Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

NGOẠI GIAO

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thanh Lưu
Ngày gửi: 00h:25' 22-11-2012
Dung lượng: 3.5 MB
Số lượt tải: 128
Số lượt thích: 0 người
Trường Đại học Sài Gòn
Khoa Văn hóa – Du lịch
Lớp DVI110
Học phần : Ngoại giao Việt Nma
GVHD: TS. Phạm Thị Thu Nga
NGOẠI GIAO VIỆT NAM
Giai đoạn 1975 đến nay
1
THÀNH VIÊN
NHÓM 9
Dương Thị Kim Thoa
Trần Thanh Trúc
Phan Thị Bá Thi
Hồ Minh Tống
Nguyễn Thị Ngọc Trâm
Nguyễn Xuân Truyền
2
NGOẠI GIAO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975 ĐẾN NAY
PHẦN I
PHẦN III
PHẦN II
CHƯƠNG I : NGOẠI GIAO VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1975 –1986
CHƯƠNG II: NGOẠI GIAO VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY
CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM NGOẠI GIAO VIỆT NAM
CHƯƠNG IV: BÀI HỌC KINH NGHIỆM
KHÁI LƯỢC NGOẠI GIAO VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY
KẾT LUẬN
3
NỘI

DUNG
4
PHẦN I
KHÁI LƯỢC NGOẠI GIAO VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY
4
CỔ ĐẠI
TRUNG ĐẠI
CẬN ĐẠI
HIỆN ĐẠI
NĂM 1986
I. SƠ ĐỒ KHÁI QUÁT NGOẠI GIAO VIỆT NAM
5
II. NGOẠI GIAO TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA
- Hoạt động ngoại giao ngày càng chịu sự tác động mạnh mẽ của yếu tố kinh tế.
- Xu hướng đối ngoại ngày càng phát triển.
- Ngày nay các tổ chức quốc tế, các nước lớn chi phối mạnh mẽ các hoạt động ngoại giao.
=> Chúng ta phải tranh thủ tối đa các cơ hội do xu thế toàn cầu hóa tạo ra để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; phải có cơ chế, chính sách để thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý và công nghệ hiện đại.
6
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐẾN
CÔNG TÁC NGOẠI GIAO
- Hồ Chí Minh là hiện thân của đường lối ngoại giao hòa bình, đối thoại, chủ trương giải quyết mọi tranh chấp xung đột bằng thương lượng, với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau.
- Hồ Chí Minh đã phát huy ngoại giao "tâm công" (đánh vào lòng người) - một truyền thống ngoại giao quý báu của ông cha ta nhằm không ngừng mở rộng tập hợp lực lượng, tăng cường đoàn kết và hợp tác quốc tế, am hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn "năm cái biết" (ngũ tri) của triết lý phương Đông: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến.
- Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử ngoại giao dân tộc ta. Ngoại giao trở thành một mặt trận, triển khai khắp thế giới và ngay tại hậu phương của đối phương.
- Là người vận dụng nhuần nhuyễn phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến", Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt.
=> Trong bối cảnh thế giới ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp ta nhận thức đúng những vấn đề lớn có liên quan đến việc bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển xã hội và bảo đảm quyền lợi con người, bởi vì Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác- Lê nin, cùng các giá trị văn hóa, nhân văn dân tộc và thế giới, những nội dung đúc rút từ nền chính trị quốc tế, thông qua các hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú đã hòa quyện trong mối liên hệ biện chứng, tạo nền tảng cho công cuộc cứu nước, là cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao.
http://www.dichvudoingoai.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=185%3Atu-tuong-ho-chi-minh-trong-ngoai-giao&catid=95%3Achien-luoc-phat-trien&Itemid=589&lang=vi
7
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I : NGOẠI GIAO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975 –1986
I. Những thuận lợi và khó khăn
1. Thuận lợi

Từ thập kỷ 70, thế kỷ XX, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã và đang lớn mạnh không ngừng.
Sự tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã thúc đẩy lực lượng sản xuất thế giới phát triển mạnh song song với sự tiến lên của phong trào cách mạng thế giới.
Sau năm 1975, Mỹ rút quân khỏi Đông Nam Á, khối quân sự SEATO tan rã;
Tháng 2-1976, các nước ASEAN ký hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali), mở ra cục diện hoà bình, hợp tác trong khu vực.
Từ tháng 4-1975, đất nước độc lập, thống nhất cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn tiến hành các mạng xã hội chủ nghĩa trong cả nước.
I. Những thuận lợi và khó khăn (tt)
2. Khó khăn
- Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp (vốn có tác dụng trong thời chiến), đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng nước ta phải tập trung khắc phục hậu quả nặng nề của ba mươi năm chiến tranh.
- Sau 1975, Việt Nam bị bao vậy, cô lập từ Mĩ và phương Tây. Thêm vào đó, từ cuối thập kỷ 70 thế kỷ XX, do những xung đột ở biên giới Tây Nam với Campuchia, các nước trong khối ASIAN với sự chia rẽ, kích động của các thế lực bên ngoài đã đóng băng quan hệ ngoại giao với nước ta.
- Năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc cũng đã làm cho quan hệ đối ngoại ngoài khối Xô Viết của nước ta ngày càng đi vào bế tắc.

=> Những thuận lợi, khó khăn từ tình hình thế giới và trong nước ở giai đoạn này đã ảnh hưởng to lớn đến công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và tác động tới việc hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng.
II. Nội dung đường lối đối ngoại của Đảng (1975-1986)
1. Nội dung
Đại hội lần thứ IV của Đảng (12-1976) xác định nhiệm vụ đối ngoại là “Ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.

Ngày 5/7/1976, Ngoại trưởng Việt Nam Nguyễn Duy Trinh đã công bố chính sách bốn điểm của nước ta đối với các nước Đông Nam Á
• Thiết lập quan hệ hữu nghị láng giềng thân thiện, hợp tác kinh tế, văn hoá toàn diện trên cơ sở công bằng và tôn trọng lẫn nhau;
• Nỗ lực phát triển hợp tác vì sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh theo điều kiện riêng của mỗi nước vì lợi ích độc lập dân tộc, hòa bình, trung lập thực sự ở ĐNÁ;
• Không để lãnh thổ nước mình cho bất kì nước ngoài nào sử dụng làm căn cứ xâm lược và can thiệp vào công cuộc nội bộ và hợp tác khu vực Đông Nam Á;
• Nguyên tắc quan trong nhất là tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi và chung sống hoà bình.
Thể hiện lòng mong muốn của Việt Nam là hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực Đông Nam Á trong cùng tồn tại hòa bình và vì một Đông Nam Á hòa bình, trung lập thực sự, không có căn cứ quân sự và quân đội của nước ngoài
http://www.flickr.com/photos/truongtansang/7975590415/
Đại hội lần thứ IV của Đảng diễn ra từ ngày 14-20/12/1976 tại Hà Nội
- Từ giữa năm 1978, Đảng đã điều chỉnh một số chủ trương, chính sách đối ngoại nhất là đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
- Đại hội lần thứ V của Đảng xác định: công tác đối ngoại phải trở thành một mặt trận chủ động, tích cực trong đấu tranh nhằm làm thất bại chính sách của các thế lực hiếu chiến mưu toan chống phá cách mạng nước ta.
- Đặc biệt chủ trương khôi phục quan hệ bình thường với Trung Quốc trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình; chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường về mặt nhà nước, về kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị.
Thực tế cho thấy, ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn (1975-1986) là xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; củng cố và tăng cường đoàn kết hợp tác với Lào và Campuchia; mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước không liên kết và các nước đang phát triển; đấu tranh với sự bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch.
1. Nội dung (tt)
2. Thành tựu, hạn chế , ý nghĩa
2. 1. Thành tựu
- Ngày 31-11-1978, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô.
- Từ năm 1975 đến năm 1977, nước ta đã thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với 23 nước;);
Tham gia tích cực các hoạt động trong phong trào Không liên kết…Kể từ năm 1977, một số nước mở quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam.
- Với các nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á: Cuối năm 1976, Philíppin và Thái Lan là nước cuối cùng trong tổ chức ASEAN thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

http://value.vn/38502011/imf-da-xuat-sang-kien-thuc-day-su-phuc-hoi-kinh-te.value
Ngày 15-9-1976, Việt Nam tiếp nhận ghế thành viên chính thức Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A2n_h%C3%A0ng_Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi
Ngày 21-9-1976, tiếp nhận ghế thành viên chính thức Ngân hàng Thế giới (WB);
http://sonla.gov.vn/m.aspx?m=content&id=2149
Ngày 23-9-1976, gia nhập Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)
http://vn.minghui.org/news/3752-dai-ky-nguyen-lien-hiep-quoc-chi-trich-che-do-cong-san-trong-phan-nghien-cuu-ve-tra-tan.html
Ngày 20-9-1977, tiếp nhận ghế thành viên tại Liên hợp quốc;
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d7/Comecon.png
Ngày 29-6-1978, Việt Nam ra nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (khối SEV).
2. Thành tựu, hạn chế , ý nghĩa
2.2. Hạn chế
Nguyên nhân căn bản đã được Đại hội lần thứ VI của Đảng chỉ ra là “bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”. Một nguyên nhân nữa là do nước ta thiếu thông tin từ bên ngoài, dẫn đến việc không đưa ra được những dự đoán chính xác về xu hướng của thế giới.
Trong quan hệ đối ngoại giai đoạn này chúng ta chưa nắm bắt được xu thế chuyển từ đối đầu sang hoà hoãn và chạy đua kinh tế trên thế giới. Do đó, đã không tranh thủ được các nhân tố thuận lợi trong quan hệ quốc tế phục vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh; không kịp thời đổi mới quan hệ đối ngoại cho phù hợp với tình hình.
2. Thành tựu, hạn chế , ý nghĩa
2.3. Ý nghĩa
Việc thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước còn lại trong tổ chức ASEAN đã tạo thuận lợi để triển khai các hoạt động đối ngoại trong giai đoạn sau, nhằm xây dựng Đông Nam Á trở thành khu vưch hoà bình, hữu nghị và hợp tác .
Sự tăng cường hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với cả các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa đã tranh thủ được nguồn viện trợ đáng kể, góp phần khôi phục đất nước sau chiến tranh.
Việc trở thành thành viên chính thức Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng phát triển châu Á và việc trở thành thành viên chính thức của Liên hợp quốc, tham gia tích cực vào các hoạt động của Phong trào không liên kết, đã tranh thủ được sự ủng hộ, hợp tác của các nước, các tổ chức quốc tế, đồng thời phát huy được vai trò của nước ta trên trường quốc tế.
CHƯƠNG II : NGOẠI GIAO VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
I. Những thuận lợi và khó khăn
1. Thuận lợi
-
- Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương, từ những năm 1990, có nhiều chuyển biến mới: Trước hết, trong khu vực tuy vẫn tồn tại những bất ổn, như vấn đề hạt nhân, vấn đề tranh chấp lãnh hải thuộc vùng biển Đông và việc một số nước trong khu vực tăng cường vũ trang,  ; hai là, châu Á - Thái Bình Dương có tiềm lực lớn và năng động về phát triển kinh tế. Xu thế hoà bình và hợp tác trong khu vực phát triển mạnh.
- Trật tự thế giới mới được hình thành từ sau “chiến tranh lạnh” trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Hoa Kỳ đứng đầu (trật tự thế giới hai cực) tan rã, mở ra thời kỳ hình thành một trật tự thế giới đa phương, đa cực.
- Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế phát triển mạnh mẽ.
- Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đã đổi mới tư duy đối ngoại
I. Những thuận lợi và khó khăn (tt)
2. Khó khăn
II. Nội dung đường lối
- Đại hội VI nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu là "... tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc"... và " cần hòa bình để phát triển kinh tế".
- Sự chuyển biến phức tạp của tình hình thế giới đòi hỏi ta không những phải thật tỉnh táo theo phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy là "Dĩ bất biến ứng vạn biến" mà cần tiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại, nhất là trong cách tiếp cận với các đối tượng khác nhau trong quan hệ quốc tế.
- Tiếp tục đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.
1. Những nét chung trong đường lối đối ngoại
http://www.flickr.com/photos/truongtansang/7975590415/
Đại hội VI: Thực hiện đổi mới đất nước (khởi xướng đưa đất nước tiến hành công cuộc đổi mới)
1. Những nét chung trong đường lối đối ngoại (tt)
- Quan hệ đối ngoại song phương của nước ta với nghị viện các nước trên thế giới được mở rộng. Hiện nay, nước ta đã đặt quan hệ chính thức với 140 nghị viện.
- - Năm 2009 được lấy làm năm Ngoại giao văn hóa.
Về biên giới trên biển, ta tiếp tục thảo luận với các nước ASEAN cũng như với các quốc gia đối tác để sớm thông qua Bộ Quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông.
http://phunuonline.com.vn/the-gioi/24h-qua/asean-thong-qua-bo-quy-tac-ung-xu-tren-bien-dong/a68338.html
2. Ngoại giao với khu vực và một số quốc gia
2. 1. Ngoại giao với các quốc gia ASEAN
Trong quan hệ với các nước ASEAN, qua các cuộc đối thoại và tiếp xúc song phương và đa phương với ta, các nước ASEAN nhận thấy giữa ta và họ có những lợi ích chung trong việc xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác. Tất cả các yếu tố trên đã thúc đẩy các nước ASEAN thấy cần đẩy mạnh hơn quá trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và tách dần khỏi chính sách của một số nước lớn tiếp tục bao vây cấm vận ta. Các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo các nước ASEAN tới Việt Nam và các chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt (năm 1991, 1992) và của Tổng Bí thư Đỗ Mười (năm 1993) tới Thái Lan, Xin-ga-po đã làm cho các bên hiểu biết lẫn nhau hơn. Quan hệ Việt Nam với các nước ASEAN được xem như đã hoàn toàn trở lại bình thường đồng thời với việc ký kết Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia.
http://baodautu.vn/portal/public/vir/baivietkinhtedautu/repository/collaboration/sites%20content/live/vir/web%20contents/chude/kinhtedautu/chinhsachvimo/1c1cb9c07f000001016d41b53df74ef1
2. Ngoại giao với khu vực và một số quốc gia (tt)
2. 2. Ngoại giao với Trung Quốc
Trên lĩnh vực văn hóa, cùng với Hàn Quốc, Trung Quốc là quốc gia có ảnh hưởng lớn nhất đến nền văn hóa Việt Nam hiện nay.
Về mặt chính trị, Trung Quốc luôn muốn đặt Việt Nam vào tình thế bị phụ thuộc để phục vụ cho mục tiêu điều khiển Đông Nam Á của mình, cạnh tranh với Mĩ, EU và Nhật Bản.
Về kinh tế, Trung Quốc hiện đang là đối tác hàng đầu của Việt Nam về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, cả về hàng chính thống lẫn “tiểu ngạch”, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội của Việt Nam.
Về ANQP, từ sau chiến tranh biên giới 1979, nhìn chung mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tương đối êm ả, nhưng có thể xem đây là bề nổi của tảng băng chìm, vẫn âm ĩ vấn đề cương vực lãnh thổ giữa 2 nước diễn ra từng giờ, từng ngày.
+ Chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam
Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì (bên phải) đón Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.
http://www.bbc.co.uk/blogs/vietnamese/2011/10/ngoai-giao-viet-nam-va-tai-nan.html
2. Ngoại giao với khu vực và một số quốc gia (tt)
2. 2. Ngoại giao với Trung Quốc (tt)
- Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở theo đường lối đổi mới của Đảng, nhiệm vụ hàng đầu của ngoại giao lúc này là phải phá cho được "tảng băng" bao vây, cấm vận.
- Do đó, việc bình thường hóa quan hệ với các nước láng giềng, trước hết là với Trung Quốc, là một yêu cầu chiến lược cấp thiết. Trên tinh thần đó, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã chính thức tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
- Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã chính thức được bình thường hóa vào năm 1990 và đưa ra thông cáo chung năm 1991 trên cơ sở 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Nguyên tắc chung “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”.
+ Chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc
http://www.flickr.com/photos/truongtansang/7975590415/
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có cuộc gặp với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào
2. Ngoại giao với khu vực và một số quốc gia (tt)
2. 3. Ngoại giao với các nước phương Tây
http://vietbao.vn/The-gioi/Tan-Hoa-Xa-Lieu-Viet-Nam-co-lien-minh-voi-My/1735121225/166/
2.3.1. Với Hoa Kỳ
+ Chủ trương, đường lối của Hoa Kỳ đối với Việt Nam
Ngoài mặt: Vẫn xem kinh tế là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trên cơ sở hợp tác, tự nguyện, đôi bên cùng có lợi và đi theo những nguyên tắc chung của thế giới.
Bên trong:
- Mĩ vẫn chưa từ bỏ tham vọng làm bá chủ khu vực Đông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung.
- Thí dụ điển hình gần đây nhất là những cuộc cách mạng Hoa Hồng, Màu Đỏ, Màu Cam ở các nước Đông Âu là do những tổ chức ONG đứng đằng sau. Trong đó, con bài quan trọng của Mĩ là: “diễn biến hòa bình” và “vấn đề nhân quyền”.
2. Ngoại giao với khu vực và một số quốc gia (tt)
2. 3. Ngoại giao với các nước phương Tây
2.3.1. Với Hoa Kỳ
+ Chủ trương, đường lối của Việt Nam đối với Hoa Kỳ
Thực hiện đổi mới trong chính sách đối ngoại, ta luôn luôn coi trọng việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ.
http://tuanvietnam.net/2010-07-06-15-nam-viet-my
http://tuanvietnam.net/2010-07-06-15-nam-viet-my
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Tổng thống Mỹ George Bush
Tuy nhiên, về cơ bản, trong vấn đề ngoại giao chính trị, Việt Nam vẫn giữ một thái độ dè dặt và nghiêm túc với Hoa Kỳ. Mềm dẻo nhưng không nhượng bộ. (Tiêu biểu là thái độ cương quyết từ chối khi Hoa Kỳ yêu cầu chế độ chính trị đa Đảng phái ở Việt Nam hay vấn đề Tây Nguyên, vương quốc Đề Ga.)
Hai nước thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối thoại về nhân quyền và an ninh khu vực.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta
http://toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/6/y-kien-binh-luan/108258/viet-nam-voi-my-va-trung-quoc-trong-cac-moi-quan-he-moi.aspx
2. Ngoại giao với khu vực và một số quốc gia (tt)
2. 3. Ngoại giao với các nước phương Tây
2.3.2. Ngoại giao với EU
http://www.vietnamplus.vn/Home/Viet-Nam-va-EU-hop-uy-ban-hon-hop-lan-thu-tam/201110/109131.vnplus
Tương tự như Mĩ, các nước trong liên minh Châu Âu EU cũng đang tranh thủ gây ảnh hưởng lên khu vực Đông Nam Á trước sự cạnh tranh từ Nhật và Trung Quốc. Tuy nhiên, mục đích chính của khối này là lợi nhuận về mặt kinh tế và mở rộng thị trường, ít có mục tiêu chính trị. Một số nước tiến bộ trong EU vẫn có những chương trình hỗ trợ giúp Việt Nam phát triển kinh tế xã hội. Nhưng cũng giống như viện trợ ODA, khi nhận những dạng viện trợ này, Việt Nam phải có những ưu đãi nhất định cho các nước có chính sách đó.
+ Thái độ của EU đối với Việt Nam
http://dantri.com.vn/c36/s36-427037/chau-au-muon-dam-phan-hiep-dinh-tu-do-thuong-mai-voi-viet-nam.htm
Chủ tịch Ủy ban châu Âu Barroso đón thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Brussels
Tháng 11/1990: Thiết lập quan hệ ngoại giao.
+ Thái độ của Việt Nam đối với EU
- Phát triển quan hệ song phương đã góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - EU. Việt Nam đang tích cực thực hiện “Đề án tổng thể về quan hệ Việt Nam - EU đến năm 2010 và định hướng đến 2015” được đưa ra từ tháng 6/2005.
- Trong giai đoạn này, Việt Nam đã hợp tác với EU trên nhiều lĩnh vực từ hợp tác phát triển đến hợp tác chính trị, an ninh, những thỏa thuận song phương trong lĩnh vực pháp luật, chống tội phạm có tổ chức, cấm phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống khủng bố... sẽ góp phần quan trọng tăng cường đối thoại và hợp tác để giải quyết các vấn đề cùng quan tâm, phù hợp với luật pháp của mỗi bên và những cam kết quốc tế mà hai bên tham gia…
2. Ngoại giao với khu vực và một số quốc gia (tt)
2. 3. Ngoại giao với Nga
http://vov.vn/Binh-luan/Quan-he-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-Viet-Nga/234111.vov
Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang hội kiến với Thủ tướng LB Nga Dmitry Medvedev trong chuyến thăm Nga hồi tháng 7/2012
Đối với Việt Nam, LB Nga vẫn xem là một khách thể ngoại giao chủ yếu dựa trên quan hệ lợi ích kinh tế. Do vẫn còn những truyền thống quan hệ tốt đẹp trong quá khứ nên Nga vẫn có những chủ trương tương đối thông thoáng trong quan hệ với Việt Nam.
+ Đường lối, chủ trương của NGA đối với Việt Nam
- Việt Nam đã chủ động đề ra những biện pháp nhằm duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, kể cả an ninh quốc phòng.
- Hai nước đã xác lập mối quan hệ đối tác chiến lược (2001).
- Tháng 1 năm 2001 để kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, tổng thống Nga Vladimir Putin đã có chuyến thăm chính thức tới Hà Nội, hội đàm cùng chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương.
- Thương mại song phương hai nước đã đạt tới 550 triệu USD vào năm 2001; Nga xuất khẩu sang Việt Nam máy móc và thép; trong khi Việt Nam xuất khẩu sang Nga lúa gạo và vải vóc. Hai nước cũng giữ vững mối quan hệ trong lĩnh vực năng lượng với việc liên doanh Vietsovpetro khai thác dầu thô tại mỏ Bạch Hổ.
+ Đường lối, chủ trương của Việt Nam với Nga
2. Ngoại giao với khu vực và một số quốc gia (tt)
2. 3. Ngoại giao với Nhật Bản
Lễ ký kết văn bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Paris ngày 21/9/1973. Người đang bắt tay là hai trưởng đoàn: Đại sứ Nakayama (trái) và Đại sứ Võ Văn Sung.
Nhật Bản xem Việt Nam là 1 thị trường đầy tiềm năng trong ngành công nghiệp chế tạo điện tử, công nghệ viễn thông và phương tiện giao thông vận tải. Mặt khác, do vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, Việt Nam là đối tượng được hưởng nhiều ưu đãi từ Nhật Bản để củng cố vị trí của nước này trong khu vực, lĩnh vực Nhật hỗ trợ nhiều nhất là vốn đầu tư không hoàn lại ODA.
+ Đường lối, chủ trương của Nhật trong quan hệ với Việt Nam
- Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt với Nhật Bản.
- Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản hiện vẫn năng động tiến vững trên đường hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á. Quan hệ Nhật Bản–Việt Nam bắt đầu từ cuối thế kỷ 16 khi các nhà buôn Nhật đến Việt Nam buôn bán. Việt Nam chính thức lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào ngày 21 tháng 9 năm 1973. Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam.
- Quan hệ giữa Việt Nam- Nhật Bản phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và đã bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu. Các mối quan hệ kinh tế chính trị, giao lưu văn hóa không ngừng được mở rộng; đã hình thành khuôn khổ quan hệ ở tầm vĩ mô; sự hiểu biết giữa hai nước không ngừng được tăng lên
+ Đường lối, chủ trương của Việt Nam với Nhật Bản
III. Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế
1. Thành tựu
1. Đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng và sự bao vây cấm vận của các lực lượng thù địch, giải tỏa những bế tắc trong quan hệ với các nước láng giềng và hầu hết với các nước lớn, các tổ chức khu vực và liên khu vực.
3. Đặc biệt là việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, từng bước cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ tiến đến việc bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.
2. Quan hệ giữa nước ta với các nước ASEAN được khai thông, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam gia nhập ASEAN và hội nhập khu vực sau đó.
6. Thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý. Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh
5. Giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan.
4. Việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ đã giúp ta khai thông quan hệ với Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, gia nhập Tổ chức (APEC) và các tổ chức quốc tế khác. Quan hệ giữa ta với các nước bạn bè cũ ở Đông Âu được xác định lại trên cơ sở mới
III. Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế (tt)
1. Thành tựu (tt)
III. Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế (tt)
2. Hạn chế
- Trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn chúng ta còn lúng túng, bị động...
- Doanh nghiệp nước ta còn yếu cả về sản xuất, quản lý và khả năng cạnh tranh. Đội ngũ cán bộ công tác đối ngoại còn thiếu và yếu; công tác tổ chức chỉ đạo chưa sát và chưa kịp thời.
- Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế và một lộ trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết
- Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế và một lộ trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết
3. Ý nghĩa
- Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Kết hợp nội lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp góp phần đưa đến những thành tựu kinh tế to lớn
- Giữ vững, củng cố độc lập tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa
III. Thành tựu, ý nghĩa, hạn chế (tt)
CHƯƠNG III : ĐẶC ĐIỂM NGOẠI GIAO VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY
I. Bảng so sánh 2 giai đoạn ngoại giao
II. Đặc điểm nổi bật của ngoại giao từ 1975 đến nay
1. Giữ được nền tảng là một nền ngoại giao linh hoạt khôn khéo nhưng vẫn đủ độ cương quyết và cứng rắn khi cần thiết.
2. Đây là một nền ngoại giao nhân dân, lấy tiêu chí hoạt động là ý muốn, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
4. Chịu sự tác động của Liên Xô trong việc xây dựng CNXH và đặc biệt là xu thế toàn cầu hóa, hội nhập hóa trong quá trình mở cửa, phát triển đất nước.
5. Là nền ngoại giao của một nước nhỏ trong một “thế giới phẳng”, Việt Nam vẫn gây được những ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế, góp phần nâng cao vị thế đất nước.
3. Ngoại giao trong giai đoạn này chủ yếu là các chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta đề ra trong các Đại hội để linh hoạt với sự chuyển biến phức tạp của tình hình thế giới.
6. Chủ động mở cửa. quan hệ với các nước trên thế giới. Luôn chủ trương “đối thoại”,“ hòa bình” trong mọi sách lược cả về chính trị lẫn kinh tế, văn hóa.
CHƯƠNG IV : BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hoạt động ngoại giao như Bác Hồ căn dặn “phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ”.
2. Biết kết hợp nhuần nhuyễn cương – nhu, nguyên tắc và sách lược mềm dẻo, khôn khéo, chủ động tiến công, nhiều sáng kiến, quyết đoán trong các bước ngoặt; nắm chắc và vận dụng “ngũ tri”: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến.
3. Đặt lợi ích dân tộc lên trên hết và nắm vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong mọi hoạt động đối ngoại.
4. Chính sách láng giềng thân thiện, sống hòa hiếu với nhau, giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình trên cơ sở gác lại quá khứ, nhìn về tương lai và có quan hệ cân bằng với tất cả các nước lớn.
5. Thực hiện tốt sự phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận ngoại giao, kinh tế, chính trị và văn hóa. Ngoại giao phải là cầu nối đưa doanh nghiệp các nước xích lại gần nhau.
PHẦN BA :
KẾT LUẬN
Trăm năm trong cõi người ta
Giàu lòng bác ái, ấy là người Việt Nam.
(Hồ Chí Minh)
34
DT GROUP
BAN BIÊN TẬP
XIN
CHÂN THÀNH CẢM ƠN
CÔ VÀ CÁC BẠN
ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE….
 
Gửi ý kiến