoàng Thành, trước cửa Ngọ Môn – kinh thành Huế. Đến đời vua Khải Định, chúng được dời ra tại vị trí như ngày nay.
Duyệt Thị Đường (hoàng thành Huế)
Duyệt Thị Đường (Duyệt: xem xét để phân biệt điều phải trái; Thị: xem; Đường: ngôi nhà) là một nhà hát dành cho vua, hoàng thân quốc thích, các quan đại thần và là nơi biễu diễn các vở tuồng dành cho quan khách, sứ thần thưởng thức. Tuồng biễu diễn trong Duyệt Thị Đường là các vở tuồng cung đình. Đây được xem là nhà hát cổ nhất của ngành sân khấu Việt Nam.
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
1. Kiến trúc kinh đô Huế:
b/ Các lăng tẩm:
- Là các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao.
- Được xây dựng theo sở thích của các vị vua, có kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với thiên nhiên.
- Một số lăng tẩm: Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định…
Lăng Tự Đức là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng.
Lăng Tự Đức có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.
Lăng Tự Đức
(Thủy Biều, tp Huế)

Cung An Định
Cung An Định tọa lạc bên bờ sông An Cựu, xưa thuộc phường Đệ Bát - Thị xã Huế, nay tại số 97 đường Phan Đình Phùng, Thành phố Huế là cung điện riêng của vua Khải Định từ khi còn là thái tử đến khi làm vua, sau này được Vĩnh Thuỵ thừa kế và từng sống ở đây sau khi thoái vị.
Chùa Thiên Mụ
Chùa Thiên Mụ (񣘠天姥) hay còn gọi là chùa Linh Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía tây. Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng -vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong. Đây có thể nói là ngôi chùa cổ nhất của Huế.
Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng (do vua Thiệu Trị cho xây dựng), nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km. Lăng Minh Mạng được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành, huy động tới mười nghìn thợ và lính.
Lăng Minh Mạng
(Hương Thọ, Hương Trà)

Lăng Khải Định
(Thủy Bằng, Hương Thủy)
Lăng Khải Định (còn gọi là Ứng Lăng) là lăng mộ của vua Khải Định (1885-1925), vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế.
Lăng Dục Đức (An Cựu, tp Huế)

Lăng Dục Ðức tên chữ An Lăng là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế, là nơi an táng vua Dục Ðức, vị vua thứ 5 của triều đại nhà Nguyễn. Lăng tọa lạc tại thôn Tây Nhất, làng An Cựu, xưa thuộc huyện Hương Thủy, nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố chưa đầy 2km.
An Lăng nằm ở khu vực trung tâm, diện tích khoảng 1ha. Lăng gồm 2 khu vực: khu lăng mộ và khu tẩm thờ đặt song song với nhau. Cả hai khu đều có tường thành bao bọc. Lăng quay mặt về phía tây bắc, lấy đồi Phước Quả làm tiền án, núi Tam Thai sau lưng làm hậu chẩm và dòng khe chảy vòng qua trước mặt làm minh đường tụ thủy.
Lăng Đồng Khánh (Thủy Xuân, tp Huế)
Lăng Ðồng Khánh hay Tư Lăng là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế đây là nơi an táng vua Đồng Khánh, lăng tọa lạc giữa một vùng quê thuộc làng Cư Sĩ, xã Dương Xuân ngày trước (nay là thôn Thượng Hai, xã Thủy Xuân, thành phố Huế).
Công việc xây dựng lăng tẩm vua Đồng Khánh đã được bắt đầu từ năm cuối đời vua (1888: khu vực điên Truy Tư sau đổi tên thành điện Ngưng Hy), làm thêm từ năm đầu thời Thành Thái (1889: khu vực lăng mộ) rồi sửa chữa và mở rộng quy mô dưới thời Khải Định (các năm 1915,1917,1921,1923).
Cung Khánh Ninh
Cung Khánh NinhCung Khánh Ninh là cung điện riêng của vua Minh Mạng xây dựng năm Minh Mạng thứ 6 (1825). Cung toạ lạc ở sau lưng Hoàng thành, phía bắc Ngự Hà (đoạn gấp khúc đầu tiên của Ngự Hà tính từ tây sang đông). Cung có vòng tường gạch bao bọc, bốn phía trổ nhiều cửa. Bên trong, điện chính nằm ở vị trí trung tâm, hình thức kiểu nhà kép, chính đường 5 gian 2 chái kép, tiền gian 7 gian 2 chái đơn, nóc lợp ngói lưu li vàng. Trước mặt và sau lưng điện chính có đông, tây đối diện và tả, hữu tùng viện, đều 5 gian. Sau khi vua Minh Mạng băng hà (1841), quan tài nhà vua đã từng được đặt ở điện chính một thời gian để đơi ngày ninh lăng. Sau đó điện chính được gọi là điện Hiếu Tư và nó trở thành miếu thờ riêng của vua Minh Mạng. năm 1985, sau khi Kinh thành thất thủ, thực dân Pháp đã tràn vào chiếm giữ và đống đại bản doan tại cung Khánh Ninh. Do sự kiện này nên về sau cung bị bỏ phế. Năm Đồng Khánh 2 (1887) cung Khánh Ninh bị triệt giải.
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
Văn Miếu
Văn Miếu

Dưới triều nhà Nguyễn, Văn Miếu của cả triều đại và cũng là của toàn quốc được chính thức xây dựng vào năm 1808 dưới triều vua Gia Long. Miếu được xây dựng uy nghi đồ sộ, nằm bên bờ sông Hương, thuộc địa phận thôn An Bình, làng An Ninh, phía Tây Kinh thành Huế. Văn Miếu Huế hay Văn Thánh Huế là cách gọi tắt của Văn Thánh Miếu được xây dựng tại Huế
Bia Văn Miếu

Đàn Nam Giao
Đàn Nam Giao được xây dựng vào năm 1806 thời vua Gia Long, ở phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế. Trước đó, vào năm 1803, nhà Nguyễn cũng cho đắp một đàn Nam Giao ở cánh đồng làng An Ninh, sau đó mới dời đến vị trí đàn Nam Giao hiện nay.
Một lễ rước ở Đàn Nam Giao

Cung Trường Sanh

Cung Trường Sanh được khởi công xây dựng vào năm Minh Mạng thứ nhất (1821), ở phía Tây Bắc Hoàng thành, sau cung Diên Thọ. Trong giai đoạn đầu khi mới xây dựng, Cung mang tên Cung Trường Ninh, mang dáng dấp của một hoa viên. Kiến trúc ban đầu của cung có hình chữ Tam (三) gồm một điện chính ở giữa, một điện phía trước và một lầu phía sau trong hệ thống với một số công trình phụ khác xung quanh.

Đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cung Trường Ninh được trùng tu lớn, với sự nâng cấp quy mô và kiểu dáng kiến trúc. Kiến trúc chính của cung giai đoạn này xếp theo hình chữ Vương (王) với hệ thống hành lang tạo nét sổ (丨) giữa chữ, nối kết các cung điện với nhau. Hệ thống cung bao gồm điện Thọ Khang đặt chính giữa, tòa Ngũ Đại Đồng Đường phía trước và lầu Vạn Phúc đứng sau cùng. Ngoài ra, phía trước nhà Ngũ Đại Đồng Đường có Phường Môn, phía sau lầu Vạn Phúc có xếp mấy ngọn đá giả sơn mang tên núi Bảo Sơn, núi Kình Ngư, núi Hổ Tôn v.v. Vòng quanh Cung còn có lạch nước Đào Nguyên nhân tạo nối qua hồ Nội Kim Thủy ở phía Bắc. Ngang qua con lạch bắc những cây cầu sơn màu đỏ để tiện đi lại.
Cung Diên Thọ
Cung Diên Thọ được bắt đầu xây dựng năm 1803 để làm nhà ở của bà Quốc mẫu Vương thái phi, mẹ của vua Nguyễn Thế Tổ.[1] Sang triều Minh Mệnh, cung điện này được dùng làm nơi sinh hoạt của các Hoàng Thái Hậu của triều Nguyễn.
Cung Diên Thọ có mặt bằng hình chữ nhật kích thước 126,4 x 138,5m với diện tích 17.500m2, tính về diện tích thì chiếm hơn 1/20 tổng diện tích khu vực Hoàng thành Huế. Trong khu vực cung có khoảng 20 công trình kiến trúc lớn nhỏ:
Phu Văn Lâu

Phu Văn Lâu nằm trên trục chính của Hoàng thành Huế, từ Kỳ đài nhìn ra sông Hương có hai công trình kiến trúc tô điểm cho bộ mặt của Kinh thành Huế. Một trong hai công trình ấy là Phu Văn Lâu( phu: trưng bày, văn: văn thư, lâu: lầu) - Cái lầu trưng bày văn thư của triều đình. Phu Văn Lâu được xây dựng vào năm 1819 dưới thời vua Gia Long, dùng làm nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng của nhà vua và triều đình, hoặc kết quả các kỳ thi do triều đình tổ chức. Năm 1829, vua Minh Mạng dùng nơi đây làm địa điểm tổ chức cuộc đấu giữa voi và hổ, năm 1830 ông lại tổ chức cuộc vui chơi yến tiệc suốt 3 ngày để mừng sinh nhật của mình.
Nghinh Lương Đình

Nằm bên dòng sông Hương thơ mộng mang bao huyền thoại,
Nghinh Lương Đình được triều Nguyễn xây dựng năm 1845 để làm nơi tiêu dao, thưởng cảnh và tạo nguồn thi hứng.
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
2. Điêu khắc và đồ họa, hội họa:
a/ Điêu khắc:
- Điêu khắc cung đình mang tính tượng trưng cao (tượng người và các con vật bằng xi măng; các con nghê, cửu đỉnh đúc bằng đồng…)
- Điêu khắc Phật giáo tiếp tục phát huy truyền thống dân gian (tượng Hộ pháp, tượng Thánh mẫu...)
- Nghệ thuật pháp lam Huế.
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
Hình điêu khắc ở cửu đỉnh
Các tượng người và thú ở lăng Khải Định
Tượng Hộ pháp và Kim cương
Bậc thềm rồng đá ở lăng Khải Định
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
Pháp lam
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
2. Điêu khắc và đồ họa, hội họa:
b/ Đồ họa, hội họa:
- Các dòng tranh dân gian phát triển mạnh (Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng…)
- Bộ tranh “bách khoa thư văn hóa vật chất của Việt Nam” khá đồ sộ với hơn 4000 bức.
- Nền Mỹ thuật có sự tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây.
- Trường CĐMT Đông Dương ra đời (1925)
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
Tranh Hàng Trống
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
Tranh Đông Hồ
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
Tranh Kim Hoàng
II.MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ MỸ THUẬT
Tranh thờ Thập điện
Myõ thuaät - kieán truùc
- Kiến trúc có sự hài hòa với thiên nhiên, luôn có sự kết hợp với nghệ thuật trang trí.
- Điêu khắc và đồ họa, hội họa phát triển đa dạng, kế thừa truyền thống dân tộc và bước đầu có sự tiếp thu nghệ thuật phương Tây.
CAÙC TRIEÀU ÑAÏI PHONG KIEÁN
NHAØ NGUYEÃN
Từ thời Gia long có quốc hiệu Việt Nam ,
ban đầu Gia Long cho đổi quốc hiệu Đại Việt sang Nam Việt nhưng về sau, vì vua Gia khánh nhà Thanh sợ laàm với nước nam Việt của nhà Trieäu mà lãnh thổ bao gồm cả Lưỡng Quảng nên đoåi tên thành Việt Nam .
Triều Nguyễn đã để lại cho lịch sử Việt nam một di sản văn hóa khổng lồ. riêng số sách do triều Nguyễn viết ra trong 2/3 thế kỷ XIX còn nhiều hơn cả 300 năm trước đó gộp lại .
TRIEÀU ÑAÏI PHONG KIEÁN
NHAØ NGUYEÃN
- Nhà Nguyễn (1802-1945) là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
- Trải qua 13 đời vua với nhiều sự thay đổi trong xã hội.
- Nhà Nguyễn đề cao tư tưởng Nho giáo và đã tiến hành nhiều cuộc cải cách nông nghiệp.
- Áp dụng chính sách “bế quan tỏa cảng” và làm tay sai cho thực dân Pháp.
CAÙC ÑÔØI VUA
NHAØ NGUYEÃN
13 ñôøi Vua
1/ Vua Gia Long .
2/ Vua Minh Mạng .
3/ Vua Thiệu Trị .
4/ Vua Tự Đức .
5/ Vua Dục Đức ( Làm vua chỉ được có 3 ngày . )
6 / Vua Hiệp Hòa .
7/ Vua Kiến Phúc .
8/ Vua Hàm Nghi . ( Bị Pháp đầy đi An - giê )
9/ Vua Đồng Khánh .
10/ Vua Thành Thái .
11/ Vua Duy Tân . ( Bị Pháp đầy đi đảo Rê uy ni ông )
12/ Vua Khải Định .
13 / Vua Bảo Đại ( Vị Vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, trao Ấn Kiếm cho chính quyền cách mạng và tuyên bố : Thà làm công dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ ) .
GIA LONG (1802-1829)

Vua Gia Long sinh năm 1762 mất năm 1819 , là con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Luân , lên ngôi năm 1802 , có 13 con trai và 18 con gái . vua Gia Long cũng là người đặt tên nước là Việt Nam .
Minh Mạng(1820-1840
Vua Minh mạng sinh năm 1791 , mất năm 1840 , là con trai thứ tư của vua Gia Long , lên ngôi năm 1820( ngày 1 tháng giêng âm lịch )vì người anh cả là hoàng tử Cảnh lúc đó đã chết ( các anh thứ hai , thứ ba chết lúc còn nhỏ ) có 78 con trai và 64 con gái
THIỆU TRỊ (1841-1847)

Thiệu Trị sinh năm 1807 , mất năm 1847 ,
là con trai lớn của vua Minh Mạng ,
lên ngôi năm 1841 ( ngày 1 tháng giêng âm lịch )
có 29 con trai và 35 con gái .
Tự Đức (1848-1883
Vua Tự Đức sinh năm 1829 , mất năm 1883 , là con trai thứ hai của vua Thiệu Trị , lên ngôi năm 1847 , vì không có con nên nuôi ba người cháu , cả ba đều lên làm vua ục Đức , Đồng Khánh , Kiến Phúc .
Duïc ñöùc
Vua Duïc Đức sinh năm 1852 , mất năm 1883 , là con trai trưởng ( con nuôi ) của vua Tự Đức .lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883 nhưng ba ngày sau bị Nguyễn văn Tường và tôn Thất Thuyết truất phế rồi giết chết , có 11con trai va 8 con gái . Dục Đức vì ở trên ngôi có 3 ngày , không có thời gian chọn niên hiệu , Dục Đức là tên dinh thự của vua này . Miếu hiệu và thụy hiệu về sau mới được tôn vinh .
Hiệp Hòa(1883, 4 tháng
Vua Hiệp Hòa sinh năm 1847 , mất năm 1883 , là con trai thứ 29 của vua Thiệu trị ( tức là em của vua Tự Đức ). Lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm 1883 nhưng 4 tháng sau bị Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết chết , không có con .
)
KIẾN PHÚC(1883-1884)
-Vua kiến Phúc sinh năm 1869 , mất năm 1884 , là con trai thứ ba ( con nươi ) của vua Tự Đức . lên ngôi ngày 2 tháng 2 năm 1883 nhưng 8 tháng sau thì bị bệnh rồi chết , mọi việc đe7u2 được lo bởi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết , không có con .
Hàm Nghi(1884-1885
-Vua hàm Nghi sinh năm 1872 ,mất năm 1943 ,là cháu gọi vua Tự Đức là chú . Lên ngôi năm 1884 nhưng bị Pháp truất phế 1 năm sau đó vì mưu lược chống họ , có 1 con trai và 2 con gái . sau khi bị truất phế , vua Hàm Nghi tiếp tục việc chống Pháp nhưng bị bắt vào năm 1888 và bị Pháp đày sang Algerie .
Đồng Khánh(1886-1888)

-Vua Đồng Khánh sinh năm 1864 , mất năm 1889 , là con trai thứ hai ( con nuôi ) của vua Tự đức .Lên ngôi năm 1885 nhưng sau 3 năm thì bị bênh5 rồi chết , có 6 con trai và 3 con gái .
Thành Thái(1889-1907)

-Vua Thành Thái sinh năm 1879 , mất năm 1995 , là con trai thứ bảy của vua Dục Đức ( người làm vua chỉ trong ba ngày ). Lên ngôi năm 1889 nhưng bị truất phế vào năm 1907 vì chống lại họ , có 16 con trai và nhiều con gái . Vào năm 1916 Vua Thành Thái (cùng con là vua Duy tân ) bị Pháp đày sang đảo Reunion , nhưng được đón trở lại Việt Nam vào năm 1947.
Duy Tân(1907-1916)

-Vua Duy Tân sinh năm 1899, mất năm 1945 , là con trai thứ năm của Vua Thành Thái , lên ngôi năm 1907 nhưng chỉ lo việc chống người Pháp nên bị họ truất phế và bị đày sang đảo Reunion(cùng với cha là vua Thành Thái ). Vào năm 1916 , có 3 con trai và 1 con gái .
Khải Định(1916-1925)

-Vua Khải Định sinh năm 1885 , mất năm 1925 , là con trai trưởng của vua Đồng Khánh . Lên ngôi năm 1916 với ý định hòa hoãn với Pháp , chỉ có 1 con trai .
Bảo Đại (1916-1945)

-Vua Bảo Đại sinh năm 1913 , mất năm 1997 , là con trai độc nhất của vua Khải Định .Lên ngôi năm 1926 , trong khi đang du học tại Pháp nên về Việt nam 6 năm sau đó , có 2 con trai và 3 con gái .Ngày 11thang1 3 năm 1945 , triều đình Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hòa ước Patenotre ký với Pháp năm 1884 , khôi phục chủ quyền Việt Nam . Nhà sử học Trần Trọng Kim được bổ nhiệm làm Nội Các Tổng trưởng , giao nhiệm vụ thành lập nội các vào ngày 17 tháng 4 và quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam .Vua Bảo Đại thoái vị vào ngày 30 tháng 8 năm 1945 và giao chức ‘’cố vấn tối cao’’cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mới thành lập , nhưng chẳng bao lâu lại từ chức đi sống tại các nước ngoài . Bảo Đại trở lại Việt nam , với chức vụ Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam vào năm 1948 nhưng lại bị mất quyền sau môt cuộc trưng cầu dân ý trong năm 1956.
 
Gửi ý kiến