Tìm kiếm Bài giảng
Bài 10. Nghị luận trong văn bản tự sự

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Lê Hoàng Vũ
Ngày gửi: 18h:24' 15-11-2021
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 886
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Lê Hoàng Vũ
Ngày gửi: 18h:24' 15-11-2021
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 886
Số lượt thích:
0 người
LỚP : LÁ
Giáo viên : Nguyễn Thị Thân
TI?T 52, 53
NGH? LU?N TRONG VAN B?N T? S?
I/ Tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự :
1/ Đọc hai đoạn trích trang 137, 138
a/ Căn cứ vào định nghĩa, hãy tìm và chỉ ra những câu, chữ thể hiện rõ tính chất nghị luận trong hai đoạn trích trên
Đoạn a/ : Đây là suy nghĩ nội tâm của ông giáo trong truyện Lão Hạc của Nam Cao
- Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiếu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi... toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thương...
- Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu ? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa.
Đoạn b/
Dễ dàng là thói hồng nhan
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.
- Rằng : tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Lòng riêng riêng những kính yêu
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai !
Trót lòng gây việc chông gai
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng...
b/ Yếu tố nghị luận có thể làm cho văn bản tự sự thêm sâu sắc thế nào ?
- Trong mỗi đoạn trích, nhân vật nêu ra những luận điểm gì ?
- Luận cứ và lập luận như thế nào ?
- Các câu trong văn bản thường sử dụng là loại câu gì ?
Đoạn a/ :
- Nêu vấn đề : Nếu ta không cố tìm mà hiểu những người xung quanh thì ta luôn có cớ để tàn nhẫn và độc ác với họ.
- Phát triển vấn đề : Vợ tôi không ác, nhưng sở dĩ họ trở nên ích kỉ, tàn nhẫn là vì thị đã quá khổ. Vì sao vậy ?
+ Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau ( từ một quy luật tự nhiên ).
+ Khi người ta khổ quá thì người ta không còn nghĩ đến ai được nữa ( như một quy luật tự nhiên trên mà thôi ).
+ Vì cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.
- Kết thúc vấn đề : "Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận".
Về hình thức, đoạn văn trên chứa rất nhiều từ, câu mang tính nghị luận. Đó là các câu hô ứng thể hiện các phán đoán dưới dạng nếu... thì; vì thế... cho nên, sở dĩ... là vì, khi A... thì B... Các câu văn khẳng định, ngắn gọn khúc chiết.
Đoạn b/ :
Lập luận của Kiều thể hiện ở mấy câu đầu. Sau câu chào mỉa mai là lời đay nghiến : xưa nay đàn bà có mấy người ghê gớm, cay nghiệt, càng cay nghiệt thì càng chuốc lấy oan trái.
- Lập luận của Hoạn Thư nêu lên 4 luận điểm :
+ Thứ nhất : Tôi là đàn bà nên ghen tuông là chuyện thường tình ( nêu một lí lẽ thường tình ).
+ Thứ hai : Tôi cũng đã đối xử tốt với cô khi ở gác viết kinh; khi cô trốn khỏi nhà, tôi cũng chẳng đuổi theo ( kể công ).
+ Thứ ba : Tôi với cô cùng trong cảnh chồng chung - chắc gì ai nhường cho ai.
+ Thứ tư : Dù sao tôi cũng đã trót gây đau khổ cho cô nên bây giờ chỉ biết trông nhờ vào lượng khoan dung rộng lớn của cô ( nhận tội, đề cao tâng bốc Kiều ).
Với lập luận như trên, Kiều phải công nhận Hoạn Thư là người "Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời". Và cũng chính nhờ lập luận ấy mà Hoạn Thư đã được Thúy Kiều tha bổng.
Qua đó ta thấy nghị luận trong văn bản tự sự giúp cho văn bản thêm phần triết lí.
những yếu tố kì ảo
GHI NHỚ
SGK/138
1/ Lời văn trong đoạn trích (a), mục I.1 là lời của ai ? Người ấy đang thuyết phục
ai ? Thuyết phục điều gì ?
II/ Luyện tập :
- Lời văn trong đoạn trích (a), mục I.1 là lời của nhân vật ông Giáo đang cố thuyết phục chính những độc giả của câu chuyện.
- Ông Giáo đang thuyết phục người đọc để cảm thông cho người vợ của mình, bởi thị không ác mà do hoàn cảnh sống quá đói nghèo, cơ cực nên thị phải khép mình với những người xung quanh, bản chất tốt đẹp thì bị những lo lắng của đời sống che lấp.
Qua đó, ông Giáo đang thuyết phục với những người xung quanh, hãy biết quan tâm và để ý đến mọi người xung quanh, hãy cố tìm hiểu để thấy được bản chất tốt đẹp của họ.
2/ Ở đoạn trích (b) mục I.1, Hoạn Thư đã lập luận như thế nào mà nàng Kiều phải khen rằng: “Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”? Hãy tóm tắt các nội dung lí lẽ trong lời lập luận của Hoạn Thư để làm sáng tỏ lời khen của nàng Kiều.
- Trong khung cảnh đối diện với Thúy Kiều, Hoạn Thư đã rất bình tĩnh đưa ra những lập luận, lí lẽ để biện minh cho bản thân mình. Lập luận của Hoạn Thư rất chặt chẽ, vừa có lí, vừa có tình, vừa nhận tội Vừa bào chữa, vừa đề cao người, lại vừa minh oan cho mình.
Trước hết, Hoạn Thư đưa ra giải thích sự ghen tuông là tâm lý chung của đàn bà, để mong Kiều thấy đó là lẽ thường tình mà người phụ nữ nào cũng đều thấu hiểu. Sau đó, Hoạn Thư kín đáo kể công đã chạnh lòng thương xót mà cho Kiều ra chép kinh ở Quan Âm Các và dẫu biết mà không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn. Tiếp theo, Hoạn Thư bày tỏ nỗi lòng, chồng chung nên những hờn ghen là tất yếu, đều là cảnh chồng chung nên chẳng thể nhường nhau được.
Sắc sảo và khôn ngoan hơn, cuối cùng Hoạn Thư nhận hết tội lỗi về mình và xin Kiều khoan dung.
Trước những lời lẽ của Hoạn Thư, Kiều phải thừa nhận rằng ả "Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời" và đã chấp nhận tha cho Hoạn Thư.
Thông qua những lời lẽ biện minh, lập luận chặt chẽ của Hoạn Thư, Nguyễn Du đã tô đậm tính cách của nhân vật, làm cho nội dung tự sự trở nên mạch lạc, khúc chiết.
GIAO NHIỆM VỤ
Tiết 54 : Trả bài kiểm tra giữa kì
XIN CHÀO TẠM BIỆT
Giáo viên : Nguyễn Thị Thân
TI?T 52, 53
NGH? LU?N TRONG VAN B?N T? S?
I/ Tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự :
1/ Đọc hai đoạn trích trang 137, 138
a/ Căn cứ vào định nghĩa, hãy tìm và chỉ ra những câu, chữ thể hiện rõ tính chất nghị luận trong hai đoạn trích trên
Đoạn a/ : Đây là suy nghĩ nội tâm của ông giáo trong truyện Lão Hạc của Nam Cao
- Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiếu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi... toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thương...
- Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu ? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa.
Đoạn b/
Dễ dàng là thói hồng nhan
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.
- Rằng : tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Lòng riêng riêng những kính yêu
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai !
Trót lòng gây việc chông gai
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng...
b/ Yếu tố nghị luận có thể làm cho văn bản tự sự thêm sâu sắc thế nào ?
- Trong mỗi đoạn trích, nhân vật nêu ra những luận điểm gì ?
- Luận cứ và lập luận như thế nào ?
- Các câu trong văn bản thường sử dụng là loại câu gì ?
Đoạn a/ :
- Nêu vấn đề : Nếu ta không cố tìm mà hiểu những người xung quanh thì ta luôn có cớ để tàn nhẫn và độc ác với họ.
- Phát triển vấn đề : Vợ tôi không ác, nhưng sở dĩ họ trở nên ích kỉ, tàn nhẫn là vì thị đã quá khổ. Vì sao vậy ?
+ Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau ( từ một quy luật tự nhiên ).
+ Khi người ta khổ quá thì người ta không còn nghĩ đến ai được nữa ( như một quy luật tự nhiên trên mà thôi ).
+ Vì cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.
- Kết thúc vấn đề : "Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận".
Về hình thức, đoạn văn trên chứa rất nhiều từ, câu mang tính nghị luận. Đó là các câu hô ứng thể hiện các phán đoán dưới dạng nếu... thì; vì thế... cho nên, sở dĩ... là vì, khi A... thì B... Các câu văn khẳng định, ngắn gọn khúc chiết.
Đoạn b/ :
Lập luận của Kiều thể hiện ở mấy câu đầu. Sau câu chào mỉa mai là lời đay nghiến : xưa nay đàn bà có mấy người ghê gớm, cay nghiệt, càng cay nghiệt thì càng chuốc lấy oan trái.
- Lập luận của Hoạn Thư nêu lên 4 luận điểm :
+ Thứ nhất : Tôi là đàn bà nên ghen tuông là chuyện thường tình ( nêu một lí lẽ thường tình ).
+ Thứ hai : Tôi cũng đã đối xử tốt với cô khi ở gác viết kinh; khi cô trốn khỏi nhà, tôi cũng chẳng đuổi theo ( kể công ).
+ Thứ ba : Tôi với cô cùng trong cảnh chồng chung - chắc gì ai nhường cho ai.
+ Thứ tư : Dù sao tôi cũng đã trót gây đau khổ cho cô nên bây giờ chỉ biết trông nhờ vào lượng khoan dung rộng lớn của cô ( nhận tội, đề cao tâng bốc Kiều ).
Với lập luận như trên, Kiều phải công nhận Hoạn Thư là người "Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời". Và cũng chính nhờ lập luận ấy mà Hoạn Thư đã được Thúy Kiều tha bổng.
Qua đó ta thấy nghị luận trong văn bản tự sự giúp cho văn bản thêm phần triết lí.
những yếu tố kì ảo
GHI NHỚ
SGK/138
1/ Lời văn trong đoạn trích (a), mục I.1 là lời của ai ? Người ấy đang thuyết phục
ai ? Thuyết phục điều gì ?
II/ Luyện tập :
- Lời văn trong đoạn trích (a), mục I.1 là lời của nhân vật ông Giáo đang cố thuyết phục chính những độc giả của câu chuyện.
- Ông Giáo đang thuyết phục người đọc để cảm thông cho người vợ của mình, bởi thị không ác mà do hoàn cảnh sống quá đói nghèo, cơ cực nên thị phải khép mình với những người xung quanh, bản chất tốt đẹp thì bị những lo lắng của đời sống che lấp.
Qua đó, ông Giáo đang thuyết phục với những người xung quanh, hãy biết quan tâm và để ý đến mọi người xung quanh, hãy cố tìm hiểu để thấy được bản chất tốt đẹp của họ.
2/ Ở đoạn trích (b) mục I.1, Hoạn Thư đã lập luận như thế nào mà nàng Kiều phải khen rằng: “Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”? Hãy tóm tắt các nội dung lí lẽ trong lời lập luận của Hoạn Thư để làm sáng tỏ lời khen của nàng Kiều.
- Trong khung cảnh đối diện với Thúy Kiều, Hoạn Thư đã rất bình tĩnh đưa ra những lập luận, lí lẽ để biện minh cho bản thân mình. Lập luận của Hoạn Thư rất chặt chẽ, vừa có lí, vừa có tình, vừa nhận tội Vừa bào chữa, vừa đề cao người, lại vừa minh oan cho mình.
Trước hết, Hoạn Thư đưa ra giải thích sự ghen tuông là tâm lý chung của đàn bà, để mong Kiều thấy đó là lẽ thường tình mà người phụ nữ nào cũng đều thấu hiểu. Sau đó, Hoạn Thư kín đáo kể công đã chạnh lòng thương xót mà cho Kiều ra chép kinh ở Quan Âm Các và dẫu biết mà không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn. Tiếp theo, Hoạn Thư bày tỏ nỗi lòng, chồng chung nên những hờn ghen là tất yếu, đều là cảnh chồng chung nên chẳng thể nhường nhau được.
Sắc sảo và khôn ngoan hơn, cuối cùng Hoạn Thư nhận hết tội lỗi về mình và xin Kiều khoan dung.
Trước những lời lẽ của Hoạn Thư, Kiều phải thừa nhận rằng ả "Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời" và đã chấp nhận tha cho Hoạn Thư.
Thông qua những lời lẽ biện minh, lập luận chặt chẽ của Hoạn Thư, Nguyễn Du đã tô đậm tính cách của nhân vật, làm cho nội dung tự sự trở nên mạch lạc, khúc chiết.
GIAO NHIỆM VỤ
Tiết 54 : Trả bài kiểm tra giữa kì
XIN CHÀO TẠM BIỆT
 








Các ý kiến mới nhất