Bài 1. Sơ lược về mĩ thuật thời Nguyễn (1802-1945)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Doãn Hưng
Ngày gửi: 20h:32' 18-06-2011
Dung lượng: 14.3 MB
Số lượt tải: 188
Nguồn:
Người gửi: Trần Doãn Hưng
Ngày gửi: 20h:32' 18-06-2011
Dung lượng: 14.3 MB
Số lượt tải: 188
Số lượt thích:
0 người
Mĩ thuật thời Nguyễn
(1802-1945)
I.Vaøi neùt veà boái caûnh lòch söû:
“... Thời kỳ Nguyễn Sơ đã chứng kiến sự phát triển rực rỡ của
80 năm văn hóa Phú Xuân trong nhiều lãnh vực ...”
Lê Văn Hảo
Triều Nguyễn (1802-1945) là vương triều cuối cùng của thời đại quân chủ Việt Nam.Với tất cả 13 đời vua, khởi đầu từ Gia Long và kết thúc với Bảo Đại, thời Nguyễn có thể chia ra làm hai giai đoạn : thời Nguyễn Sơ (1802-1883) và thời Nguyễn Mạt - thuộc Pháp (1885-1945).
Một số hình ảnh về các vua thời Nguyễn : Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Hàm Nghi, Bảo Đại (từ trái sang)
Sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi, niên hiệu Gia Long, vẫn đặt kinh đô tại Phú Xuân (thành phố Huế ngày nay), đặt quốc hiệu là Việt Nam rồi Đại Nam, thiết lập chế độ quân chủ chuyên quyền, chấm dứt nạn cát cứ nội chiến.
(Súng thần công thời Nguyễn)
Nhà Nguyễn đề cao tư tưởng Nho giáo và tiến hành một số cải cách nông nghiệp như : khai hoang, lập đồn điền,… nhưng do chính sách “Bế quan tỏa cảng”, ít giao thiệp với bên ngoài làm cho đất nước chậm phát triển nên đã dẫn đến nguy cơ mất nước vào tay thực dân Pháp.
Nhằm đảm bảo việc thu thuế hoặc cung cấp nhu yếu phẩm cần thiết, nhà Nguyễn đã định rõ quy chế thành lập một số phường thủ công gọi là "ty" hay "cục" có nhiệm vụ sản xuất những vật phẩm cần thiết do nhà nước giao
II.Một số thành tựu về mĩ thuật:
Mĩ thuật thời Nguyễn phát triển đa dạng, còn để lại một số công trình nghệ thuật có giá trị cho kho tàng văn hóa dân tộc như tháp chùa Thiên Mụ (Huế), pho tượng Thánh Gióng bằng đồng kích thước tương đối lớn ở Gia Lâm (Hà Nội) và lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, các cung điện ở Huế…
Mĩ thuật thời Nguyễn (thế kỉ 19): hầu như được tách ra làm hai hướng:
Một hướng của triều đình tập trung cho các cung điện và các lăng tẩm nhà vua ở Huế. Quy mô, tầm cỡ lớn hơn những thời trước đó nhưng nghệ thuật cũng không có gì nổi trội hơn. Tuy nhiên, đã hoạch định được một phong cách cung đình ổn định để ngày nay xứng đáng được công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Hình ảnh một số lăng mộ của các vua thời Nguyễn:
Hướng thứ hai là hướng nghệ thuật lan toả rộng rãi trong nhân dân như chạm khắc trang trí đình làng, tượng ở đền chùa, tranh thờ, tranh dân gian, đồ gốm, đồ thủ công mĩ nghệ vẫn phát triển và tiếp nối được truyền thống.
1.Kiến trúc kinh đô Huế:
Trong gần 400 năm (1558-1945), Huế đã từng là Thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là Kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến Kinh đô của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn. Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Suốt mấy thế kỷ, bao nhiêu tinh hoa của cả nước được chắt lọc hội tụ về đây hun đúc cho một nền văn hóa đậm đà bản sắc để hoàn chỉnh cho một bức tranh thiên nhiên tuyệt vời sẵn bày sông núi hữu tình thơ mộng. Bởi vậy, nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến những thành quách, cung điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng tích thiên nhiên thợ trời khéo tạc...
Kiến trúc kinh đô Huế là quần thể kiến trúc gồm có Hoàng thành, các cung điện, lăng tẩm,… được khởi công xây dựng năm 1805; là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học Trung Hoa cùng những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương Tây. Không gây ấn tượng trấn áp tinh thần, cũng không có vẻ hoang sơ dã thảo, Kinh Thành Huế khiến cho người ta cảm nhận được đúng mức không khí tôn nghiêm nhưng không mất đi cảm giác êm đềm thư thái giữa thiên nhiên gần gũi. Bên cạnh đó, phong cách kiến trúc và cách bố phòng khiến Kinh Thành Huế thực sự như một pháo đài vĩ đại và kiên cố nhất từ trước đến nay ở Việt Nam mà Le Rey, một thuyền trưởng người Pháp đã từng đến Huế năm 1819 phải thốt lên: “Kinh Thành Huế thực sự là pháo đài đẹp nhất, đăng đối nhất ở Đông Dương, thậm chí so với cả pháo đài William ở Calcutta và Saint Georges ở Madras do người Anh xây dựng”.
Và, cũng do phải tiếp xúc trực tiếp với mưa nắng, gió bão thường xuyên nên tạo hình trang trí thể hiện ở đây thường sử dụng vật liệu làm bằng pháp lam, gốm tráng men, vôi vữa, khảm sành sứ… Chính vì vậy, kiến trúc cung đình Huế vẫn giữ được nét rực rỡ trước mọi đe doạ của khí hậu và thời gian.
Bên cạnh Phòng thành, Hoàng thành, Tử Cấm Thành, đàn Nam Giao,… kinh đô Huế còn có những lăng tẩm nổi tiếng như lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức,… cùng những công trình đặc sắc mang đậm văn hoá dân tộc.
Ngoài ra, yếu tố tự nhiên và cảnh quan luôn được coi trọng trong kiến trức cung đình đã tạo ra nét đặc trưng riêng của kiến trúc kinh đô Huế.
Ngọ Môn
kinh thnh l m?t hình gần vuông gồm 3 vòng thành:
.vòng ngoài có 10 cửa và hào sâu bao quanh
.vòng giữa có ngọ môn nằm trên đường trục chính
.phần trên kiến trúc cửa ngọ môn là lầu ngũ phụng gồm 100 cột lớn nhỏ
.bên trong là nơi làm việc của triều đình,có các cung điện .Điện thái hòa là cung điện to lớn bề thế nhất
.trong cùng là tử cấm thành
Tri?u Mi?u ? kinh thnh Hu?
mái hình thuyền trang trí lu?ng long ch?u h? phù
về kết cấu:kinh thành huế có kết cấu của tòa nhà ghép``trùng thiềm điệp ốc``nóc nhà sau bao giờ cũng cao hơn nóc nhà trước.có cao,thấp,bộ mái trùng thiềm mới điệp vào nhau thành ốc,thành lớp,đẹp mắt
loại nhà ghép trùng thiềm điệp ốc huế đã giai quyết dược yêu cầu mở rộng không gian,sang tạo ra mái`` trần thừ dư``làm cầu nối vừa che khuất máng xối và hai đuôi mái nhà ,tạo nên ấn tượng đồng nhất của không gian kiến trúc.và`` vì kèo giả thú ``đã trở thành sức mạnh tổng hợp chống mưa ,nắng,lũ bão
vì kèo ở lăng đồng khánh
Lăng Khải Định
Cửa Trường An
mái cửa có sự ảnh hưởng của
kiến trúc champa
Lăng Tự Đức
Đại Nội
2.Điêu khắc và đồ hoạ, hội hoạ:
Điêu khắc:
Đặc điểm của điên khắc thời Nguyễn là làm giống như thật, sa vào các chi tiết (các chi tiết được diễn tả công phu, hiện thực) và phần nào lạm dụng những hình tượng trang trí mang tính tượng trưng cao.
Điêu khắc chủ yếu được thực hiện trong các lăng tẩm và các di tích với nhiều vẻ đẹp và trang trí đa dạng.
ë phï ®iªu ,sù phèi hîp cña nghÖ thuËt t¶ ch©n vµ c¸ch ®iÖu lµ mét thµnh c«ng lín vÒ sù diÔn ®¹t cña t¸c phÈm
kü thuËt ch¹m ®¸ thÓ hiÖn sù nhuÇn nhuyÔn,nÐt ch¹m ®iªu luyÖn vµ sèng ®éng
« héc lµ h×nh ¶nh ®· ®îc tu©n thñ mét c¸ch nghiªm ngÆt vµ phæ biÕn trong ®iªu kh¾c vµ trang trÝ nguyÔn
Tượng con nghê được khắc trên gỗ
Ngoài ra, còn có rất nhiều tượng người và tượng các con vật như voi, ngựa,…bằng chất liệu đá và một số chất liệu khác.
Tượng quan hầu ở lăng Khải Định
vc d?ng
Một số tượng thờ lớn còn đến ngày nay, như: tượng Hộ Pháp, tượng Kim Cương, tượng La Hán, tượng Thánh Mẫu,…
ë d©y ta dÔ dµng ph¸n ®o¸n vÒ sù gãp mÆt cña trêng ph¸i t¶ ch©n ph¬ng t©y víi nh÷ng nguyªn t¾c gi¶i phÉu häc trong t¹o h×nh
Tượng Hộ Pháp ở chùa Thiên Mụ
tượng phật thời nguyễn tròn,mặt bầu,thân hình thấp lùn tay chân mum mĩm.tượng đặc tả theo chiều hướng dân giang gần gũi hơn là đức tin thuần túy.hầu hết các bức tượng phật có thân hình,nét mặt,kiểu dáng rất hồn nhiên,muốn nói lên sự trong sáng gần gũi của tượng phật mà không quá trang nghiêm
Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ... Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.
Đồ hoạ, hội hoạ:
Cùng với dòng tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống đã nổi tiếng từ lâu đời còn có dòng tranh Kim Hoàng (Hoài Đức, Hà Tây), tranh làng Sình (Phú Mậu, Huế).
Tranh "Lợn có xoáy âm dương" của Đông Hồ
Tranh thờ "Ngũ hổ" của Hàng Trống
Tranh làng Sình
Tranh làng Sình khác với tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), tranh Hàng Trống (Hà Nội) bởi chức năng duy nhất là phục vụ thờ cúng, cúng xong là đốt. Vì vậy, đến nay chỉ còn những bản khắc gỗ là hiện vật quý giá còn lưu giữ được ở nhà ông Kỳ Hữu Phước - một nghệ nhân làm tranh lâu năm ở làng Sình.
Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng, có khoảng 50 đề tài tranh. Các đề tài tranh chủ yếu phản ánh tín ngưỡng cổ xưa. Ngoài các đề tài về tín ngưỡng, phục vụ thờ cúng còn có tranh Tố Nữ , tranh tả cảnh sinh hoạt xã hội...
Đầu thế kỉ XX, một bộ tranh khắc đồ sộ ra đời mang tên “Bách khoa thư văn hoá vật chất của Việt Nam” do người Pháp thực hiện với sự cộng tác của một thợ vẽ và ba mươi thợ khắc Việt Nam. Tập tranh có 700 tranh in trắng đen kích thước lớn với hơn 4000 bức vẽ miêu tả những sinh hoạt thường ngày, các công cụ, đồ dùng và các nghề cổ truyền của người Việt ở miền Bắc.
.
Tác phẩm hội hoạ tuy không còn lại bao nhiêu, nhưng một số tranh vẽ trên tường, trên kính, ở các công trình kiến trúc cho thấy hội hoạ nước ta vào thời Nguyễn đã sự tiếp xúc với hội hoạ châu Âu.
Tranh khảm sành, sứ trong lăng Khải Định (Huế)
Tranh chân dung Lý Nam Đế và Hoàng Hậu (Thái Bình)
Hình tang trí ở lăng Khải Định (Huế)
Tranh khảm sành, sứ
Tranh thờ Thập điện (triều Nguyễn)
bình phong long mã(trường quốc học)
Trường Mĩ thuật Đông Dương (nay là trường Mĩ thuật Hà Nội) được thành lập năm 1925 ở Hà Nội đã mở ra một hướng mới cho sự phát triển của Mĩ thuật Việt Nam.
Trường Mĩ thuật Đông Dương ( Hà Nội)
gốm thời nguyễn
vào thời nguyễn gốm việt nam bước vào con đường suy thoái.chủ yếu dùng trong nội địa.triều điình huế raatsnhanj chế sử dụng gốm nội.không có chính sách khuyến khích gốm phat triển và vì thế gốm việt nam phát triển yếu.ngược lai gốm trung quốc,nhạt bản va châu âu nhập khẩu vào việt nam rất mạnh.trong đó có cả gốm trung quốc sản xuất theo đơn đạt hàng(có gửi mẫu)của triều đình nhà nguyễn và gốm châu âu được triều đình nhà nguyễn sử dụng rồi dùng men trang trí thêm hoa văn...(tăng hoa)nung lần thứ 2,dưới đế có ghi``minh mạng...niên tăng hoa``gọi là gốm bleus de huế
III.Đặc điểm của mĩ thuật thời Nguyễn:
Kiến trúc hài hoà với thiên nhiên, luôn kết hợp với nghệ thật trang trí và có kết cấu tổng thể chặt chẽ (tiêu biểu là kinh thành Huế)
kiÕn tróc nguyÔn lu«n t«n träng c¶nh quan phong thñy,dÞch lÝ vµ quan niÖm trÞ ®¹o cña nho gi¸o
nh÷ng häa tiÕt trang trÝ cña mü thuËt nguyÔn quen sö dông nh÷ng kiÓu thøc hoa la,chim chãc,cÇm thó,m©y níc,ngay c¶ nh÷ng ch÷ phíc,léc,thä còng l¾m khi dîc c¸ch ®iÖu trong nh÷ng nÐt uèn lîn cña hoa l¸
mü thuËt nguyÔn thêng trang trÝ trong cac phiÕn «,héc h×nh ch÷ nhËt gon gµng,kÝch thíc nhá
mü thuËt nguyÔn thiªn vÒ c¸i ®Ñp tinh tÕ,tØ mØ vÒ chi tiÕt,nhá bÐ mµ tinh x¶o
®iêu khắc và đồ hoạ, hội hoạ đã phát triển đa dạng, kế thừa truyền thống dân tộc và bước đầu tiếp thu nghệ thuật châu Âu (Pháp
THE END!
k1a3 sư phạm mỹ thuật
(1802-1945)
I.Vaøi neùt veà boái caûnh lòch söû:
“... Thời kỳ Nguyễn Sơ đã chứng kiến sự phát triển rực rỡ của
80 năm văn hóa Phú Xuân trong nhiều lãnh vực ...”
Lê Văn Hảo
Triều Nguyễn (1802-1945) là vương triều cuối cùng của thời đại quân chủ Việt Nam.Với tất cả 13 đời vua, khởi đầu từ Gia Long và kết thúc với Bảo Đại, thời Nguyễn có thể chia ra làm hai giai đoạn : thời Nguyễn Sơ (1802-1883) và thời Nguyễn Mạt - thuộc Pháp (1885-1945).
Một số hình ảnh về các vua thời Nguyễn : Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Hàm Nghi, Bảo Đại (từ trái sang)
Sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi, niên hiệu Gia Long, vẫn đặt kinh đô tại Phú Xuân (thành phố Huế ngày nay), đặt quốc hiệu là Việt Nam rồi Đại Nam, thiết lập chế độ quân chủ chuyên quyền, chấm dứt nạn cát cứ nội chiến.
(Súng thần công thời Nguyễn)
Nhà Nguyễn đề cao tư tưởng Nho giáo và tiến hành một số cải cách nông nghiệp như : khai hoang, lập đồn điền,… nhưng do chính sách “Bế quan tỏa cảng”, ít giao thiệp với bên ngoài làm cho đất nước chậm phát triển nên đã dẫn đến nguy cơ mất nước vào tay thực dân Pháp.
Nhằm đảm bảo việc thu thuế hoặc cung cấp nhu yếu phẩm cần thiết, nhà Nguyễn đã định rõ quy chế thành lập một số phường thủ công gọi là "ty" hay "cục" có nhiệm vụ sản xuất những vật phẩm cần thiết do nhà nước giao
II.Một số thành tựu về mĩ thuật:
Mĩ thuật thời Nguyễn phát triển đa dạng, còn để lại một số công trình nghệ thuật có giá trị cho kho tàng văn hóa dân tộc như tháp chùa Thiên Mụ (Huế), pho tượng Thánh Gióng bằng đồng kích thước tương đối lớn ở Gia Lâm (Hà Nội) và lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, các cung điện ở Huế…
Mĩ thuật thời Nguyễn (thế kỉ 19): hầu như được tách ra làm hai hướng:
Một hướng của triều đình tập trung cho các cung điện và các lăng tẩm nhà vua ở Huế. Quy mô, tầm cỡ lớn hơn những thời trước đó nhưng nghệ thuật cũng không có gì nổi trội hơn. Tuy nhiên, đã hoạch định được một phong cách cung đình ổn định để ngày nay xứng đáng được công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Hình ảnh một số lăng mộ của các vua thời Nguyễn:
Hướng thứ hai là hướng nghệ thuật lan toả rộng rãi trong nhân dân như chạm khắc trang trí đình làng, tượng ở đền chùa, tranh thờ, tranh dân gian, đồ gốm, đồ thủ công mĩ nghệ vẫn phát triển và tiếp nối được truyền thống.
1.Kiến trúc kinh đô Huế:
Trong gần 400 năm (1558-1945), Huế đã từng là Thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là Kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến Kinh đô của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn. Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Suốt mấy thế kỷ, bao nhiêu tinh hoa của cả nước được chắt lọc hội tụ về đây hun đúc cho một nền văn hóa đậm đà bản sắc để hoàn chỉnh cho một bức tranh thiên nhiên tuyệt vời sẵn bày sông núi hữu tình thơ mộng. Bởi vậy, nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến những thành quách, cung điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng tích thiên nhiên thợ trời khéo tạc...
Kiến trúc kinh đô Huế là quần thể kiến trúc gồm có Hoàng thành, các cung điện, lăng tẩm,… được khởi công xây dựng năm 1805; là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học Trung Hoa cùng những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương Tây. Không gây ấn tượng trấn áp tinh thần, cũng không có vẻ hoang sơ dã thảo, Kinh Thành Huế khiến cho người ta cảm nhận được đúng mức không khí tôn nghiêm nhưng không mất đi cảm giác êm đềm thư thái giữa thiên nhiên gần gũi. Bên cạnh đó, phong cách kiến trúc và cách bố phòng khiến Kinh Thành Huế thực sự như một pháo đài vĩ đại và kiên cố nhất từ trước đến nay ở Việt Nam mà Le Rey, một thuyền trưởng người Pháp đã từng đến Huế năm 1819 phải thốt lên: “Kinh Thành Huế thực sự là pháo đài đẹp nhất, đăng đối nhất ở Đông Dương, thậm chí so với cả pháo đài William ở Calcutta và Saint Georges ở Madras do người Anh xây dựng”.
Và, cũng do phải tiếp xúc trực tiếp với mưa nắng, gió bão thường xuyên nên tạo hình trang trí thể hiện ở đây thường sử dụng vật liệu làm bằng pháp lam, gốm tráng men, vôi vữa, khảm sành sứ… Chính vì vậy, kiến trúc cung đình Huế vẫn giữ được nét rực rỡ trước mọi đe doạ của khí hậu và thời gian.
Bên cạnh Phòng thành, Hoàng thành, Tử Cấm Thành, đàn Nam Giao,… kinh đô Huế còn có những lăng tẩm nổi tiếng như lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức,… cùng những công trình đặc sắc mang đậm văn hoá dân tộc.
Ngoài ra, yếu tố tự nhiên và cảnh quan luôn được coi trọng trong kiến trức cung đình đã tạo ra nét đặc trưng riêng của kiến trúc kinh đô Huế.
Ngọ Môn
kinh thnh l m?t hình gần vuông gồm 3 vòng thành:
.vòng ngoài có 10 cửa và hào sâu bao quanh
.vòng giữa có ngọ môn nằm trên đường trục chính
.phần trên kiến trúc cửa ngọ môn là lầu ngũ phụng gồm 100 cột lớn nhỏ
.bên trong là nơi làm việc của triều đình,có các cung điện .Điện thái hòa là cung điện to lớn bề thế nhất
.trong cùng là tử cấm thành
Tri?u Mi?u ? kinh thnh Hu?
mái hình thuyền trang trí lu?ng long ch?u h? phù
về kết cấu:kinh thành huế có kết cấu của tòa nhà ghép``trùng thiềm điệp ốc``nóc nhà sau bao giờ cũng cao hơn nóc nhà trước.có cao,thấp,bộ mái trùng thiềm mới điệp vào nhau thành ốc,thành lớp,đẹp mắt
loại nhà ghép trùng thiềm điệp ốc huế đã giai quyết dược yêu cầu mở rộng không gian,sang tạo ra mái`` trần thừ dư``làm cầu nối vừa che khuất máng xối và hai đuôi mái nhà ,tạo nên ấn tượng đồng nhất của không gian kiến trúc.và`` vì kèo giả thú ``đã trở thành sức mạnh tổng hợp chống mưa ,nắng,lũ bão
vì kèo ở lăng đồng khánh
Lăng Khải Định
Cửa Trường An
mái cửa có sự ảnh hưởng của
kiến trúc champa
Lăng Tự Đức
Đại Nội
2.Điêu khắc và đồ hoạ, hội hoạ:
Điêu khắc:
Đặc điểm của điên khắc thời Nguyễn là làm giống như thật, sa vào các chi tiết (các chi tiết được diễn tả công phu, hiện thực) và phần nào lạm dụng những hình tượng trang trí mang tính tượng trưng cao.
Điêu khắc chủ yếu được thực hiện trong các lăng tẩm và các di tích với nhiều vẻ đẹp và trang trí đa dạng.
ë phï ®iªu ,sù phèi hîp cña nghÖ thuËt t¶ ch©n vµ c¸ch ®iÖu lµ mét thµnh c«ng lín vÒ sù diÔn ®¹t cña t¸c phÈm
kü thuËt ch¹m ®¸ thÓ hiÖn sù nhuÇn nhuyÔn,nÐt ch¹m ®iªu luyÖn vµ sèng ®éng
« héc lµ h×nh ¶nh ®· ®îc tu©n thñ mét c¸ch nghiªm ngÆt vµ phæ biÕn trong ®iªu kh¾c vµ trang trÝ nguyÔn
Tượng con nghê được khắc trên gỗ
Ngoài ra, còn có rất nhiều tượng người và tượng các con vật như voi, ngựa,…bằng chất liệu đá và một số chất liệu khác.
Tượng quan hầu ở lăng Khải Định
vc d?ng
Một số tượng thờ lớn còn đến ngày nay, như: tượng Hộ Pháp, tượng Kim Cương, tượng La Hán, tượng Thánh Mẫu,…
ë d©y ta dÔ dµng ph¸n ®o¸n vÒ sù gãp mÆt cña trêng ph¸i t¶ ch©n ph¬ng t©y víi nh÷ng nguyªn t¾c gi¶i phÉu häc trong t¹o h×nh
Tượng Hộ Pháp ở chùa Thiên Mụ
tượng phật thời nguyễn tròn,mặt bầu,thân hình thấp lùn tay chân mum mĩm.tượng đặc tả theo chiều hướng dân giang gần gũi hơn là đức tin thuần túy.hầu hết các bức tượng phật có thân hình,nét mặt,kiểu dáng rất hồn nhiên,muốn nói lên sự trong sáng gần gũi của tượng phật mà không quá trang nghiêm
Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ... Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.
Đồ hoạ, hội hoạ:
Cùng với dòng tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống đã nổi tiếng từ lâu đời còn có dòng tranh Kim Hoàng (Hoài Đức, Hà Tây), tranh làng Sình (Phú Mậu, Huế).
Tranh "Lợn có xoáy âm dương" của Đông Hồ
Tranh thờ "Ngũ hổ" của Hàng Trống
Tranh làng Sình
Tranh làng Sình khác với tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), tranh Hàng Trống (Hà Nội) bởi chức năng duy nhất là phục vụ thờ cúng, cúng xong là đốt. Vì vậy, đến nay chỉ còn những bản khắc gỗ là hiện vật quý giá còn lưu giữ được ở nhà ông Kỳ Hữu Phước - một nghệ nhân làm tranh lâu năm ở làng Sình.
Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng, có khoảng 50 đề tài tranh. Các đề tài tranh chủ yếu phản ánh tín ngưỡng cổ xưa. Ngoài các đề tài về tín ngưỡng, phục vụ thờ cúng còn có tranh Tố Nữ , tranh tả cảnh sinh hoạt xã hội...
Đầu thế kỉ XX, một bộ tranh khắc đồ sộ ra đời mang tên “Bách khoa thư văn hoá vật chất của Việt Nam” do người Pháp thực hiện với sự cộng tác của một thợ vẽ và ba mươi thợ khắc Việt Nam. Tập tranh có 700 tranh in trắng đen kích thước lớn với hơn 4000 bức vẽ miêu tả những sinh hoạt thường ngày, các công cụ, đồ dùng và các nghề cổ truyền của người Việt ở miền Bắc.
.
Tác phẩm hội hoạ tuy không còn lại bao nhiêu, nhưng một số tranh vẽ trên tường, trên kính, ở các công trình kiến trúc cho thấy hội hoạ nước ta vào thời Nguyễn đã sự tiếp xúc với hội hoạ châu Âu.
Tranh khảm sành, sứ trong lăng Khải Định (Huế)
Tranh chân dung Lý Nam Đế và Hoàng Hậu (Thái Bình)
Hình tang trí ở lăng Khải Định (Huế)
Tranh khảm sành, sứ
Tranh thờ Thập điện (triều Nguyễn)
bình phong long mã(trường quốc học)
Trường Mĩ thuật Đông Dương (nay là trường Mĩ thuật Hà Nội) được thành lập năm 1925 ở Hà Nội đã mở ra một hướng mới cho sự phát triển của Mĩ thuật Việt Nam.
Trường Mĩ thuật Đông Dương ( Hà Nội)
gốm thời nguyễn
vào thời nguyễn gốm việt nam bước vào con đường suy thoái.chủ yếu dùng trong nội địa.triều điình huế raatsnhanj chế sử dụng gốm nội.không có chính sách khuyến khích gốm phat triển và vì thế gốm việt nam phát triển yếu.ngược lai gốm trung quốc,nhạt bản va châu âu nhập khẩu vào việt nam rất mạnh.trong đó có cả gốm trung quốc sản xuất theo đơn đạt hàng(có gửi mẫu)của triều đình nhà nguyễn và gốm châu âu được triều đình nhà nguyễn sử dụng rồi dùng men trang trí thêm hoa văn...(tăng hoa)nung lần thứ 2,dưới đế có ghi``minh mạng...niên tăng hoa``gọi là gốm bleus de huế
III.Đặc điểm của mĩ thuật thời Nguyễn:
Kiến trúc hài hoà với thiên nhiên, luôn kết hợp với nghệ thật trang trí và có kết cấu tổng thể chặt chẽ (tiêu biểu là kinh thành Huế)
kiÕn tróc nguyÔn lu«n t«n träng c¶nh quan phong thñy,dÞch lÝ vµ quan niÖm trÞ ®¹o cña nho gi¸o
nh÷ng häa tiÕt trang trÝ cña mü thuËt nguyÔn quen sö dông nh÷ng kiÓu thøc hoa la,chim chãc,cÇm thó,m©y níc,ngay c¶ nh÷ng ch÷ phíc,léc,thä còng l¾m khi dîc c¸ch ®iÖu trong nh÷ng nÐt uèn lîn cña hoa l¸
mü thuËt nguyÔn thêng trang trÝ trong cac phiÕn «,héc h×nh ch÷ nhËt gon gµng,kÝch thíc nhá
mü thuËt nguyÔn thiªn vÒ c¸i ®Ñp tinh tÕ,tØ mØ vÒ chi tiÕt,nhá bÐ mµ tinh x¶o
®iêu khắc và đồ hoạ, hội hoạ đã phát triển đa dạng, kế thừa truyền thống dân tộc và bước đầu tiếp thu nghệ thuật châu Âu (Pháp
THE END!
k1a3 sư phạm mỹ thuật
 







Các ý kiến mới nhất