Tìm kiếm Bài giảng
Ngoại giao trong kháng chiến chống Mĩ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Khoa
Ngày gửi: 14h:35' 22-05-2020
Dung lượng: 18.6 MB
Số lượt tải: 73
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Khoa
Ngày gửi: 14h:35' 22-05-2020
Dung lượng: 18.6 MB
Số lượt tải: 73
Số lượt thích:
1 người
(Lê Văn Khoa)
Nhóm 1
LỊCH SỬ NGOẠI GIAO VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn
Nguyễn Thị Thu Sương
Thành viên nhóm
Lê Văn Khoa
Tăng Thị Yến Nhi
DA18CTH
NGOẠI GIAO VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC 1954 - 1975
CHỦ ĐỀ
Giai đoạn
Giai đoạn
Giai đoạn
Giai đoạn
Giai đoạn
1954-1960
1981 - 1954
1965 - 1968
1954 - 1973
Giai đoạn
1973-1975
Hoàn thành giải phóng miền Nam
Nội dung
I.Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960
II. Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Hoa Kỳ: Giai đoạn 1981 - 1954
III. Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
IV. Góp phần làm phá sản "Việt Nam hoá chiến tranh", đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam: Giai đoạn 1954 - 1973
V.Hoàn thành giải phóng miền Nam: Hai đoạn 1973 - 1975
KẾT LUẬN
I.Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960
I.Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960
Tình hình Đông Dương và Đông Nam Á sau Hiệp định Geneva 1954 có những thay đổi quan trọng:
- Chiến tranh chấm dứt, hoà bình được lập lại.
Nước Việt Nam bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, sau giai đoạn phục hồi kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư nhân; xác định miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.
Mỹ gạt Pháp khỏi Đông Dương, áp dụng chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, xây dựng miền Nam thành căn cứ quân sự, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam và, như chính quyền Mỹ tuyên bố ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á.
Cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới. Trong giai đoạn đầu sau khi Hiệp định Geneva về Đông Dương được ký kết, Đảng Lao động Việt Nam xác định: "Thắng lợi mới làm cho tình hình nước ta đổi mới tức là từ chiến tranh chuyển sang hoà bình. Nhưng để giành lấy hoà bình toàn diện và lâu dài, chúng ta cần phải ra sức đấu tranh...
Từ năm 1954 đến 1960, công tác đối ngoại và hoạt động quốc tế diễn ra trong điều kiện mới, thuận lợi hơn rất nhiều so với khi Chính phủ kháng chiến còn ở trong chiến khu, với nửa nước được hoàn toàn giải phóng, uy tín của Việt Nam trên thế giới được nâng lên sau thắng lợi quân sự và ngoại giao của cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược, đặc biệt là chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ.
Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai chính sách đối ngoại trên các hướng lớn:
Thứ nhất, đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva về Đông Dương, bao gồm việc thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản quân sự ghi trong các hiệp định đình chỉ chiến sự; tiếp theo đó, đấu tranh để tiến hành hiệp thương giữa hai miền Nam, Bắc như bước đầu tiên tiến tới chuẩn bị tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước, như đã quy định trong các văn bản cấu thành của Hiệp định Geneva 1954.
Thứ hai, xây dựng quan hệ đoàn kết, hợp tác toàn diện và chặt chẽ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Liên Xô và các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa, cũng như góp phần củng cố đoàn kết và hợp tác giữa các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, tăng cường đoàn kết và hợp tác trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế
+ Thứ tư, xây dựng quan hệ hữu nghị với hai chính phủ Vương quốc Campuchia và Lào, theo năm nguyên tắc chung sống hoà bình. Thúc đẩy quan hệ hợp tác với Chính phủ Pháp và tăng cường quan hệ đoàn kết, hữu nghị với nhân dân Pháp
+ Thứ năm, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu với các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Á - Phi; tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước vừa giành được độc lập ở châu Á
+ Thứ sáu, tham gia vào phong trào của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới, chống các thế lực để quốc, thực dân hiếu chiến, và vì các quyền dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Mở rộng quan hệ đối ngoại và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước phục vụ công cuộc xây dựng miền Bắc
Ngay sau khi thủ đô Hà Nội được giải phóng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nước xã hội chủ nghĩa sớm đặt đại sứ quán ở Hà Nội.
Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên chính thức thăm Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ. Tiếp đó, năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam thăm chín nước, gồm tất cả các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Bắc Á và một số nước dân tộc chủ nghĩa ở châu Á.
Từ sau Hiệp định Geneva, quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Campuchia có thay đổi lớn.
Mở rộng quan hệ đối ngoại và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước phục vụ công cuộc xây dựng miền Bắc
Với Lào, Việt Nam ủng hộ chính sách trung lập của Hoàng thân Xuyana Phuma. Năm 1956, Thủ tướng Phuma thăm Việt Nam. Việt Nam ủng hộ chính phủ liên hiệp và kiên quyết chống chính sách thù địch của các chính quyền phái hữu thân Mỹ ở nước này
Với Campuchia, Việt Nam cố gắng xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị, ủng hộ Quốc trưởng Xihanúc, ủng hộ chính sách hoà bình trung lập tích cực của Vương quốc Campuchia
Nghị quyết Trung ương lần thứ mười lăm và phong trào Đồng thời ở miền Nam Việt nam
Hội nghị Trung ương lần thứ mười lăm khoá II của Đảng Lao động Việt Nam họp tại Hà Nội tháng Giêng 1959 trên cơ sở để cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn, đã phân tích tình hình, xác định mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội Việt Nam và miền Nam Việt Nam từ sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp
Nghị quyết Trung ương lần thứ mười lăm đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng khắp miền Nam từ nông thôn đến thành thị. Ngày 17 tháng Mười một 1960, cuộc Đồng khởi của tỉnh Bến Tre tại ba xã Đinh Thuỷ, Bình Khánh, Phước Hiệp
Nghị quyết Trung ương lần thứ mười lăm và phong trào Đồng thời ở miền Nam Việt nam
Cách mạng miền Nam đã vượt qua thử thách nghiêm trọng nhất, từ thoái trào và thế giữ gìn lực lượng chuyển hẳn sang thể tiến công và giành quyền làm chủ.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và chính sách đối ngoại hoà bình, trung lập
Sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam có tầm quan trọng lịch sử đối với cách mạng miền Nam. Mặt trận đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân miền Nam là đại diện chân chính, tiêu biểu cho quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Mỹ - Diệm phá Hiệp định Geneva, Mặt trận nắm vững ngọn cờ hiệp định, đề cao thế hợp pháp của phong trào nhân dân chống Mỹ, giáng một đòn mạnh vào cái gọi là "thế hợp pháp" của chế độ tay sai của Mỹ.
II. Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ: Giai đoạn 1981 - 1954
II. Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ: Giai đoạn 1981 - 1954
Hoa Kỳ khủng hoảng về kinh tế trong các năm 1960 1961, dẫn đến 5,5 triệu người thất nghiệp. So với Liên Xô, Mỹ thua kém về tốc độ phát triển kinh tế và về chạy đua vào vũ trụ.
Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành Kế hoạch ba năm phát triển kinh tế, từ năm 1961, miền Bắc đi vào thực hiện Kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1965).
II. Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ: Giai đoạn 1981 - 1954
Trước việc đế quốc Mỹ tăng cường can thiệp quân sự ở miền Nam Việt Nam, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới với quyết tâm cao đánh bại cuộc chiến tranh đặc biệt" của Mỹ.
Nhiệm vụ đối ngoại chủ yếu của thời kỳ này, ngoại giao Việt Nam tiếp tục đề cao Hiệp định Geneva, kiên trì làm rõ trước dư luận thế giới bản chất của cuộc "chiến tranh đặc biệt" do Hoa Kỳ tiến hành, vạch trần hành động xâm lược và can thiệp của Mỹ tại miền Nam Việt Nam
Tăng cường đoàn kết nhân dân Đông Dương, mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong khi tăng cường "chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, Mỹ mở rộng chiến tranh đặc biệt sang Lào, tiếp tục uy hiếp chủ quyền lãnh thổ, phá hoại nền trung lập của Campuchia, mưu toan khống chế hai nước này và cô lập cách mạng miền Nam Việt Nam.
Việc tăng cường đoàn kết giữa ba nước Đông Dương trở thành nhân tố có tầm quan trọng chiến lược bảo đảm thắng lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
Phối hợp chống Mỹ tăng cường mở rộng chiến tranh
Từ cuối năm 1963, sang 1964, quân và dân miền Nam đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị trên cả ba vùng chiến lược, giáng cho quân ngụy Sài Gòn những đòn nặng nề
Nhiệm vụ chủ yếu của ngoại giao hai miền khuếch trương thắng lợi của quân và dân miền Nam trên chiến trường; tố cáo Mỹ và cảnh báo dư luận thế giới về âm mưu nguy hiểm của Mỹ leo thang chiến tranh; khẳng định quyết tâm của nhân dân Việt Nam đánh bại hành động chiến tranh của Mỹ; động viên dư luận thế giới lên án Mỹ, ngăn chặn Mỹ mở rộng chiến tranh và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
→Như vậy, trong giai đoạn từ 1961 đến 1964, để góp phần làm thất bại “chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, ngoại giao Việt Nam hoạt động nhằm tranh thủ sự ủng hộ quốc tế cho công cuộc xây dựng miền Bắc và tăng cường tiềm lực quốc phòng của Việt Nam
Ngoại giao hai miền phối hợp vận động quốc tế, đề cao vị trí của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tranh thủ sự ủng hộ, công nhận của các nước đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và thúc đẩy việc hình thành mặt trận thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ.
III. Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
III. Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
Trong thời gian từ tháng Mười một 1963 đến tháng Sáu 1965, đã xảy ra 14 vụ đảo chính và phản đảo chính trong nội bộ chính quyền Sài Gòn. Mỹ đứng trước sự lựa chọn: hoặc chịu thất bại, bỏ mặc chính quyền tay sai sụp đổ hoặc đưa quân Mỹ vào trực tiếp chiến đấu cứu lấy ngụy quyền, bám giữ miền Nam Việt Nam
Chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở Việt Nam, tuy được triển khai ở mức cao, đã bị phá sản
Trước những phát triển mới trên mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt, ngày 28 tháng Ba 1964, với những nội dung chính:
III. Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
Về miền Nam:
- Làm rõ chính sách và hành động của đế quốc Mỹ là xâm lược, và chính quyền Sài Gòn chỉ là tay sai của Mỹ.
- Làm rõ chính đế quốc Mỹ và tay sai đã phá hoại Hiệp định Geneva 1954.
- Làm rõ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là chính nghĩa, nhân dân miền Nam vì độc lập dân tộc, hoà bình mà phải chống Mỹ.
- Làm rõ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là một đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới.
- Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ ngày càng mạnh mẽ và đầy đủ hơn của phe ta và của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta ở miền Nam.
Về miền Bắc:
- Làm rõ đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc là hòng gỡ thế chúng thất bại trong "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, nhưng càng làm thế, chúng càng thất bại nặng nề hơn.
- Làm rõ đế quốc Mỹ đã xâm phạm chủ quyền độc lập của Việt Nam.
- Động viên dư luận thế giới đòi Mỹ chấm dứt hoàn toàn, không điều kiện việc ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam
Đấu tranh chống các "chiến dịch hoà bình" và luận điệu "đàm phán không đều làn" của Mỹ
Gây chiến tranh xâm lược chống nhân dân Việt Nam, Mỹ ở thế yếu về chính trị và phi nghĩa. Mỹ tìm cách che đậy bản chất phi nghĩa của các hoạt động chiến tranh bằng các thủ đoạn ngoại giao hoà bình.
Chống lại các luận điệu hoà bình giá hiệu của chính quyền Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao, tích cực vận động và tuyên truyền quốc tế nhằm cảnh báo trước dư luận thế giới hành động xâm lược của Mỹ; nhấn mạnh cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Ngày 22 tháng Ba 1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra Tuyên bố năm điểm, lên án hành động chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, nêu rõ lập trường, mục tiêu chiến đấu và quyết tâm của nhân dân miền Nam Việt Nam chống xâm lược Mỹ cho đến thắng lợi cuối cùng.
Đấu tranh chống các "chiến dịch hoà bình" và luận điệu "đàm phán không đều làn" của Mỹ
Ngày 8 tháng Tư 1965, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra Tuyên bố bốn điểm, nêu rõ lập trường và nguyên tắc lớn của một giải pháp cho vấn đề Việt Nam trên cơ sở vận dụng những điều khoản của Hiệp định Geneva 1954 phù hợp với tình hình mới Việt Nam.
Thúc đẩy hình thành mặt trận đoàn kết nhân dân ba nước Đông Dương
Đoàn kết nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia là nhiệm vụ chiến lược trong cách mạng Việt Nam cũng như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Việt Nam đoàn kết với Lào, Campuchia, tôn trọng độc lập tự chủ của hai nước bạn láng giềng.
Thúc đẩy hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, hình thành từ cuối năm 1964, đã nhanh chóng mở rộng phát triển mạnh mẽ từ khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam và dùng không quân đánh phá miền Bắc.
Phong trào lan từ các nước xã hội chủ nghĩa tới các nước tư bản phát triển, các nước dân tộc độc lập khắp các châu lục.
Thúc đẩy hình thành phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh
Ngay mùa Thu 1965, lúc Mỹ vừa đưa một số đơn vị quân chiến đấu đầu tiên vào miền Nam, các tổ chức chống chiến tranh đã thành lập "Uỷ ban phối hợp toàn quốc" đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
Uỷ bạn này liên tiếp phát động hai đợt đấu tranh lớn, đợt thứ nhất từ ngày 15 đến 17 tháng Mười 1965, đợt thứ hai từ ngày 15 đến 25 tháng Ba 1966. Hai đợt mở đầu này lôi cuốn trên nửa triệu người Mỹ ở hơn 100 thành phố tham gia.
→ Phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh đã tác động lớn đến thái độ của chính giới Mỹ.
Tạo cục diện vừa đánh vừa đàm
Đến cuối năm 1966, sau hai năm chiến đấu trực tiếp chống quân viễn chinh Mỹ, quân dân miền Nam đã đánh thắng được cuộc phản công mùa khô thứ nhất (Đông Xuân 1965 - 1966) và đang đánh thắng cuộc phản công mùa khô thứ hai (Đông Xuân 1966 1967). Chiến lược tìm và diệt của Mỹ thất bại một bước.
Trên đà thắng lợi ở chiến trường, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ mười ba khoá III, tháng Giêng 1967, quyết định đẩy mạnh chiến đấu trên cả hai miền
Để giành thắng lợi trên mặt trận này, phương châm đấu tranh của ta là phát huy thế mạnh, thế thắng của ta, chủ động tấn công địch, giữ vững tính độc lập tự chủ, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các nước anh em. Trên cơ sở kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cần vận dụng sách lược ngoại giao một cách linh hoạt, khôn khéo, giành thắng lợi từng bước.
IV. Góp phần làm phá sản "Việt Nam hoá chiến tranh", đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam: Giai đoạn 1954 - 1973
IV. Góp phần làm phá sản "Việt Nam hoá chiến tranh", đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam: Giai đoạn 1954 - 1973
Cùng với những thất bại nặng nề trên chiến trường Việt Nam, đỉnh cao là trong cuộc tổng tấn công nổi dậy của quân và dân miền Nam Việt Nam dịp Tết Mậu Thân, Mỹ bước vào thời kỳ suy yếu rõ rệt, kinh tế khó khăn, nội bộ chia rẽ sâu sắc.
Tháng Giêng 1969, R. Nixon lên cầm quyền, đại diện cho nhữngthế lực hiếu chiến nhất của nước Mỹ. Để khắc phục tình trạng suy yếu, chính quyền mới điều chỉnh chiến lược toàn cầu.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Đấu tranh chống chiến lược quân sự và ngoại giao của chính quyền Nixon
1. Đấy địch xuống thang một bước trên chiến trường chính, ép Hoa Kỳ đơn phương rút một bộ phận quân Mỹ;
2. Khoét sâu mâu thuẫn, khó khăn nội bộ Mỹ, nội bộ ngụy, mâu thuẫn Mỹ - ngụy;
3. Đề cao vị trí quốc tế của Mặt trận Dân tộc Giải phóng (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời);
4. Tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ ta về vật chất và chính trị, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ mạnh mẽ, có hiệu quả của phong trào nhân dân thế giới, bao gồm cả nhân dân Mỹ, đấu tranh đòi Mỹ rút nhanh, rút hết và không điều kiện quân ra khỏi miền Nam.
Tháng Năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đã có chỉ thị toàn diện cho đoàn đàm phán Paris khi Trưởng đoàn Xuân Thuỷ về nước báo cáo tình hình đàm phán với Mỹ: "Tiền công ngoại giao là một mặt tiến công quan trọng có ý nghĩa chiến lược lúc này.
Nó có nhiệm vụ phát huy thể thắng và thể chủ động của ta, tiến công một kẻ địch đang thất bại, bị động về mọi mặt và phải xuống thang; phát huy thắng lợi quân sự và chính trị trên chiến trường quốc tế; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ lớn nhất của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ; triệt để lợi dụng những mâu thuẫn và bế tắc của địch, làm cho tình hình hậu phương của Mỹ ngày càng bất lợi cho Mỹ, làm cho chúng ngày càng cô lập, lúng túng và bị động; nắm vững thời cơ, phối hợp với tiến công quân sự và tiến công chính trị, tiến công liên tục và sắc bén, kiên trì nguyên tắc, khéo vận dụng sách lược, vừa kiên quyết, vừa linh hoạt, buộc Mỹ phải rút quân và nhận một giải pháp chính trị đáp ứng yêu cầu cơ bản của ta”.
Hội nghị bốn bên ở Paris: Ép Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh, nứt dân quân khỏi miền Nam Việt Nam
Sau khi Hoa Kỳ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều ra tuyên bố cùng Mỹ và chính quyền Sài Gòn họp hội nghị bốn bên và cùng các bên đưa cuộc họp đến kết quả.
Ngày 3 tháng Mười một 1968, đại diện Mỹ gặp đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị bắt đầu cuộc họp trù bị từ ngày 6 tháng Mười một. Ngày 2 tháng Mười một, đoàn tiền trạm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng do bà Nguyễn Thị Bình, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng, làm trưởng đoàn, đến Paris.
Tiến trình đến đây tưởng đã ổn nhưng lại nảy sinh vấn đề về hình dáng bàn họp và chỗ ngồi của các đoàn.
Về ngày họp, đã đồng ý bắt đầu ngày 18 tháng Giêng 1969, nhưng đoàn chính thức của Sài Gòn đến chậm. Đây là thủ đoạn của Nguyễn Văn Thiệu cố tình kéo dài việc cử đoàn chính thức đến Paris để Johnson rời Nhà Trắng mà vẫn không được biết hội nghị khai mạc.
Lê Đức Thọ cho rằng khó khăn là do tập đoàn Thiệu - Kỳ - Hương không muốn giải quyết vấn đề, do đó ngồi vào với nhau cũng khó giải quyết. Việc cử Nguyễn Cao Kỳ làm cố vấn cho đoàn Sài Gòn là điều không hay. Tình hình có thể phát triển theo ba khả năng:
+ Khả năng thứ nhất là đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng nghiêm chỉnh và có thiện chí, chính quyền mới ở Mỹ và đoàn đại biểu mới của Mỹ ở Paris cũng nghiêm chỉnh và có thiện chí thì có thể tiến lên giải quyết vấn đề.
+ Khả năng thứ hai là Mỹ cùng thế mạnh để ép Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng và không coi trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam thì khó có thể giải quyết vấn đề, cuộc đàm phán sẽ kéo dài.
+ Khả năng thứ ba là Mỹ không muốn giải quyết mà muốn tiếp tục ảnh thì Việt Nam cũng sẵn sàng chiến đấu.
Lúc 10 giờ 30, ngày 25 tháng Giêng 1969, Hội nghị đàm phán bốn bên về vấn đề Việt Nam long trọng khai mạc.
Từ đầu Hội nghị Paris, Hoa Kỳ luôn luôn nêu vấn đề rút quân miền Bắc với lý do quân Mỹ và quân miền Bắc Việt Nam đều là "ngoại nhập". âm mưu của Mỹ là tách cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam khỏi hậu phương lớn là miền Bắc, để có thể giành thắng lợi dễ dàng ở miền Nam Việt Nam.
Năm 1970, hai đợt gặp riêng được tiến hành trong tháng Hai và tháng Mười; phía Việt Nam có Lê Đức Thọ tham dự và trở thành nhà đàm phán chính. Nội dung các cuộc gặp này cơ bản vẫn như các cuộc họp công khai ở Hội nghị bốn bên. Lê Đức Thọ lên án Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh, không chịu định thời hạn rút hết quân.
Đến giữa năm 1971, sau thắng lợi lớn của lực lượng vũ trang cách mạng ở đường 9 - Nam Lào, thế trận của Việt Nam đã được cải thiện. Mỹ cũng đã rút được 300.000 quân.
Đợt gặp riêng tháng Mười 1971 rất đáng chú ý. Việt Nam vừa giành thắng lợi ở đường 9 - Nam Lào, đánh bại một bước quan trọng chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh"; cuối năm 1971 Việt Nam tập trung chuẩn bị chiến dịch Đông Xuân 1971 - 1972 nhằm giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định.
Đi Tới Hiệp định Paris
Từ năm 1971, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam chủ trương chuẩn bị chiến dịch lớn giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định vào đầu năm 1972, buộc Mỹ phải kết thúc chiến tranh. Ngày 30 tháng Ba 1972, quân và dân Việt Nam mở cuộc Tổng tấn công chiến lược Xuân Hè, đánh địch trên năm mặt trận lớn từ Trị Thiên đến đồng bằng Cửu Long. Sau ba tháng tấn công, quân và dân Việt Nam giành thắng lợi lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, tạo được chỗ đứng vững cho các đơn vị chủ lực trở về.
Đi Tới Hiệp định Paris
Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam thông qua những phương hướng lớn của giải pháp nhằm đạt bốn mục tiêu:
- Hoa Kỳ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.
- Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân, chấm dứt dính líu quân sự, không can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam
- Hoa Kỳ thừa nhận thực tế miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hại vùng kiểm soát, Hoa Kỳ tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam.
- Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh dưới hình thức đóng góp để hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng lại miền Bắc.
Những vấn đề chưa nhất trí còn nhiều và trên tất cả các mặt của giải pháp: quân sự, chính trị, bồi thường chiến tranh, vấn đề lông Dương. Gay gắt và khó khăn nhất là vấn đề chính trị nội bộ miền Nam: Việt Nam muốn có một hình thức chính quyền liên hiệp; Mỹ muốn giữ chính quyền Sài Gòn, giải quyết vấn đề nội bộ miền Nam trong khuôn khổ chế độ ngụy, tức là Mỹ không chịu giải quyết vấn đề chính trị. Lập trường hai bên về vấn đề này rất xa nhau.
Thoả thuận về dự thảo Hiệp định tháng Mười 1972
Tại phiên họp ngày 8 tháng Mười 1972 - phiên họp bước ngoặt của diễn đàn đàm phán bí mật, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã trao cho H. Kissinger dự thảo Hiệp định về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và dự thảo Thoả thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam
Hiệp định nhằm giải quyết vấn đề chính trị và quân sự như Hoa Kỳ tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như Hiệp định Geneva 1954 về Việt Nam đã công nhận, chấm dứt chiến sự, rút quân Mỹ, trao đổi người các bên bị bắt trong chiến tranh, ngừng bắn, có kiểm soát và giám sát quốc tế ở Việt Nam, Mỹ chịu trách nhiệm hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế ở miền Bắc. Còn các vấn đề quân sự và chính trị của miền Nam Việt Nam thì chỉ thoả thuận về những nguyên tắc lớn. Sẽ ngừng bắn ngay sau khi Hiệp định được ký kết.
Hiệp định tháng Giêng 1973
Ngày 23 tháng Mười, Tổng thống Nixon thông báo khẩn cấp cho Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị có cuộc gặp riêng mới ở Paris và hoãn chuyến đi của Kissinger tới Hà Nội.
Những đề nghị sửa đổi chủ yếu là:
- Phủ nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời, bỏ tên Chính phủ Cách mạng lâm thời trong tất cả các điều khoản. Mỗi bên chỉ có vùng đóng quân, không có vùng kiểm soát.
- Làm nổi bật miền Nam là một quốc gia. Hai miền tôn trọng lãnh thổ của nhau, tôn trọng khu phi quân sự.
- Nêu trở lại vấn đề lực lượng quân sự miền Bắc: các lực lượng không phải Nam Việt Nam rút khỏi Nam Việt Nam; phục viên số quận hai bên ngang nhau; quân nhân phục viện về sinh quán.
- Hạ thấp vai trò chức năng, tổ chức của Hội đồng hoà giải dân tộc.
- Không nói gì đến nhân viên dân sự bị bắt của Chính phủ Cách mạng lâm thời
- Đưa yêu cầu ngừng bắn ở Lào và Campuchia cùng lúc với ngừng bắn ở Việt Nam. Đòi các lực lượng vũ trang các nước Đông Dương phải ở trong biên giới quốc gia họ.
Bị thất bại nặng nề, ngày 22 tháng Mười hai, chính quyền Mỹ gửi công hàm đề nghị H. Kissinger và Lê Đức Thọ gặp nhau vào ngày 3 tháng Giêng 1973 và nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chấp nhận thì Mỹ sẽ ngừng ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở lên từ ngày 30 tháng Mười hai.
Ngày 29 tháng Mười Hai, Mỹ ngừng ném bom ở Bắc vĩ tuyến 20 Chiến thắng oanh liệt "Điện Biên phủ trên không" ở thủ đô Hà Nội của quân đân Việt Nam đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân, ngón đòn xảo trá của đế quốc Mỹ, đã tạo thế vững mạnh cho hai đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam khi bước vào vòng đàm phán cuối cùng tại Paris.
Như vậy là sau gần 3 tháng đàm phán lại, hai bên đạt thoả thuận cuối cùng ngày 23 tháng Giêng 1973 và ký tắt hiệp định và bốn nghị định thư. Bốn ngoại trưởng bốn bên dự Hội nghị Paris ký chính thức Hiệp định Paris vào ngày 27 tháng Giêng 1973.
Có năm chỗ sửa đổi liên quan đến nội dung: - Hai bên được thay thế vũ khí dùng hết hoặc bị phá huỷ.
- Về vấn đề lực lượng vũ trang, thêm ý "hoàn thành giảm quân số phục viên càng sớm càng tốt".
- Về Hội đồng hoà giải, hoà hợp dân tộc: bỏ “cơ cấu chính quyền”, bỏ chức năng “duy trì ngừng bắn, giữ vững hoà bình”.
- Một sửa đổi quan trọng là tại văn bản bốn bên ký không ghi tên chính thức của Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính phủ "Việt Nam Cộng hoà" tại các điều khoản của hiệp định mà chỉ để một lần tại chức vụ chính thức của người ký.
Với Mỹ, sửa đổi quan trọng nhất là thêm được điều khoản về "Hai miền tôn trọng khu phi quân sự".
Hiệp định Paris gồm 9 chương, 23 điều, gồm bốn loại điều khoản chính:
- Các điều khoản chính trị ghi các cam kết của Mỹ: tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản (Điều 1), tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam (Điều 9); Hoa Kỳ không tiếp tục dính líu quân sự, không can thiệp công việc nội bộ miền Nam Việt Nam (Điều 4),
- Các điều khoản về quân sự: ngừng bắn, Hoa Kỳ rút hết quân trong 60 ngày; chấm dứt bắn phá miền Bắc; nhận tháo gỡ mìn do Mỹ đã rải ở miền Bắc.
- Các điều khoản về nội bộ miền Nam: nguyên tắc hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ, tổ chức tổng tuyển cử tự do, thành lập hội đồng quốc gia hoà giải hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần để tổ chức tổng tuyến cử.
- Các điều khoản khác như thống nhất Việt Nam, về Lào và Campuchia, về cơ cấu thi hành Hiệp định Uỷ ban liên hợp và Uỷ ban quốc tế; về Hội nghị quốc tế xác nhận hiệp định; và điều khoản về việc Hoa Kỳ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Điều 21).
Điều khoản này được cụ thể hoá thành một công hàm chính thức của Tổng thống Mỹ gửi Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với số tiền là 3,25 tỷ đôla.
Cùng với hiệp định, hai bên ký bốn nghị định thư:
1. Nghị định thư về ngừng bắn và các bạn liên hợp quân sự.
2. Nghị định thư về Uỷ ban giám sát và kiểm soát quốc tế.
3. Nghị định thư về trao trả nhân viên các bên bị bắt.
4. Nghị định thư về tháo gỡ, vô hiệu hoá mìn ở miền Bắc.
Ý nghĩa Hiệp định Paris
Hiệp định Paris - một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của nhân dân Việt Nam
Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán kéo dài suốt năm năm, với biết bao lúc căng thẳng Cuối cùng Việt Nam đã giành được thắng lợi về những yêu cầu cơ bản, có tính nguyên tắc như đã được thể hiện trong Hiệp định Paris về Việt Nam.
Việc ký kết Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Với hiệp định, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự. Nguy mất chỗ dựa, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng. Mỹ phải lùi về chiến lược, rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và tránh một Việt Nam thứ hai. Hiệp định Paris là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại.
V.Hoàn thành giải phóng miền Nam:
giai đoạn 1973 - 1975
Ngay sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xác định đường lối chủ trương đấu tranh cách mạng trong giai đoạn mới. Tháng Năm 1973, Bộ Chính trị ra nghị quyết về đấu tranh thi hành hiệp định; tháng Sáu 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, quyết định những chủ trương lớn:
+ Mục tiêu trước sau của cách mạng miền Nam là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước.
+ Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong thời kỳ mới là đẩy mạnh và kết hợp chặt chẽ ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, buộc địch thi hành hiệp định, không ngừng giữ vững và phát triển lực lượng của ta, thắng địch từng bước.
Sau ngày Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tiếp quản chính quyền Sài Gòn, công bố chính sách đối với kiểu dân các nước, giải quyết nhiều vấn đề đối ngoại khác, trong đó có việc tiếp quản các cơ quan ngoại giao của chính quyền Sài Gòn ở các nước.
kết luận
Nền ngoại giao "tuy hai mà một, tuy một mà hai"
Ngoại giao hai miền "tuy hai mà một, tuy một mà hai" - đó là nét độc đáo và sáng tạo lớn của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ngoại giao miền Bắc đã làm hết sức mình giúp đỡ Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam về chủ trương, cán bộ, tổ chức, bộ máy, giới thiệu Mặt trận với các chính phủ mà Việt Nam Dân chủ Cộng hoà dã có quan hệ ngoại giao từ trước. Đồng thời, với nỗ lực của mình, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tiến hành các hoạt động đối ngoại năng động và sáng tạo và đã đạt được những thành tựu vẻ vang.
Sách lược về nền ngoại giao “Tuy hai mà một, tuy một mà hai” thoạt đầu được coi là một bí mật quốc gia, nhưng trải qua những năm tháng thể nghiệm thắng lợi, khi điều bí mật ấy được công khai thì mọi người lại coi đó là cái tất nhiên, cái phải như vậy. Và chỉ có như vậy mới là con người Việt Nam, trí tuệ Việt Nam, mưu lược Việt Nam.
Tài liệu tham khảo: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÀ NỘI,2005
Email: 116518019@sv.tvu.edu.vn
CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC BAN ĐÃ LẮNG NGHE
LỊCH SỬ NGOẠI GIAO VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn
Nguyễn Thị Thu Sương
Thành viên nhóm
Lê Văn Khoa
Tăng Thị Yến Nhi
DA18CTH
NGOẠI GIAO VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC 1954 - 1975
CHỦ ĐỀ
Giai đoạn
Giai đoạn
Giai đoạn
Giai đoạn
Giai đoạn
1954-1960
1981 - 1954
1965 - 1968
1954 - 1973
Giai đoạn
1973-1975
Hoàn thành giải phóng miền Nam
Nội dung
I.Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960
II. Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Hoa Kỳ: Giai đoạn 1981 - 1954
III. Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
IV. Góp phần làm phá sản "Việt Nam hoá chiến tranh", đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam: Giai đoạn 1954 - 1973
V.Hoàn thành giải phóng miền Nam: Hai đoạn 1973 - 1975
KẾT LUẬN
I.Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960
I.Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960
Tình hình Đông Dương và Đông Nam Á sau Hiệp định Geneva 1954 có những thay đổi quan trọng:
- Chiến tranh chấm dứt, hoà bình được lập lại.
Nước Việt Nam bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, sau giai đoạn phục hồi kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư nhân; xác định miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.
Mỹ gạt Pháp khỏi Đông Dương, áp dụng chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, xây dựng miền Nam thành căn cứ quân sự, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam và, như chính quyền Mỹ tuyên bố ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á.
Cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới. Trong giai đoạn đầu sau khi Hiệp định Geneva về Đông Dương được ký kết, Đảng Lao động Việt Nam xác định: "Thắng lợi mới làm cho tình hình nước ta đổi mới tức là từ chiến tranh chuyển sang hoà bình. Nhưng để giành lấy hoà bình toàn diện và lâu dài, chúng ta cần phải ra sức đấu tranh...
Từ năm 1954 đến 1960, công tác đối ngoại và hoạt động quốc tế diễn ra trong điều kiện mới, thuận lợi hơn rất nhiều so với khi Chính phủ kháng chiến còn ở trong chiến khu, với nửa nước được hoàn toàn giải phóng, uy tín của Việt Nam trên thế giới được nâng lên sau thắng lợi quân sự và ngoại giao của cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược, đặc biệt là chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ.
Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai chính sách đối ngoại trên các hướng lớn:
Thứ nhất, đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva về Đông Dương, bao gồm việc thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản quân sự ghi trong các hiệp định đình chỉ chiến sự; tiếp theo đó, đấu tranh để tiến hành hiệp thương giữa hai miền Nam, Bắc như bước đầu tiên tiến tới chuẩn bị tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước, như đã quy định trong các văn bản cấu thành của Hiệp định Geneva 1954.
Thứ hai, xây dựng quan hệ đoàn kết, hợp tác toàn diện và chặt chẽ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Liên Xô và các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa, cũng như góp phần củng cố đoàn kết và hợp tác giữa các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, tăng cường đoàn kết và hợp tác trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế
+ Thứ tư, xây dựng quan hệ hữu nghị với hai chính phủ Vương quốc Campuchia và Lào, theo năm nguyên tắc chung sống hoà bình. Thúc đẩy quan hệ hợp tác với Chính phủ Pháp và tăng cường quan hệ đoàn kết, hữu nghị với nhân dân Pháp
+ Thứ năm, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu với các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Á - Phi; tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước vừa giành được độc lập ở châu Á
+ Thứ sáu, tham gia vào phong trào của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới, chống các thế lực để quốc, thực dân hiếu chiến, và vì các quyền dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Mở rộng quan hệ đối ngoại và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước phục vụ công cuộc xây dựng miền Bắc
Ngay sau khi thủ đô Hà Nội được giải phóng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nước xã hội chủ nghĩa sớm đặt đại sứ quán ở Hà Nội.
Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên chính thức thăm Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ. Tiếp đó, năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam thăm chín nước, gồm tất cả các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Bắc Á và một số nước dân tộc chủ nghĩa ở châu Á.
Từ sau Hiệp định Geneva, quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Campuchia có thay đổi lớn.
Mở rộng quan hệ đối ngoại và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước phục vụ công cuộc xây dựng miền Bắc
Với Lào, Việt Nam ủng hộ chính sách trung lập của Hoàng thân Xuyana Phuma. Năm 1956, Thủ tướng Phuma thăm Việt Nam. Việt Nam ủng hộ chính phủ liên hiệp và kiên quyết chống chính sách thù địch của các chính quyền phái hữu thân Mỹ ở nước này
Với Campuchia, Việt Nam cố gắng xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị, ủng hộ Quốc trưởng Xihanúc, ủng hộ chính sách hoà bình trung lập tích cực của Vương quốc Campuchia
Nghị quyết Trung ương lần thứ mười lăm và phong trào Đồng thời ở miền Nam Việt nam
Hội nghị Trung ương lần thứ mười lăm khoá II của Đảng Lao động Việt Nam họp tại Hà Nội tháng Giêng 1959 trên cơ sở để cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn, đã phân tích tình hình, xác định mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội Việt Nam và miền Nam Việt Nam từ sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp
Nghị quyết Trung ương lần thứ mười lăm đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng khắp miền Nam từ nông thôn đến thành thị. Ngày 17 tháng Mười một 1960, cuộc Đồng khởi của tỉnh Bến Tre tại ba xã Đinh Thuỷ, Bình Khánh, Phước Hiệp
Nghị quyết Trung ương lần thứ mười lăm và phong trào Đồng thời ở miền Nam Việt nam
Cách mạng miền Nam đã vượt qua thử thách nghiêm trọng nhất, từ thoái trào và thế giữ gìn lực lượng chuyển hẳn sang thể tiến công và giành quyền làm chủ.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và chính sách đối ngoại hoà bình, trung lập
Sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam có tầm quan trọng lịch sử đối với cách mạng miền Nam. Mặt trận đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân miền Nam là đại diện chân chính, tiêu biểu cho quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Mỹ - Diệm phá Hiệp định Geneva, Mặt trận nắm vững ngọn cờ hiệp định, đề cao thế hợp pháp của phong trào nhân dân chống Mỹ, giáng một đòn mạnh vào cái gọi là "thế hợp pháp" của chế độ tay sai của Mỹ.
II. Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ: Giai đoạn 1981 - 1954
II. Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ: Giai đoạn 1981 - 1954
Hoa Kỳ khủng hoảng về kinh tế trong các năm 1960 1961, dẫn đến 5,5 triệu người thất nghiệp. So với Liên Xô, Mỹ thua kém về tốc độ phát triển kinh tế và về chạy đua vào vũ trụ.
Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành Kế hoạch ba năm phát triển kinh tế, từ năm 1961, miền Bắc đi vào thực hiện Kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1965).
II. Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ: Giai đoạn 1981 - 1954
Trước việc đế quốc Mỹ tăng cường can thiệp quân sự ở miền Nam Việt Nam, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới với quyết tâm cao đánh bại cuộc chiến tranh đặc biệt" của Mỹ.
Nhiệm vụ đối ngoại chủ yếu của thời kỳ này, ngoại giao Việt Nam tiếp tục đề cao Hiệp định Geneva, kiên trì làm rõ trước dư luận thế giới bản chất của cuộc "chiến tranh đặc biệt" do Hoa Kỳ tiến hành, vạch trần hành động xâm lược và can thiệp của Mỹ tại miền Nam Việt Nam
Tăng cường đoàn kết nhân dân Đông Dương, mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong khi tăng cường "chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, Mỹ mở rộng chiến tranh đặc biệt sang Lào, tiếp tục uy hiếp chủ quyền lãnh thổ, phá hoại nền trung lập của Campuchia, mưu toan khống chế hai nước này và cô lập cách mạng miền Nam Việt Nam.
Việc tăng cường đoàn kết giữa ba nước Đông Dương trở thành nhân tố có tầm quan trọng chiến lược bảo đảm thắng lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
Phối hợp chống Mỹ tăng cường mở rộng chiến tranh
Từ cuối năm 1963, sang 1964, quân và dân miền Nam đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị trên cả ba vùng chiến lược, giáng cho quân ngụy Sài Gòn những đòn nặng nề
Nhiệm vụ chủ yếu của ngoại giao hai miền khuếch trương thắng lợi của quân và dân miền Nam trên chiến trường; tố cáo Mỹ và cảnh báo dư luận thế giới về âm mưu nguy hiểm của Mỹ leo thang chiến tranh; khẳng định quyết tâm của nhân dân Việt Nam đánh bại hành động chiến tranh của Mỹ; động viên dư luận thế giới lên án Mỹ, ngăn chặn Mỹ mở rộng chiến tranh và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
→Như vậy, trong giai đoạn từ 1961 đến 1964, để góp phần làm thất bại “chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, ngoại giao Việt Nam hoạt động nhằm tranh thủ sự ủng hộ quốc tế cho công cuộc xây dựng miền Bắc và tăng cường tiềm lực quốc phòng của Việt Nam
Ngoại giao hai miền phối hợp vận động quốc tế, đề cao vị trí của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tranh thủ sự ủng hộ, công nhận của các nước đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và thúc đẩy việc hình thành mặt trận thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ.
III. Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
III. Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
Trong thời gian từ tháng Mười một 1963 đến tháng Sáu 1965, đã xảy ra 14 vụ đảo chính và phản đảo chính trong nội bộ chính quyền Sài Gòn. Mỹ đứng trước sự lựa chọn: hoặc chịu thất bại, bỏ mặc chính quyền tay sai sụp đổ hoặc đưa quân Mỹ vào trực tiếp chiến đấu cứu lấy ngụy quyền, bám giữ miền Nam Việt Nam
Chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở Việt Nam, tuy được triển khai ở mức cao, đã bị phá sản
Trước những phát triển mới trên mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt, ngày 28 tháng Ba 1964, với những nội dung chính:
III. Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
Về miền Nam:
- Làm rõ chính sách và hành động của đế quốc Mỹ là xâm lược, và chính quyền Sài Gòn chỉ là tay sai của Mỹ.
- Làm rõ chính đế quốc Mỹ và tay sai đã phá hoại Hiệp định Geneva 1954.
- Làm rõ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là chính nghĩa, nhân dân miền Nam vì độc lập dân tộc, hoà bình mà phải chống Mỹ.
- Làm rõ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là một đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới.
- Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ ngày càng mạnh mẽ và đầy đủ hơn của phe ta và của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta ở miền Nam.
Về miền Bắc:
- Làm rõ đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc là hòng gỡ thế chúng thất bại trong "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, nhưng càng làm thế, chúng càng thất bại nặng nề hơn.
- Làm rõ đế quốc Mỹ đã xâm phạm chủ quyền độc lập của Việt Nam.
- Động viên dư luận thế giới đòi Mỹ chấm dứt hoàn toàn, không điều kiện việc ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam
Đấu tranh chống các "chiến dịch hoà bình" và luận điệu "đàm phán không đều làn" của Mỹ
Gây chiến tranh xâm lược chống nhân dân Việt Nam, Mỹ ở thế yếu về chính trị và phi nghĩa. Mỹ tìm cách che đậy bản chất phi nghĩa của các hoạt động chiến tranh bằng các thủ đoạn ngoại giao hoà bình.
Chống lại các luận điệu hoà bình giá hiệu của chính quyền Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao, tích cực vận động và tuyên truyền quốc tế nhằm cảnh báo trước dư luận thế giới hành động xâm lược của Mỹ; nhấn mạnh cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Ngày 22 tháng Ba 1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra Tuyên bố năm điểm, lên án hành động chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, nêu rõ lập trường, mục tiêu chiến đấu và quyết tâm của nhân dân miền Nam Việt Nam chống xâm lược Mỹ cho đến thắng lợi cuối cùng.
Đấu tranh chống các "chiến dịch hoà bình" và luận điệu "đàm phán không đều làn" của Mỹ
Ngày 8 tháng Tư 1965, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra Tuyên bố bốn điểm, nêu rõ lập trường và nguyên tắc lớn của một giải pháp cho vấn đề Việt Nam trên cơ sở vận dụng những điều khoản của Hiệp định Geneva 1954 phù hợp với tình hình mới Việt Nam.
Thúc đẩy hình thành mặt trận đoàn kết nhân dân ba nước Đông Dương
Đoàn kết nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia là nhiệm vụ chiến lược trong cách mạng Việt Nam cũng như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Việt Nam đoàn kết với Lào, Campuchia, tôn trọng độc lập tự chủ của hai nước bạn láng giềng.
Thúc đẩy hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, hình thành từ cuối năm 1964, đã nhanh chóng mở rộng phát triển mạnh mẽ từ khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam và dùng không quân đánh phá miền Bắc.
Phong trào lan từ các nước xã hội chủ nghĩa tới các nước tư bản phát triển, các nước dân tộc độc lập khắp các châu lục.
Thúc đẩy hình thành phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh
Ngay mùa Thu 1965, lúc Mỹ vừa đưa một số đơn vị quân chiến đấu đầu tiên vào miền Nam, các tổ chức chống chiến tranh đã thành lập "Uỷ ban phối hợp toàn quốc" đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
Uỷ bạn này liên tiếp phát động hai đợt đấu tranh lớn, đợt thứ nhất từ ngày 15 đến 17 tháng Mười 1965, đợt thứ hai từ ngày 15 đến 25 tháng Ba 1966. Hai đợt mở đầu này lôi cuốn trên nửa triệu người Mỹ ở hơn 100 thành phố tham gia.
→ Phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh đã tác động lớn đến thái độ của chính giới Mỹ.
Tạo cục diện vừa đánh vừa đàm
Đến cuối năm 1966, sau hai năm chiến đấu trực tiếp chống quân viễn chinh Mỹ, quân dân miền Nam đã đánh thắng được cuộc phản công mùa khô thứ nhất (Đông Xuân 1965 - 1966) và đang đánh thắng cuộc phản công mùa khô thứ hai (Đông Xuân 1966 1967). Chiến lược tìm và diệt của Mỹ thất bại một bước.
Trên đà thắng lợi ở chiến trường, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ mười ba khoá III, tháng Giêng 1967, quyết định đẩy mạnh chiến đấu trên cả hai miền
Để giành thắng lợi trên mặt trận này, phương châm đấu tranh của ta là phát huy thế mạnh, thế thắng của ta, chủ động tấn công địch, giữ vững tính độc lập tự chủ, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các nước anh em. Trên cơ sở kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cần vận dụng sách lược ngoại giao một cách linh hoạt, khôn khéo, giành thắng lợi từng bước.
IV. Góp phần làm phá sản "Việt Nam hoá chiến tranh", đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam: Giai đoạn 1954 - 1973
IV. Góp phần làm phá sản "Việt Nam hoá chiến tranh", đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam: Giai đoạn 1954 - 1973
Cùng với những thất bại nặng nề trên chiến trường Việt Nam, đỉnh cao là trong cuộc tổng tấn công nổi dậy của quân và dân miền Nam Việt Nam dịp Tết Mậu Thân, Mỹ bước vào thời kỳ suy yếu rõ rệt, kinh tế khó khăn, nội bộ chia rẽ sâu sắc.
Tháng Giêng 1969, R. Nixon lên cầm quyền, đại diện cho nhữngthế lực hiếu chiến nhất của nước Mỹ. Để khắc phục tình trạng suy yếu, chính quyền mới điều chỉnh chiến lược toàn cầu.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Đấu tranh chống chiến lược quân sự và ngoại giao của chính quyền Nixon
1. Đấy địch xuống thang một bước trên chiến trường chính, ép Hoa Kỳ đơn phương rút một bộ phận quân Mỹ;
2. Khoét sâu mâu thuẫn, khó khăn nội bộ Mỹ, nội bộ ngụy, mâu thuẫn Mỹ - ngụy;
3. Đề cao vị trí quốc tế của Mặt trận Dân tộc Giải phóng (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời);
4. Tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ ta về vật chất và chính trị, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ mạnh mẽ, có hiệu quả của phong trào nhân dân thế giới, bao gồm cả nhân dân Mỹ, đấu tranh đòi Mỹ rút nhanh, rút hết và không điều kiện quân ra khỏi miền Nam.
Tháng Năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đã có chỉ thị toàn diện cho đoàn đàm phán Paris khi Trưởng đoàn Xuân Thuỷ về nước báo cáo tình hình đàm phán với Mỹ: "Tiền công ngoại giao là một mặt tiến công quan trọng có ý nghĩa chiến lược lúc này.
Nó có nhiệm vụ phát huy thể thắng và thể chủ động của ta, tiến công một kẻ địch đang thất bại, bị động về mọi mặt và phải xuống thang; phát huy thắng lợi quân sự và chính trị trên chiến trường quốc tế; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ lớn nhất của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ; triệt để lợi dụng những mâu thuẫn và bế tắc của địch, làm cho tình hình hậu phương của Mỹ ngày càng bất lợi cho Mỹ, làm cho chúng ngày càng cô lập, lúng túng và bị động; nắm vững thời cơ, phối hợp với tiến công quân sự và tiến công chính trị, tiến công liên tục và sắc bén, kiên trì nguyên tắc, khéo vận dụng sách lược, vừa kiên quyết, vừa linh hoạt, buộc Mỹ phải rút quân và nhận một giải pháp chính trị đáp ứng yêu cầu cơ bản của ta”.
Hội nghị bốn bên ở Paris: Ép Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh, nứt dân quân khỏi miền Nam Việt Nam
Sau khi Hoa Kỳ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều ra tuyên bố cùng Mỹ và chính quyền Sài Gòn họp hội nghị bốn bên và cùng các bên đưa cuộc họp đến kết quả.
Ngày 3 tháng Mười một 1968, đại diện Mỹ gặp đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị bắt đầu cuộc họp trù bị từ ngày 6 tháng Mười một. Ngày 2 tháng Mười một, đoàn tiền trạm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng do bà Nguyễn Thị Bình, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng, làm trưởng đoàn, đến Paris.
Tiến trình đến đây tưởng đã ổn nhưng lại nảy sinh vấn đề về hình dáng bàn họp và chỗ ngồi của các đoàn.
Về ngày họp, đã đồng ý bắt đầu ngày 18 tháng Giêng 1969, nhưng đoàn chính thức của Sài Gòn đến chậm. Đây là thủ đoạn của Nguyễn Văn Thiệu cố tình kéo dài việc cử đoàn chính thức đến Paris để Johnson rời Nhà Trắng mà vẫn không được biết hội nghị khai mạc.
Lê Đức Thọ cho rằng khó khăn là do tập đoàn Thiệu - Kỳ - Hương không muốn giải quyết vấn đề, do đó ngồi vào với nhau cũng khó giải quyết. Việc cử Nguyễn Cao Kỳ làm cố vấn cho đoàn Sài Gòn là điều không hay. Tình hình có thể phát triển theo ba khả năng:
+ Khả năng thứ nhất là đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng nghiêm chỉnh và có thiện chí, chính quyền mới ở Mỹ và đoàn đại biểu mới của Mỹ ở Paris cũng nghiêm chỉnh và có thiện chí thì có thể tiến lên giải quyết vấn đề.
+ Khả năng thứ hai là Mỹ cùng thế mạnh để ép Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng và không coi trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam thì khó có thể giải quyết vấn đề, cuộc đàm phán sẽ kéo dài.
+ Khả năng thứ ba là Mỹ không muốn giải quyết mà muốn tiếp tục ảnh thì Việt Nam cũng sẵn sàng chiến đấu.
Lúc 10 giờ 30, ngày 25 tháng Giêng 1969, Hội nghị đàm phán bốn bên về vấn đề Việt Nam long trọng khai mạc.
Từ đầu Hội nghị Paris, Hoa Kỳ luôn luôn nêu vấn đề rút quân miền Bắc với lý do quân Mỹ và quân miền Bắc Việt Nam đều là "ngoại nhập". âm mưu của Mỹ là tách cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam khỏi hậu phương lớn là miền Bắc, để có thể giành thắng lợi dễ dàng ở miền Nam Việt Nam.
Năm 1970, hai đợt gặp riêng được tiến hành trong tháng Hai và tháng Mười; phía Việt Nam có Lê Đức Thọ tham dự và trở thành nhà đàm phán chính. Nội dung các cuộc gặp này cơ bản vẫn như các cuộc họp công khai ở Hội nghị bốn bên. Lê Đức Thọ lên án Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh, không chịu định thời hạn rút hết quân.
Đến giữa năm 1971, sau thắng lợi lớn của lực lượng vũ trang cách mạng ở đường 9 - Nam Lào, thế trận của Việt Nam đã được cải thiện. Mỹ cũng đã rút được 300.000 quân.
Đợt gặp riêng tháng Mười 1971 rất đáng chú ý. Việt Nam vừa giành thắng lợi ở đường 9 - Nam Lào, đánh bại một bước quan trọng chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh"; cuối năm 1971 Việt Nam tập trung chuẩn bị chiến dịch Đông Xuân 1971 - 1972 nhằm giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định.
Đi Tới Hiệp định Paris
Từ năm 1971, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam chủ trương chuẩn bị chiến dịch lớn giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định vào đầu năm 1972, buộc Mỹ phải kết thúc chiến tranh. Ngày 30 tháng Ba 1972, quân và dân Việt Nam mở cuộc Tổng tấn công chiến lược Xuân Hè, đánh địch trên năm mặt trận lớn từ Trị Thiên đến đồng bằng Cửu Long. Sau ba tháng tấn công, quân và dân Việt Nam giành thắng lợi lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, tạo được chỗ đứng vững cho các đơn vị chủ lực trở về.
Đi Tới Hiệp định Paris
Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam thông qua những phương hướng lớn của giải pháp nhằm đạt bốn mục tiêu:
- Hoa Kỳ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.
- Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân, chấm dứt dính líu quân sự, không can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam
- Hoa Kỳ thừa nhận thực tế miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hại vùng kiểm soát, Hoa Kỳ tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam.
- Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh dưới hình thức đóng góp để hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng lại miền Bắc.
Những vấn đề chưa nhất trí còn nhiều và trên tất cả các mặt của giải pháp: quân sự, chính trị, bồi thường chiến tranh, vấn đề lông Dương. Gay gắt và khó khăn nhất là vấn đề chính trị nội bộ miền Nam: Việt Nam muốn có một hình thức chính quyền liên hiệp; Mỹ muốn giữ chính quyền Sài Gòn, giải quyết vấn đề nội bộ miền Nam trong khuôn khổ chế độ ngụy, tức là Mỹ không chịu giải quyết vấn đề chính trị. Lập trường hai bên về vấn đề này rất xa nhau.
Thoả thuận về dự thảo Hiệp định tháng Mười 1972
Tại phiên họp ngày 8 tháng Mười 1972 - phiên họp bước ngoặt của diễn đàn đàm phán bí mật, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã trao cho H. Kissinger dự thảo Hiệp định về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và dự thảo Thoả thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam
Hiệp định nhằm giải quyết vấn đề chính trị và quân sự như Hoa Kỳ tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như Hiệp định Geneva 1954 về Việt Nam đã công nhận, chấm dứt chiến sự, rút quân Mỹ, trao đổi người các bên bị bắt trong chiến tranh, ngừng bắn, có kiểm soát và giám sát quốc tế ở Việt Nam, Mỹ chịu trách nhiệm hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế ở miền Bắc. Còn các vấn đề quân sự và chính trị của miền Nam Việt Nam thì chỉ thoả thuận về những nguyên tắc lớn. Sẽ ngừng bắn ngay sau khi Hiệp định được ký kết.
Hiệp định tháng Giêng 1973
Ngày 23 tháng Mười, Tổng thống Nixon thông báo khẩn cấp cho Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị có cuộc gặp riêng mới ở Paris và hoãn chuyến đi của Kissinger tới Hà Nội.
Những đề nghị sửa đổi chủ yếu là:
- Phủ nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời, bỏ tên Chính phủ Cách mạng lâm thời trong tất cả các điều khoản. Mỗi bên chỉ có vùng đóng quân, không có vùng kiểm soát.
- Làm nổi bật miền Nam là một quốc gia. Hai miền tôn trọng lãnh thổ của nhau, tôn trọng khu phi quân sự.
- Nêu trở lại vấn đề lực lượng quân sự miền Bắc: các lực lượng không phải Nam Việt Nam rút khỏi Nam Việt Nam; phục viên số quận hai bên ngang nhau; quân nhân phục viện về sinh quán.
- Hạ thấp vai trò chức năng, tổ chức của Hội đồng hoà giải dân tộc.
- Không nói gì đến nhân viên dân sự bị bắt của Chính phủ Cách mạng lâm thời
- Đưa yêu cầu ngừng bắn ở Lào và Campuchia cùng lúc với ngừng bắn ở Việt Nam. Đòi các lực lượng vũ trang các nước Đông Dương phải ở trong biên giới quốc gia họ.
Bị thất bại nặng nề, ngày 22 tháng Mười hai, chính quyền Mỹ gửi công hàm đề nghị H. Kissinger và Lê Đức Thọ gặp nhau vào ngày 3 tháng Giêng 1973 và nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chấp nhận thì Mỹ sẽ ngừng ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở lên từ ngày 30 tháng Mười hai.
Ngày 29 tháng Mười Hai, Mỹ ngừng ném bom ở Bắc vĩ tuyến 20 Chiến thắng oanh liệt "Điện Biên phủ trên không" ở thủ đô Hà Nội của quân đân Việt Nam đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân, ngón đòn xảo trá của đế quốc Mỹ, đã tạo thế vững mạnh cho hai đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam khi bước vào vòng đàm phán cuối cùng tại Paris.
Như vậy là sau gần 3 tháng đàm phán lại, hai bên đạt thoả thuận cuối cùng ngày 23 tháng Giêng 1973 và ký tắt hiệp định và bốn nghị định thư. Bốn ngoại trưởng bốn bên dự Hội nghị Paris ký chính thức Hiệp định Paris vào ngày 27 tháng Giêng 1973.
Có năm chỗ sửa đổi liên quan đến nội dung: - Hai bên được thay thế vũ khí dùng hết hoặc bị phá huỷ.
- Về vấn đề lực lượng vũ trang, thêm ý "hoàn thành giảm quân số phục viên càng sớm càng tốt".
- Về Hội đồng hoà giải, hoà hợp dân tộc: bỏ “cơ cấu chính quyền”, bỏ chức năng “duy trì ngừng bắn, giữ vững hoà bình”.
- Một sửa đổi quan trọng là tại văn bản bốn bên ký không ghi tên chính thức của Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính phủ "Việt Nam Cộng hoà" tại các điều khoản của hiệp định mà chỉ để một lần tại chức vụ chính thức của người ký.
Với Mỹ, sửa đổi quan trọng nhất là thêm được điều khoản về "Hai miền tôn trọng khu phi quân sự".
Hiệp định Paris gồm 9 chương, 23 điều, gồm bốn loại điều khoản chính:
- Các điều khoản chính trị ghi các cam kết của Mỹ: tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản (Điều 1), tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam (Điều 9); Hoa Kỳ không tiếp tục dính líu quân sự, không can thiệp công việc nội bộ miền Nam Việt Nam (Điều 4),
- Các điều khoản về quân sự: ngừng bắn, Hoa Kỳ rút hết quân trong 60 ngày; chấm dứt bắn phá miền Bắc; nhận tháo gỡ mìn do Mỹ đã rải ở miền Bắc.
- Các điều khoản về nội bộ miền Nam: nguyên tắc hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ, tổ chức tổng tuyển cử tự do, thành lập hội đồng quốc gia hoà giải hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần để tổ chức tổng tuyến cử.
- Các điều khoản khác như thống nhất Việt Nam, về Lào và Campuchia, về cơ cấu thi hành Hiệp định Uỷ ban liên hợp và Uỷ ban quốc tế; về Hội nghị quốc tế xác nhận hiệp định; và điều khoản về việc Hoa Kỳ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Điều 21).
Điều khoản này được cụ thể hoá thành một công hàm chính thức của Tổng thống Mỹ gửi Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với số tiền là 3,25 tỷ đôla.
Cùng với hiệp định, hai bên ký bốn nghị định thư:
1. Nghị định thư về ngừng bắn và các bạn liên hợp quân sự.
2. Nghị định thư về Uỷ ban giám sát và kiểm soát quốc tế.
3. Nghị định thư về trao trả nhân viên các bên bị bắt.
4. Nghị định thư về tháo gỡ, vô hiệu hoá mìn ở miền Bắc.
Ý nghĩa Hiệp định Paris
Hiệp định Paris - một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của nhân dân Việt Nam
Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán kéo dài suốt năm năm, với biết bao lúc căng thẳng Cuối cùng Việt Nam đã giành được thắng lợi về những yêu cầu cơ bản, có tính nguyên tắc như đã được thể hiện trong Hiệp định Paris về Việt Nam.
Việc ký kết Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Với hiệp định, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự. Nguy mất chỗ dựa, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng. Mỹ phải lùi về chiến lược, rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và tránh một Việt Nam thứ hai. Hiệp định Paris là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại.
V.Hoàn thành giải phóng miền Nam:
giai đoạn 1973 - 1975
Ngay sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xác định đường lối chủ trương đấu tranh cách mạng trong giai đoạn mới. Tháng Năm 1973, Bộ Chính trị ra nghị quyết về đấu tranh thi hành hiệp định; tháng Sáu 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, quyết định những chủ trương lớn:
+ Mục tiêu trước sau của cách mạng miền Nam là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước.
+ Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong thời kỳ mới là đẩy mạnh và kết hợp chặt chẽ ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, buộc địch thi hành hiệp định, không ngừng giữ vững và phát triển lực lượng của ta, thắng địch từng bước.
Sau ngày Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tiếp quản chính quyền Sài Gòn, công bố chính sách đối với kiểu dân các nước, giải quyết nhiều vấn đề đối ngoại khác, trong đó có việc tiếp quản các cơ quan ngoại giao của chính quyền Sài Gòn ở các nước.
kết luận
Nền ngoại giao "tuy hai mà một, tuy một mà hai"
Ngoại giao hai miền "tuy hai mà một, tuy một mà hai" - đó là nét độc đáo và sáng tạo lớn của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ngoại giao miền Bắc đã làm hết sức mình giúp đỡ Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam về chủ trương, cán bộ, tổ chức, bộ máy, giới thiệu Mặt trận với các chính phủ mà Việt Nam Dân chủ Cộng hoà dã có quan hệ ngoại giao từ trước. Đồng thời, với nỗ lực của mình, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tiến hành các hoạt động đối ngoại năng động và sáng tạo và đã đạt được những thành tựu vẻ vang.
Sách lược về nền ngoại giao “Tuy hai mà một, tuy một mà hai” thoạt đầu được coi là một bí mật quốc gia, nhưng trải qua những năm tháng thể nghiệm thắng lợi, khi điều bí mật ấy được công khai thì mọi người lại coi đó là cái tất nhiên, cái phải như vậy. Và chỉ có như vậy mới là con người Việt Nam, trí tuệ Việt Nam, mưu lược Việt Nam.
Tài liệu tham khảo: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÀ NỘI,2005
Email: 116518019@sv.tvu.edu.vn
CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC BAN ĐÃ LẮNG NGHE
 








Các ý kiến mới nhất