Tìm kiếm Bài giảng
Bài 10. Nghị luận trong văn bản tự sự

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trí Thức
Ngày gửi: 12h:15' 21-12-2021
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 121
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trí Thức
Ngày gửi: 12h:15' 21-12-2021
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 121
Số lượt thích:
0 người
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
Ngô gia văn phái
Văn bản – Tiết 21, 22
Tuần 10 - Tiết 51, 52
NGHỊ LUẬN
TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
I.Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
Đoạn văn a:
Chao ôi ! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn ; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương… Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thí người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận.
( Nam Cao- Lão Hạc)
(a). Đoạn trích (Lão Hạc của Nam Cao)
Ông Giáo đã đưa ra các luận điểm và lập luận theo lôgíc sau:
Nêu vấn đề: Nếu ta không tìm mà hiểu những người ở xung quanh ta thì ta luôn có cơ sở tàn nhẫn và độc ác với họ.
Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải là người ác, nhưng sở dĩ thị trở nên ích kỉ, tàn nhẫn là vì thị đã quá khổ: Vì sao?
+ Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau
+ Khi người ta khổ thì người ta không còn nghĩ đến ai được nữa
+ Vì cái bản tính tốt của người ta bị những nổi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.
-Kết thúc vấn đề: “Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nở giận”.
*Về hình thức: Nhiều câu mang tính chất nghị luận đó là các câu hô ứng thể hiện các phán đoán như: Nếu …thì, vì thế …cho nên, sở dĩ …là vì,…
-> Câu văn khẳng định, ngắn gọn, khúc chiết như diễn đạt một chân lí sống và tính cách của ông giáo: một người có học thức, hiểu biết, giàu lòng thương người, luôn trăn trở, suy nghĩ về cách sống, cách nhìn người, nhìn đời…
HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Đoạn văn b.
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“ Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.
Hoạn thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kiêu ca.
Rằng: “Tôi chúc phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.
Khen cho : “thật đã nên rằng,
Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”.
( Nguyễn Du- Truyện Kiều)
I.Tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự
b). Đoạn trích “Kiều báo ân báo oán”- Nguyễn Du
Đoạn thoại giữa Kiều và Hoạn Thư
Lập luận của Hoạn Thư 8 dòng thơ với 4 luận điểm:
- Thứ nhất: Tôi là đàn bà nên ghen tuông là chuyện thường tình.(lẽ thường)
- Thứ hai: Ngoài ra tôi cũng đối xử rất tốt với cô.Khi cô trốn không đuổi theo.
(kể công)
Thứ ba: Tôi với cô trong cảnh chồng chung. Chắc gì ai nhường cho ai.
Thứ tư: Nhưng dù sao tôi đã trót gây đau khổ cho cô nên bây giờ chỉ biết trông nhờ vào lượng khoan dung rộng lớn của cô.(nhận tội và đề cao tâng bốc Kiều)
Với lập luận trên, Kiều phải công nhận tài của Hoạn Thư “ khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”
?. Từ việc tìm hiểu hai đoạn trích, hãy trao đổi để rút ra dấu hiệu và đặc điểm, vai trò của yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự.
Nghị luận thực chất là các cuộc đối thoại với các nhận xét, phán đoán các lí lẽ, dẫn chứng nhằm thuyết phục người đọc, người nghe phải suy nghĩ về một vấn đề, một tư tưởng, một quan điểm nào đó.
Trong đoạn văn nghị luận, người viết ít dùng câu miêu tả, trần thuật mà thường dùng nhiều loại câu khẳng định, phủ định và câu có các cặp quan hệ từ như: không những …mà còn, vì thế…cho nên… Dùng nhiều từ ngữ như: tại sao, thật vậy, tuy thế, trước hết, sau cùng, nói chung, tóm lại...
-Yếu tố nghị luận làm cho đoạn văn có lập luận chặt chẽ, sức thuyết phục cao.
Trong văn bản tự sự để người đọc(người nghe) phải suy nghĩ về một vấn đề nào đó, người viết( người kể) và nhân vật có khi nghị luận bằng cách nêu lên các ý kiến, nhận xét cùng những lí lẽ và dẫn chứng. Nội dung đó thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận, làm cho câu chuyện thêm phần triết lí.
I. Yếu nghị luận trong văn bản tự sự
II. Thực hành viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận:
II. Thực hành viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận:
BT1/ 161: Viết một đoạn văn kể lại buổi sinh hoạt lớp. Trong buổi sinh hoạt đó, em đã phát biểu ý kiến Nam là một người bạn tốt.
Bước 1: Hướng dẫn làm bài:
- Buổi sinh hoạt lớp diễn ra như thế nào ( thời gian, địa điểm, ai là người điều khiển, không khí của buổi sinh hoạt lớp ra sao …) ?
- Nội dung buổi sinh hoạt là gì ?Em đã phát biểu về vấn đề gì? Tại sao lại phát biểu về việc đó?
- Em đã thuyết phục cả lớp rằng Nam là người bạn tốt như thế nào ( lí lẽ, ví dụ, phân tích…)?
Bước 2: Thời gian thực hiện bài tập 1: Viết đoạn văn 10 phút
Bước 3: Học sinh trình bày bài làm của mình và cả lớp góp ý nhận xét, đánh giá
II. Thực hành viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận:
BT2/ 161: Viết đoạn văn kể về những việc làm hoặc những lời dạy bảo giản dị mà sâu sắc của người Bà kính yêu đã làm cho em cảm động ( trong đoạn văn có sử dụng yếu tố nghị luận).
Bước 1: Hướng dẫn làm bài:
- Suy nghĩ về bài học rút ra từ câu chuyện trên ?
- Người đó đã để lại lời nói, việc làm hay một suy nghĩ gì ? Điều đó diễn ra trong hoàn cảnh nào?
- Nội dụng cụ thể là gì? Nội dung đó giản dị mà sâu sắc, cảm động như thế nào?
Bước 2: Thời gian thực hiện bài tập 1: Viết đoạn văn 10 phút
Bước 3: Học sinh trình bày bài làm của mình và cả lớp góp ý nhận xét, đánh giá
Hướng dẫn tự học
CHÂN THÀNH CẢM ƠN CÁC EM HỌC SINH.
Ngô gia văn phái
Văn bản – Tiết 21, 22
Tuần 10 - Tiết 51, 52
NGHỊ LUẬN
TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
I.Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
Đoạn văn a:
Chao ôi ! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn ; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương… Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thí người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận.
( Nam Cao- Lão Hạc)
(a). Đoạn trích (Lão Hạc của Nam Cao)
Ông Giáo đã đưa ra các luận điểm và lập luận theo lôgíc sau:
Nêu vấn đề: Nếu ta không tìm mà hiểu những người ở xung quanh ta thì ta luôn có cơ sở tàn nhẫn và độc ác với họ.
Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải là người ác, nhưng sở dĩ thị trở nên ích kỉ, tàn nhẫn là vì thị đã quá khổ: Vì sao?
+ Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau
+ Khi người ta khổ thì người ta không còn nghĩ đến ai được nữa
+ Vì cái bản tính tốt của người ta bị những nổi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.
-Kết thúc vấn đề: “Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nở giận”.
*Về hình thức: Nhiều câu mang tính chất nghị luận đó là các câu hô ứng thể hiện các phán đoán như: Nếu …thì, vì thế …cho nên, sở dĩ …là vì,…
-> Câu văn khẳng định, ngắn gọn, khúc chiết như diễn đạt một chân lí sống và tính cách của ông giáo: một người có học thức, hiểu biết, giàu lòng thương người, luôn trăn trở, suy nghĩ về cách sống, cách nhìn người, nhìn đời…
HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Đoạn văn b.
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“ Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.
Hoạn thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kiêu ca.
Rằng: “Tôi chúc phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.
Khen cho : “thật đã nên rằng,
Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”.
( Nguyễn Du- Truyện Kiều)
I.Tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự
b). Đoạn trích “Kiều báo ân báo oán”- Nguyễn Du
Đoạn thoại giữa Kiều và Hoạn Thư
Lập luận của Hoạn Thư 8 dòng thơ với 4 luận điểm:
- Thứ nhất: Tôi là đàn bà nên ghen tuông là chuyện thường tình.(lẽ thường)
- Thứ hai: Ngoài ra tôi cũng đối xử rất tốt với cô.Khi cô trốn không đuổi theo.
(kể công)
Thứ ba: Tôi với cô trong cảnh chồng chung. Chắc gì ai nhường cho ai.
Thứ tư: Nhưng dù sao tôi đã trót gây đau khổ cho cô nên bây giờ chỉ biết trông nhờ vào lượng khoan dung rộng lớn của cô.(nhận tội và đề cao tâng bốc Kiều)
Với lập luận trên, Kiều phải công nhận tài của Hoạn Thư “ khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”
?. Từ việc tìm hiểu hai đoạn trích, hãy trao đổi để rút ra dấu hiệu và đặc điểm, vai trò của yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự.
Nghị luận thực chất là các cuộc đối thoại với các nhận xét, phán đoán các lí lẽ, dẫn chứng nhằm thuyết phục người đọc, người nghe phải suy nghĩ về một vấn đề, một tư tưởng, một quan điểm nào đó.
Trong đoạn văn nghị luận, người viết ít dùng câu miêu tả, trần thuật mà thường dùng nhiều loại câu khẳng định, phủ định và câu có các cặp quan hệ từ như: không những …mà còn, vì thế…cho nên… Dùng nhiều từ ngữ như: tại sao, thật vậy, tuy thế, trước hết, sau cùng, nói chung, tóm lại...
-Yếu tố nghị luận làm cho đoạn văn có lập luận chặt chẽ, sức thuyết phục cao.
Trong văn bản tự sự để người đọc(người nghe) phải suy nghĩ về một vấn đề nào đó, người viết( người kể) và nhân vật có khi nghị luận bằng cách nêu lên các ý kiến, nhận xét cùng những lí lẽ và dẫn chứng. Nội dung đó thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận, làm cho câu chuyện thêm phần triết lí.
I. Yếu nghị luận trong văn bản tự sự
II. Thực hành viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận:
II. Thực hành viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận:
BT1/ 161: Viết một đoạn văn kể lại buổi sinh hoạt lớp. Trong buổi sinh hoạt đó, em đã phát biểu ý kiến Nam là một người bạn tốt.
Bước 1: Hướng dẫn làm bài:
- Buổi sinh hoạt lớp diễn ra như thế nào ( thời gian, địa điểm, ai là người điều khiển, không khí của buổi sinh hoạt lớp ra sao …) ?
- Nội dung buổi sinh hoạt là gì ?Em đã phát biểu về vấn đề gì? Tại sao lại phát biểu về việc đó?
- Em đã thuyết phục cả lớp rằng Nam là người bạn tốt như thế nào ( lí lẽ, ví dụ, phân tích…)?
Bước 2: Thời gian thực hiện bài tập 1: Viết đoạn văn 10 phút
Bước 3: Học sinh trình bày bài làm của mình và cả lớp góp ý nhận xét, đánh giá
II. Thực hành viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận:
BT2/ 161: Viết đoạn văn kể về những việc làm hoặc những lời dạy bảo giản dị mà sâu sắc của người Bà kính yêu đã làm cho em cảm động ( trong đoạn văn có sử dụng yếu tố nghị luận).
Bước 1: Hướng dẫn làm bài:
- Suy nghĩ về bài học rút ra từ câu chuyện trên ?
- Người đó đã để lại lời nói, việc làm hay một suy nghĩ gì ? Điều đó diễn ra trong hoàn cảnh nào?
- Nội dụng cụ thể là gì? Nội dung đó giản dị mà sâu sắc, cảm động như thế nào?
Bước 2: Thời gian thực hiện bài tập 1: Viết đoạn văn 10 phút
Bước 3: Học sinh trình bày bài làm của mình và cả lớp góp ý nhận xét, đánh giá
Hướng dẫn tự học
CHÂN THÀNH CẢM ƠN CÁC EM HỌC SINH.
 








Các ý kiến mới nhất