ngu van 7

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu
Ngày gửi: 08h:47' 12-08-2023
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 457
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu
Ngày gửi: 08h:47' 12-08-2023
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 457
Số lượt thích:
0 người
1
N
Ả
B
N
VĂ
H
C
Á
S
C
Ọ
Đ
Ề
V
BÀN
M
Ề
I
T
G
N
A
CHU QU
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tác giả Chu Quang Tiềm (1897-1986)
- Là nhà mĩ học và lí luận nổi tiếng của Trung Quốc.
- Những bài chính luận của Chu Quang Tiềm mang phong cách nhẹ nhàng
nhưng vẫn đầy đủ lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng sinh động và
có tính thuyết phục sâu sắc. Văn phong chính luận của Chu Quang Tiềm
không hề khô khan mà có cả tâm tình và chút hài hước.
2. Văn bản Bàn về đọc sách
a. Xuất xứ: Trích trong cuốn “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui, nỗi
buồn của việc đọc sách” xuất bản năm 1995
b. Thể loại: Văn bản nghị luận về một vấn đề đời sống
c. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
d. Đề tài: Đọc sách
e. Bố cục: 3 phần:
+ P1: Từ đầu …. “thế giới mới”: Sự cần thiết và ý nghĩa của việc đọc sách
+ P2: Tiếp…đến… “tự tiêu hao lực lượng”: Những khó khăn, thiên hướng
sai lệch dễ mắc phải của việc đọc sách trong tình trạng hiện nay.
+ P3: Phần còn lại: Bàn về phương pháp chọn sách và đọc sách.
f. Đặc sắc nội dung và nghệ thuật
*Nghệ thuật
- Bài viết thể hiện rõ quan điểm của người viết qua các ý kiến rõ ràng;
- Lí lẽ, bằng chứng cụ thể, thuyết phục
- Cách triển khai mạch lạc.
- Ngôn ngữ trong sáng, bình dị, góc nhìn khách quan.
*Nội dung – Ý nghĩa
Văn bản thuyết phục người đọc về những lợi ích của việc đọc sách và
sự cần thiết của việc đọc sâu, nghiền ngẫm kĩ khi đọc.
II. LUYỆN TẬP
DẠNG 1: THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU
Đề số 01: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng việc đọc sách vẫn là một
con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không chỉ là việc cá
nhân mà là việc của toàn nhân loại. Mỗi loại học vấn đến giai đoạn hôm
nay đều là thành quả của toàn nhân loại nhờ biết phân công, cố gắng tích
luỹ ngày đêm mà có. Các thành quả đó sở dĩ không bị vùi lấp đi, đều là do
sách vở ghi chép, lưu truyền lại.
Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại, cũng có thể
nói đó là những cột mốc trên con đường tiến hoá học thuật của nhân loại.
Nếu chúng ta mong tiến lên từ văn hoá, học thuật của giai đoạn này, thì
nhất định phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm
điểm xuất phát. Nếu xoá bỏ hết các thành quả nhân loại đã đạt được trong
quá khứ, thì chưa biết chừng chúng ta đã lùi điểm xuất phát về đến mấy
trăm năm, thậm chí là mấy nghìn năm trước. Lúc đó, dù có tiến lên cũng
chỉ là đi giật lùi, làm kẻ lạc hậu.[...]
(Chu Quang Tiềm, Bàn về đọc sách, Ngữ văn 9, tập hai, Nguyễn Khắc
Phi (Tổng chủ biên, Trần Đình Sử dịch, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên? Xác
định vấn đề cần bàn luận.
Câu 2. Từ “học vấn” trong đoạn văn trên được dùng với nghĩa nào?
Câu 3: Đoạn trích viết ra nhằm mục đích gì? Mục đích đó được thể hiện
qua những đặc điểm nào trong đoạn trích?
Câu 4: Em có đồng ý với quan niệm của tác giả: Sách là kho tàng quý báu
cất giữ di sản tinh thần nhân loại hay không? Vì sao?
Câu 5: Theo em tại sao tác giả cho rằng: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc
sách nhưng đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học
vấn không chỉ là việc cá nhân, mà là việc của toàn nhân loại”
Câu 6. Theo em, vì sao muốn tích luỹ kiến thức, đọc sách có hiệu quả thì
trước tiên cần phải biết chọn lựa sách mà đọc?
Gợi ý làm bài
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên là: Nghị luận.
Vấn đề bàn luận là: Bàn về việc đọc sách và nhấn mạnh đọc sách là một
con đường quan trọng của học vấn.
Câu 2: Từ “học vấn” trong đoạn trích có nghĩa là những thành quả tích
lũy, những hiểu biết, tri thức nhờ học tập mà có của mỗi con người.
Câu 3: - Mục đích của đoạn trích: Thuyết phục người đọc về tầm quan
trọng của việc đọc sách.
- Mục đích đó được thể hiện qua hệ thống ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng rõ ràng,
sắp xếp theo trình tự hợp lí:
+ Ý kiến: Học vấn không chỉ là việc của cá nhân mà còn là việc của
toàn nhân loại.
+ Lí lẽ: Các thành quả của nhân loại đã được tích lũy từ lâu, nếu
không tiếp thu ta sẽ bị tụt hậu.
+ Bằng chứng: Học vấn, tri thức của nhân loại đều được lưu trữ trong
sách vở, lưu truyền lại để không bị vùi lấp.
Câu 4: Em đồng ý với quan niệm: Sách là kho tàng quý báu cất giữ di
sản tinh thần nhân loại. Vì: Sách là kết tinh văn minh nhân loại, là nơi
hội tụ mọi tinh hoa của loài người về mọi lĩnh vực nhân văn và khoa
học, đánh dấu những bước đường đi lên của mọi dân tộc, mọi quốc gia
trên hành trình qua nhiều thiên niên kỉ. Sách hội tụ bao kiến thức để mở
rộng tầm nhìn, nâng cao trí tuệ, bồi đắp tâm hồn cho mọi thế hệ.
Câu 5: Tác giả cho rằng: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách nhưng
đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không
chỉ là việc cá nhân, mà là việc của toàn nhân loại” vì:
Sách: tư liệu tích lũy kiến thức bằng cách ghi chép được truyền từ đời
này sang đời khác.
Đọc sách không phải con đường duy nhất của học vấn: con đường tích
lũy kiến thức, học tập có nhiều cách khác nhau, một trong số đó là đọc
sách.
Nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn: khẳng
định vị trí tiên phong, có nhiệm vụ lớn lao trong việc học của con
người.
Ý kiến của Chu Quang Tiềm khẳng định sách có vai trò to lớn không
thể thay thế trong việc học. Từ đó cho chúng ta có những suy nghĩ
đúng đắn về việc đọc sách.
Câu 6. Muốn tích luỹ kiến thức, đọc sách có hiệu quả thì trước tiên cần
phải biết chọn lựa sách mà đọc vì: sách có nhiều loại sách, nhiều lĩnh
vực: khoa học, xã hội, giải trí, giáo khoa… Mỗi chúng ta cần biết mình ở
độ tuổi nào, có thế mạnh về lĩnh vực gì. Xác định được điều đó ta mới có
thể tích luỹ được kiến thức hiệu quả. Cần hạn chế việc đọc sách tràn lan
lãng phí thời gian và công sức…
Đề số 02: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Lịch sử càng tiến lên, di sản tinh thần nhân loại càng phong phú, sách vở
tích lũy càng nhiều, thì việc đọc sách cũng ngày càng không dễ. Sách tất
nhiên là đáng quý, nhưng cũng chỉ là một thứ tích lũy. Nó có thể làm trở
ngại cho nghiên cứu học vấn. ít nhất có hai cái hại thường gặp. Một là, sách
nhiều khiến người ta không chuyên sâu. Các học giả Trung Hoa thời cổ đại
do sách khó kiếm, một đời đến bạc đầu mới đọc hết một quyển kinh. Sách
tuy đọc được ít, nhưng đọc quyển nào ra quyển ấy, miệng đọc, tâm ghi,
nghiền ngẫm đến thuộc lòng, thấm vào xương tủy, biến thành một nguồn
động lực tinh thần, cả đời dùng mãi không cạn.
Giờ đây sách dễ kiếm, một học giả trẻ đã có thể khoe khoang từng đọc
hàng vạn cuốn sách. “Liếc qua” tuy rất nhiều, những “đọng lại” thì rất ít,
giống như ăn uống, các thứ không tiêu hóa được tích càng nhiều, thì càng
dễ sinh ra bệnh đau dạ dày, nhiều thói xấu hư danh nông cạn đều do lối ăn
tươi nuốt sống đó mà sinh ra cả. Hai là, sách nhiều dễ khiến người đọc lạc
hướng. Bất cứ lĩnh vực học vấn nào ngày nay đều đã có sách vở chất đầy
thư viện, trong đó những tác phẩm cơ bản, đích thực, nhất thiết phải đọc
chẳng qua cũng mấy nghìn quyển, thậm chí chỉ mấy quyển. Nhiều người
mới học tham nhiều mà không vụ thực chất, đã lãng phí thời gian và sức
lực trên những cuốn sách vô thưởng vô phạt, nên không tránh khỏi bỏ lỡ
mất dịp đọc những cuốn sách quan trọng, cơ bản.
(Chu Quang Tiềm, Bàn về đọc sách, Ngữ văn 9, tập hai, Nguyễn Khắc
Phi (Tổng chủ biên, Trần Đình Sử dịch, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên?
Câu 2. Nêu câu văn nêu lên ý kiến thể hiện quan điểm, tư tưởng của người viết?
Câu 3: Tác giả đã sử dụng lí lẽ, bằng chứng nào để làm sáng tỏ ý kiến của
mình?
Câu 4. Việc tác giả sắp xếp các lí lẽ theo trình tự “một là...”, “hai là...” có tác
dụng gì?
Câu 5: Theo tác giả, điểm khác biệt giữa cách đọc sách của người xưa và người
nay như thế nào? Sự khác biệt đó là do đâu?
Câu 6. Theo quan điểm của em, thế nào là quyển sách hay?
Gợi ý làm bài
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2. Câu văn nêu lên ý kiến thể hiện quan điểm, tư tưởng của người
viết: “Lịch sử càng tiến lên, di sản tinh thần nhân loại càng phong phú,
sách vở tích lũy càng nhiều, thì việc đọc sách cũng ngày càng không dễ”.
Câu 3. Tác giả sử dụng những lí lẽ, bằng chứng sau để làm sáng tỏ ý kiến:
- Lí lẽ: + Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu.
+ Sách nhiều dễ khiến người đọc lạc hướng
- Bằng chứng: + Cách đọc hiệu quả của người xưa và người nay
+ Cách đọc tham số lượng mà không vì thực chất: nhiều
người đọc tham nhiều mà không vụ thực chất, đã lãng phí thời gian và sức
lực trên những cuốn sách vô thưởng vô phạt, nên không tránh khỏi bỏ lỡ
mất dịp đọc những cuốn sách quan trọng, cơ bản.
Câu 4. Việc tác giả sắp xếp theo trình tự “một là...”, “hai là...” có tác dụng:
giúp người đọc nhận ra các lí lẽ, điều này tăng sức thuyết phục cho văn bản.
Câu 5.
- Theo tác giả, điểm khác biệt giữa cách đọc sách của người xưa và người nay:
+ Người xưa: Sách tuy đọc được ít, nhưng đọc quyển nào ra quyển ấy, miệng
đọc, tâm ghi, nghiền ngẫm đến thuộc lòng, thấm vào xương tủy, biến thành
một nguồn động lực tinh thần, cả đời dùng mãi không cạn.
+ Người nay: “Liếc qua” tuy rất nhiều, những “đọng lại” thì rất ít.
-Nguyên nhân của sự khác biệt: Do số lượng sách ngày càng nhiều nên việc
đọc không chuyên sâu và do nhận thức khác biệt về việc đọc sách.
Câu 6: HS tự suy nghĩ và trả lời theo quan điểm cá nhân:
Một cuốn sách hay là cuốn sách:
- Phù hợp với đam mê, sở thích của người đọc
- Nội dung phong phú mang nhều kiến thức mới mẻ, độc đáo đến cho
người đọc
- Phù hợp lứa tuổi của bản thân
- Trình bày đep, nhiều tranh ảnh thu hút,...
ĐỌC HIỂU
NGOÀI SGK
Đề số 03: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
… Nói tới sách là nói tôi trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu
văn minh mà hàng bao thế hệ tích luỹ truyền lại cho mai sau. Sách đưa đến
cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao
la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi. Những quyển sách khoa học
có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những quy luật của nó,
hiểu được trái đất tròn trên mình nó có bao nhiêu đất nước khác nhau với
những thiên nhiên khác nhau. Những quyển sách xã hội lại giúp ta hiểu biết
về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về
kinh tế, lịch sử, văn hoá, những truyền thống, những khát vọng.
Sách, đặc biệt là những cuốn sách văn học giúp ta hiểu biết vẽ đời sổng bên
trong tâm hồn của con người, qua các thời kì khác nhau, những niềm vui và
nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách
còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ
bao la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác, với
tất cả mọi người trong cộng đổng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách
giúp cho người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người
và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự. Sách mở rộng
những chân trời ước mơ và khát vọng. Ta đồng ý với lời nhận xét mà cũng là
một lời khuyên bảo chí lí của M. Gorki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến
thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Vì thế, mỗi chúng ta hãy đọc
sách, cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt.
(Về việc đọc sách, Nguồn: Internet)
Ghi lại chữ cái đứng trước phương án trả lời mà em lựa chọn cho các
câu hỏi từ câu 1 đến câu 8 vào bài làm. Với câu 9, 10 các em tự viết
phần trả lời vào bài.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích:
A.Biểu cảm
B.Thuyết minh
C.Miêu tả
D.Nghị luận
Câu 2: Vấn đề cần bàn luận của văn bản là:
A.Phương pháp đọc sách
B.Cách chọn sách hay
C.Tầm quan trọng, giá trị của sách
D.Cả 3 đáp án trên
Câu 3: Tác giả thể hiện ý kiến của mình về vấn đề cần bàn luận qua câu
văn:
A.… Nói tới sách là nói tôi trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành
tựu văn minh mà hàng bao thế hệ tích luỹ truyền lại cho mai sau.
B.Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung
quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi.
C.Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai
giữa vũ trụ bao la này,..
D.Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng.
Câu 4: Tác giả đưa ra những bằng chứng về sách khoa học, sách xã hội, sách
văn học giúp làm sáng tỏ cho lí lẽ nào?
A.… Nói tới sách là nói tôi trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu
văn minh mà hàng bao thế hệ tích luỹ truyền lại cho mai sau.
B.Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung
quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi.
C.Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa
vũ trụ bao la này,..
D.Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng.
Câu 5. Phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn trích là:
A.Phép nối
B.Phép lặp
C.Phép thế
D.Phép liên tưởng
Câu 6. Công dụng của dấu chấm lửng trong câu văn: “… Nói tới sách
là nói tôi trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu văn minh mà
hàng bao thế hệ tích luỹ truyền lại cho mai sau.” là:
A.Biểu đạt ý còn nhiều sự việc chưa liệt kê hết
B.Mô phỏng âm thanh kéo dài, ngắt quãng
C.Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt
D.Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở, ngập ngừng hay ngắt quãng
Câu 7: Theo tác giả, những quyển sách nào giúp ta hiểu biết về đời sống
bên trong tâm hồn con người?
A.Sách khoa học
B.Sách xã hội
C.Sách thiếu nhi
D.Sách văn học
Câu 8. Tác dụng của dấu ngoặc kép trong câu: “Hãy yêu sách, nó là
nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” là:
A.Dùng để dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật hoặc của người nào đó.
B.Dùng để đánh dấu các từ ngữ có hàm ý mỉa mai.
C.Dùng để đánh dấu tên tác phẩm văn học trích dẫn.
D.Dùng để đánh dấu lời kêu gọi
Câu 9. Vì sao tác giả bài viết lại cho rằng: “Sách còn giúp người đọc phát
hiện ra chính mình”?
Gợi ý làm bài
Câu 9: Tác giả cho rằng: “Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính
mình”, vì:
– Sách giúp con người tự nhận thức về mình: hiểu rõ mình là ai giữa vũ
trụ bao la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác,
với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này.
– Sách giúp con người nhận thức về cuộc sống con người: Sách giúp cho
người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người, phải
làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.
Câu 10. Thông điệp nào từ đoạn văn có ý nghĩa quan trọng nhất với
anh/chị? Vì sao?
Gợi ý làm bài
Câu 10. Có thể chọn một trong những câu quan trọng trong đoạn như:
– Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng.
– “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con
đường sống”.
– “Mỗi chúng ta hãy đọc sách, cố gắng đọc sách càng nhiệu càng tốt”.
Đề số 4: Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
Bạn nói những gì, bạn làm điều gì, cảm thấy như thế nào – tất cả đều
có nguồn gốc từ trong tâm trí bạn và bắt đầu chỉ bằng một ý nghĩ.
Suy nghĩ của chúng ta cũng giống như những hạt giống, mỗi suy nghĩ
sẽ đơm hoa kết trái để tạo ra một hương vị riêng biệt. Suy nghĩ có thể là
sự sáng tạo hay phá hủy, yêu thương hay thù hận, nâng đỡ hay vùi dập.
Khi chúng ta hiểu và học cách kiểm soát những suy nghĩ của bản thân thì
chúng ta sẽ trải nghiệm được sự bình an, niềm hạnh phúc và sự vững
vàng trong tâm hồn. Suy nghĩ tích cực dạy chúng ta cách hành động thay
vì phản ứng; “hướng dẫn” cuộc đời ta thay vì để cho hành vi của người
khác, những trải nghiệm quá khứ, hay hoàn cảnh hiện tại điều khiển tinh
thần ta.
Theo tính toán, mỗi người trung bình có khoảng 30.000 đến 50.000 ý
nghĩ mỗi ngày. Một tâm trí đang trong tình trạng stress sẽ tạo ra nhiều ý
nghĩ hơn, có thể lên đến 80.000 ý nghĩ. Hẳn bạn đã từng rơi vào trạng thái
căng thẳng thần kinh vì gặp phải một sự kiện đột ngột xảy ra trong đời, lúc
đó có đến cả hàng ngàn ý nghĩ chạy dồn dập trong đầu bạn.
Tâm trí chúng ta có một khả năng rất lớn, làm việc không ngừng nghỉ
ngay cả khi ngủ. Như đã nói, suy nghĩ chính là hạt giống cho những hành
động và cảm xúc. Vì vậy, bằng cách tạo nên những suy nghĩ tích cực và
lành mạnh, chúng ta đã kích hoạt tiềm năng tích cực của chính mình.
(Frederic Labarthe, Anthony Strano – Tư duy tích cực, NXB tổng hợp
TPHCM, 2014, trang 20-21)
Câu 1. Đoạn trích bàn luận về vấn đề gì?
Câu 2. Theo tác giả, suy nghĩ tích cực có tác dụng gì?
Câu 3. Chỉ ra phép tu từ được sử dụng trong câu văn sau: “Suy nghĩ
của chúng ta cũng giống như những hạt giống, mỗi suy nghĩ sẽ đơm hoa
kết trái để tạo ra một hương vị riêng biệt”.
Câu 4. Việc đưa bằng chứng bằng số liệu: “Theo tính toán, mỗi người
trung bình có khoảng 30.000 đến 50.000 ý nghĩ mỗi ngày. Một tâm trí đang
trong tình trạng stress sẽ tạo ra nhiều ý nghĩ hơn, có thể lên đến 80.000 ý
nghĩ” có tác dụng gì trong đoạn trích?
Câu 5. Theo em, vì sao tác giả cho rằng: “Khi chúng ta hiểu và học cách
kiểm soát những suy nghĩ của bản thân thì chúng ta sẽ trải nghiệm được sự
bình an, niềm hạnh phúc và sự vững vàng trong tâm hồn.”
Câu 6. Giải thích vì sao Anh (chị) đồng ý hay không đồng ý với quan điểm
“suy nghĩ chính là hạt giống cho những hành động và cảm xúc”.
Gợi ý làm bài
Câu 1: Đoạn trích bàn luận về vấn đề: suy nghĩ tích cực.
Câu 2: Theo tác giả, suy nghĩ tích cực có tác dụng: Dạy chúng ta cách
hành động thay vì phản ứng , “hướng dẫn” cuộc đời ta thay vì để cho
hành vi của người khác, những trải nghiệm quá khứ, hay hoàn cảnh hiện
tại điều khiển tinh thần ta.
Câu 3: Biện pháp tu từ: So sánh:
Suy nghĩ – hạt giống
Ẩn dụ: đơm hoa kết trái – suy nghĩ kĩ càng, chín muồi.
Câu 4. Việc đưa bằng chứng bằng số liệu tăng tính thuyết phục, tin cậy
cho lập luận; cụ thể hóa lí lẽ mà tác giả đưa ra trong đoạn trích.
Câu 5. Tác giả cho rằng: “Khi chúng ta hiểu và học cách kiểm soát những
suy nghĩ của bản thân thì chúng ta sẽ trải nghiệm được sự bình an, niềm
hạnh phúc và sự vững vàng trong tâm hồn.”
Vì:
- Khi hiểu và kiểm soát được những ý nghĩ, chúng ta sẽ làm chủ được lời
nói, hành động và cảm xúc
- Kiểm soát được hành vi, suy nghĩ
- Không vi phạm các chuẩn mực đạo đức, pháp luật.
- Từ đó, chúng ta có được sự bình an, niềm hạnh phúc và sự vững vàng
trong tâm hồn.
Câu 6.
Với quan điểm “suy nghĩ chính là hạt giống cho những hành động và
cảm xúc”. Học sinh cần nêu rõ nguyên nhân, miễn hợp lí. Có thể là
những nguyên nhân sau:
+ Đồng ý: vì suy nghĩ của con người được biểu hiện qua lời nói, hành động
hoặc cảm xúc.
+ Không đồng ý: vì có lúc trong đời sống, lời nói, hành động con người
không giống suy nghĩ bên trong.
+ Vừa đồng ý, vừa không đồng ý: thực tế đa dạng, có người “nghĩ sao nói
vậy”, có người “nghĩ một đường làm một nẻo”…
Đề số 5: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xít Bê-cơn (thế kỉ XVI – XVII) đã
nói một câu nổi tiếng: “Tri thức là sức mạnh”. Sau này Lê-nin, một người
thầy của cách mạng vô sản thế giới, lại nói cụ thể hơn: “Ai có tri thức thì
người ấy có được sức mạnh”. Đó là một tư tưởng rất sâu sắc. Tuy vậy,
không phải ai cũng hiểu được tư tưởng ấy.
Người ta kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của công ti Pho bị
hỏng. Một hội đồng gồm nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra
nguyên nhân. Người ta phải mời đến chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem
xét và làm cho máy hoạt động trở lại. Công ti phải trả cho ông 10.000 đô
la. Nhiều người cho Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền. Nhưng
trong giấy biên nhận, Xten-mét-xơ ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1
đô la. Tiền tìm ra chỗ để vạch đúng đường ấy giá: 9999 đô la.”. Rõ ràng
người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người
khác không làm nổi. Thử hỏi, nếu không biết cách chữa thì cỗ máy kia
có thể thoát khỏi số phận trở thành đống phế liệu được không?...
Đáng tiếc là hiện nay còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức.
Họ coi mục đích của việc học chỉ là để có mảnh bằng mong sau này tìm
việc kiếm ăn hoặc thăng quan tiến chức. Họ không biết rằng, muốn biến
nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh,
sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao
nhiêu nhà trí thức tài năng trên mọi lĩnh vực!
(Theo Hương Tâm, Ngữ văn 9, Tập hai - NXB Giáo dục Việt Nam,
2005, tr.35-36)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích? Tác giả đã
kết hợp phương thức biểu đạt chính với phương thức biểu đạt nào khác?
Tác dụng của việc kết hợp ấy?
Câu 2. Xác định vấn đề nghị luận. Vấn đề đó được thể hiện qua những ý
kiến, lí lẽ, dẫn chứng nào?
Câu 3. Chuyên gia Xten-mét-xơ đã ghi gì trong tờ giấy biên nhận?
Câu 4. Trong văn bản, việc chuyên gia Xten-mét-xơ “xem xét” máy phát
điện bị hỏng và nhanh chóng “làm cho máy hoạt động trở lại” nói lên
điều gì?
Câu 5. Em có đồng tình với nhận xét của tác giả “Đáng tiếc là hiện nay
còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức” không? Tại sao?
Câu 6. Em hãy trình bày suy nghĩ của em về ý kiến.“Tri thức là sức
mạnh”. (Trả lời trong đoạn văn khoảng 7 – 10 dòng)
Gợi ý làm bài
Câu 1. - Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
- Kết hợp với các phương thức biểu đạt: tự sự, biểu cảm.
- Tác dụng của sự kết hợp ấy:
+ Làm giảm sự khô khan của văn nghị luận.
+ Tăng tính thuyết phục cho đoạn trích.
Câu 2. - Vấn đề nghị luận: Vai trò của tri thức trong cuộc sống.
- Ý kiến: Mượn lời của nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xít Bê-cơn,
Lê-nin để nói lên ý kiến của mình “Tri thức là sức mạnh”
- Lí lẽ: + Người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà
nhiều người khác không làm nổi.
+ Đáng tiếc là hiện nay còn không ít người chưa biết quý trọng tri
thức.
- Dẫn chứng: Câu chuyện về máy phát điện cỡ lớn của công ti Pho bị
hỏng và chuyên gia Xten-mét-xơ.
Lí lẽ sắc bén, bằng chứng thuyết phục.
Câu 3. Chuyên gia Xten-mét-xơ đã ghi gì trong tờ giấy biên nhận: “Tiền
vạch một đường thẳng là 1 đô la. Tiền tìm ra chỗ để vạch đúng đường ấy giá:
9999 đô la.”.
Câu 4. Trong văn bản, việc chuyên gia Xten-mét-xơ “xem xét” máy phát
điện bị hỏng và nhanh chóng “làm cho máy hoạt động trở lại” đã khẳng định:
sức mạnh của tri thức. Nó chứng minh cho chân lí: người có tri thức thâm
hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không làm nổi.
Câu 5. Thí sinh có thể đồng tình, hoặc không đồng tình với nhận xét Đáng
tiếc là hiện nay còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức của tác giả
song phải lí giải được nguyên nhân một cách hợp lí và có sức thuyết phục.
Câu 6.
- Giải thích: Tri thức là gì? Sức mạnh?
- Bàn luận : Tri thức là sức mạnh
+ Đối với cá nhân: Tri thức góp phần khẳng định vị thế xã hội của bản
thân đồng thời góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mỗi
người...
+ Đối với cộng đồng, xã hội: Tri thức có ý nghĩa quyết định sự phát
triển của xã hội.
- Bài học nhận thức và hành động: Mỗi người cần nhận thức được sức
mạnh của tri thức từ đó, thường xuyên trau dồi, bồi đắp tri thức cho bản
thân...
DẠNG 3: VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
Đề bài: Em hãy viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ của mình
về câu nói: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.” (M.
Gorki)
Dàn ý tham khảo:
a. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề: Vai trò, tác dụng của sách.
- Trích dẫn câu nói của M. Gorki.
Ví dụ: Sách là thầy dạy cuộc sống, là người bạn tri kỉ, là ngọn đèn chỉ
đường, sách giúp con người ta hiểu biết, rèn luyện kĩ năng, nhân cách con
người. Về vấn đề này, M. Gorki nói rằng: “Sách mở ra trước mắt tôi những
chân trời mới”. Tìm hiểu ý nghĩa sâu sắc của lời nhận định trên sẽ cho ta
những bài học đường đời thú vị.
b. Thân bài
* Giải thích:
- Giải thích ý nghĩa của từng cụm từ quan trọng
+ Sách: là một sản phẩm xã hội, là một công cụ để tích lũy, truyền bá tri
thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sách chứa đựng các giá trị văn hóa
tinh thần (các tác phẩm sáng tác hoặc tài liệu biên soạn) thuộc các hình
thái ý thức xã hội và nghệ thuật khác nhau, được ghi lại dưới các dạng
ngôn ngữ khác nhau (chữ viết, hình ảnh, âm thanh, ký hiệu,...) của các dân
tộc khác nhau nhằm để lưu trữ, tích lũy, truyền bá trong xã hội.
N
Ả
B
N
VĂ
H
C
Á
S
C
Ọ
Đ
Ề
V
BÀN
M
Ề
I
T
G
N
A
CHU QU
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tác giả Chu Quang Tiềm (1897-1986)
- Là nhà mĩ học và lí luận nổi tiếng của Trung Quốc.
- Những bài chính luận của Chu Quang Tiềm mang phong cách nhẹ nhàng
nhưng vẫn đầy đủ lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng sinh động và
có tính thuyết phục sâu sắc. Văn phong chính luận của Chu Quang Tiềm
không hề khô khan mà có cả tâm tình và chút hài hước.
2. Văn bản Bàn về đọc sách
a. Xuất xứ: Trích trong cuốn “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui, nỗi
buồn của việc đọc sách” xuất bản năm 1995
b. Thể loại: Văn bản nghị luận về một vấn đề đời sống
c. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
d. Đề tài: Đọc sách
e. Bố cục: 3 phần:
+ P1: Từ đầu …. “thế giới mới”: Sự cần thiết và ý nghĩa của việc đọc sách
+ P2: Tiếp…đến… “tự tiêu hao lực lượng”: Những khó khăn, thiên hướng
sai lệch dễ mắc phải của việc đọc sách trong tình trạng hiện nay.
+ P3: Phần còn lại: Bàn về phương pháp chọn sách và đọc sách.
f. Đặc sắc nội dung và nghệ thuật
*Nghệ thuật
- Bài viết thể hiện rõ quan điểm của người viết qua các ý kiến rõ ràng;
- Lí lẽ, bằng chứng cụ thể, thuyết phục
- Cách triển khai mạch lạc.
- Ngôn ngữ trong sáng, bình dị, góc nhìn khách quan.
*Nội dung – Ý nghĩa
Văn bản thuyết phục người đọc về những lợi ích của việc đọc sách và
sự cần thiết của việc đọc sâu, nghiền ngẫm kĩ khi đọc.
II. LUYỆN TẬP
DẠNG 1: THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU
Đề số 01: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng việc đọc sách vẫn là một
con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không chỉ là việc cá
nhân mà là việc của toàn nhân loại. Mỗi loại học vấn đến giai đoạn hôm
nay đều là thành quả của toàn nhân loại nhờ biết phân công, cố gắng tích
luỹ ngày đêm mà có. Các thành quả đó sở dĩ không bị vùi lấp đi, đều là do
sách vở ghi chép, lưu truyền lại.
Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại, cũng có thể
nói đó là những cột mốc trên con đường tiến hoá học thuật của nhân loại.
Nếu chúng ta mong tiến lên từ văn hoá, học thuật của giai đoạn này, thì
nhất định phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm
điểm xuất phát. Nếu xoá bỏ hết các thành quả nhân loại đã đạt được trong
quá khứ, thì chưa biết chừng chúng ta đã lùi điểm xuất phát về đến mấy
trăm năm, thậm chí là mấy nghìn năm trước. Lúc đó, dù có tiến lên cũng
chỉ là đi giật lùi, làm kẻ lạc hậu.[...]
(Chu Quang Tiềm, Bàn về đọc sách, Ngữ văn 9, tập hai, Nguyễn Khắc
Phi (Tổng chủ biên, Trần Đình Sử dịch, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên? Xác
định vấn đề cần bàn luận.
Câu 2. Từ “học vấn” trong đoạn văn trên được dùng với nghĩa nào?
Câu 3: Đoạn trích viết ra nhằm mục đích gì? Mục đích đó được thể hiện
qua những đặc điểm nào trong đoạn trích?
Câu 4: Em có đồng ý với quan niệm của tác giả: Sách là kho tàng quý báu
cất giữ di sản tinh thần nhân loại hay không? Vì sao?
Câu 5: Theo em tại sao tác giả cho rằng: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc
sách nhưng đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học
vấn không chỉ là việc cá nhân, mà là việc của toàn nhân loại”
Câu 6. Theo em, vì sao muốn tích luỹ kiến thức, đọc sách có hiệu quả thì
trước tiên cần phải biết chọn lựa sách mà đọc?
Gợi ý làm bài
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên là: Nghị luận.
Vấn đề bàn luận là: Bàn về việc đọc sách và nhấn mạnh đọc sách là một
con đường quan trọng của học vấn.
Câu 2: Từ “học vấn” trong đoạn trích có nghĩa là những thành quả tích
lũy, những hiểu biết, tri thức nhờ học tập mà có của mỗi con người.
Câu 3: - Mục đích của đoạn trích: Thuyết phục người đọc về tầm quan
trọng của việc đọc sách.
- Mục đích đó được thể hiện qua hệ thống ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng rõ ràng,
sắp xếp theo trình tự hợp lí:
+ Ý kiến: Học vấn không chỉ là việc của cá nhân mà còn là việc của
toàn nhân loại.
+ Lí lẽ: Các thành quả của nhân loại đã được tích lũy từ lâu, nếu
không tiếp thu ta sẽ bị tụt hậu.
+ Bằng chứng: Học vấn, tri thức của nhân loại đều được lưu trữ trong
sách vở, lưu truyền lại để không bị vùi lấp.
Câu 4: Em đồng ý với quan niệm: Sách là kho tàng quý báu cất giữ di
sản tinh thần nhân loại. Vì: Sách là kết tinh văn minh nhân loại, là nơi
hội tụ mọi tinh hoa của loài người về mọi lĩnh vực nhân văn và khoa
học, đánh dấu những bước đường đi lên của mọi dân tộc, mọi quốc gia
trên hành trình qua nhiều thiên niên kỉ. Sách hội tụ bao kiến thức để mở
rộng tầm nhìn, nâng cao trí tuệ, bồi đắp tâm hồn cho mọi thế hệ.
Câu 5: Tác giả cho rằng: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách nhưng
đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không
chỉ là việc cá nhân, mà là việc của toàn nhân loại” vì:
Sách: tư liệu tích lũy kiến thức bằng cách ghi chép được truyền từ đời
này sang đời khác.
Đọc sách không phải con đường duy nhất của học vấn: con đường tích
lũy kiến thức, học tập có nhiều cách khác nhau, một trong số đó là đọc
sách.
Nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn: khẳng
định vị trí tiên phong, có nhiệm vụ lớn lao trong việc học của con
người.
Ý kiến của Chu Quang Tiềm khẳng định sách có vai trò to lớn không
thể thay thế trong việc học. Từ đó cho chúng ta có những suy nghĩ
đúng đắn về việc đọc sách.
Câu 6. Muốn tích luỹ kiến thức, đọc sách có hiệu quả thì trước tiên cần
phải biết chọn lựa sách mà đọc vì: sách có nhiều loại sách, nhiều lĩnh
vực: khoa học, xã hội, giải trí, giáo khoa… Mỗi chúng ta cần biết mình ở
độ tuổi nào, có thế mạnh về lĩnh vực gì. Xác định được điều đó ta mới có
thể tích luỹ được kiến thức hiệu quả. Cần hạn chế việc đọc sách tràn lan
lãng phí thời gian và công sức…
Đề số 02: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Lịch sử càng tiến lên, di sản tinh thần nhân loại càng phong phú, sách vở
tích lũy càng nhiều, thì việc đọc sách cũng ngày càng không dễ. Sách tất
nhiên là đáng quý, nhưng cũng chỉ là một thứ tích lũy. Nó có thể làm trở
ngại cho nghiên cứu học vấn. ít nhất có hai cái hại thường gặp. Một là, sách
nhiều khiến người ta không chuyên sâu. Các học giả Trung Hoa thời cổ đại
do sách khó kiếm, một đời đến bạc đầu mới đọc hết một quyển kinh. Sách
tuy đọc được ít, nhưng đọc quyển nào ra quyển ấy, miệng đọc, tâm ghi,
nghiền ngẫm đến thuộc lòng, thấm vào xương tủy, biến thành một nguồn
động lực tinh thần, cả đời dùng mãi không cạn.
Giờ đây sách dễ kiếm, một học giả trẻ đã có thể khoe khoang từng đọc
hàng vạn cuốn sách. “Liếc qua” tuy rất nhiều, những “đọng lại” thì rất ít,
giống như ăn uống, các thứ không tiêu hóa được tích càng nhiều, thì càng
dễ sinh ra bệnh đau dạ dày, nhiều thói xấu hư danh nông cạn đều do lối ăn
tươi nuốt sống đó mà sinh ra cả. Hai là, sách nhiều dễ khiến người đọc lạc
hướng. Bất cứ lĩnh vực học vấn nào ngày nay đều đã có sách vở chất đầy
thư viện, trong đó những tác phẩm cơ bản, đích thực, nhất thiết phải đọc
chẳng qua cũng mấy nghìn quyển, thậm chí chỉ mấy quyển. Nhiều người
mới học tham nhiều mà không vụ thực chất, đã lãng phí thời gian và sức
lực trên những cuốn sách vô thưởng vô phạt, nên không tránh khỏi bỏ lỡ
mất dịp đọc những cuốn sách quan trọng, cơ bản.
(Chu Quang Tiềm, Bàn về đọc sách, Ngữ văn 9, tập hai, Nguyễn Khắc
Phi (Tổng chủ biên, Trần Đình Sử dịch, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên?
Câu 2. Nêu câu văn nêu lên ý kiến thể hiện quan điểm, tư tưởng của người viết?
Câu 3: Tác giả đã sử dụng lí lẽ, bằng chứng nào để làm sáng tỏ ý kiến của
mình?
Câu 4. Việc tác giả sắp xếp các lí lẽ theo trình tự “một là...”, “hai là...” có tác
dụng gì?
Câu 5: Theo tác giả, điểm khác biệt giữa cách đọc sách của người xưa và người
nay như thế nào? Sự khác biệt đó là do đâu?
Câu 6. Theo quan điểm của em, thế nào là quyển sách hay?
Gợi ý làm bài
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2. Câu văn nêu lên ý kiến thể hiện quan điểm, tư tưởng của người
viết: “Lịch sử càng tiến lên, di sản tinh thần nhân loại càng phong phú,
sách vở tích lũy càng nhiều, thì việc đọc sách cũng ngày càng không dễ”.
Câu 3. Tác giả sử dụng những lí lẽ, bằng chứng sau để làm sáng tỏ ý kiến:
- Lí lẽ: + Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu.
+ Sách nhiều dễ khiến người đọc lạc hướng
- Bằng chứng: + Cách đọc hiệu quả của người xưa và người nay
+ Cách đọc tham số lượng mà không vì thực chất: nhiều
người đọc tham nhiều mà không vụ thực chất, đã lãng phí thời gian và sức
lực trên những cuốn sách vô thưởng vô phạt, nên không tránh khỏi bỏ lỡ
mất dịp đọc những cuốn sách quan trọng, cơ bản.
Câu 4. Việc tác giả sắp xếp theo trình tự “một là...”, “hai là...” có tác dụng:
giúp người đọc nhận ra các lí lẽ, điều này tăng sức thuyết phục cho văn bản.
Câu 5.
- Theo tác giả, điểm khác biệt giữa cách đọc sách của người xưa và người nay:
+ Người xưa: Sách tuy đọc được ít, nhưng đọc quyển nào ra quyển ấy, miệng
đọc, tâm ghi, nghiền ngẫm đến thuộc lòng, thấm vào xương tủy, biến thành
một nguồn động lực tinh thần, cả đời dùng mãi không cạn.
+ Người nay: “Liếc qua” tuy rất nhiều, những “đọng lại” thì rất ít.
-Nguyên nhân của sự khác biệt: Do số lượng sách ngày càng nhiều nên việc
đọc không chuyên sâu và do nhận thức khác biệt về việc đọc sách.
Câu 6: HS tự suy nghĩ và trả lời theo quan điểm cá nhân:
Một cuốn sách hay là cuốn sách:
- Phù hợp với đam mê, sở thích của người đọc
- Nội dung phong phú mang nhều kiến thức mới mẻ, độc đáo đến cho
người đọc
- Phù hợp lứa tuổi của bản thân
- Trình bày đep, nhiều tranh ảnh thu hút,...
ĐỌC HIỂU
NGOÀI SGK
Đề số 03: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
… Nói tới sách là nói tôi trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu
văn minh mà hàng bao thế hệ tích luỹ truyền lại cho mai sau. Sách đưa đến
cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao
la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi. Những quyển sách khoa học
có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những quy luật của nó,
hiểu được trái đất tròn trên mình nó có bao nhiêu đất nước khác nhau với
những thiên nhiên khác nhau. Những quyển sách xã hội lại giúp ta hiểu biết
về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về
kinh tế, lịch sử, văn hoá, những truyền thống, những khát vọng.
Sách, đặc biệt là những cuốn sách văn học giúp ta hiểu biết vẽ đời sổng bên
trong tâm hồn của con người, qua các thời kì khác nhau, những niềm vui và
nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách
còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ
bao la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác, với
tất cả mọi người trong cộng đổng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách
giúp cho người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người
và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự. Sách mở rộng
những chân trời ước mơ và khát vọng. Ta đồng ý với lời nhận xét mà cũng là
một lời khuyên bảo chí lí của M. Gorki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến
thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Vì thế, mỗi chúng ta hãy đọc
sách, cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt.
(Về việc đọc sách, Nguồn: Internet)
Ghi lại chữ cái đứng trước phương án trả lời mà em lựa chọn cho các
câu hỏi từ câu 1 đến câu 8 vào bài làm. Với câu 9, 10 các em tự viết
phần trả lời vào bài.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích:
A.Biểu cảm
B.Thuyết minh
C.Miêu tả
D.Nghị luận
Câu 2: Vấn đề cần bàn luận của văn bản là:
A.Phương pháp đọc sách
B.Cách chọn sách hay
C.Tầm quan trọng, giá trị của sách
D.Cả 3 đáp án trên
Câu 3: Tác giả thể hiện ý kiến của mình về vấn đề cần bàn luận qua câu
văn:
A.… Nói tới sách là nói tôi trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành
tựu văn minh mà hàng bao thế hệ tích luỹ truyền lại cho mai sau.
B.Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung
quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi.
C.Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai
giữa vũ trụ bao la này,..
D.Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng.
Câu 4: Tác giả đưa ra những bằng chứng về sách khoa học, sách xã hội, sách
văn học giúp làm sáng tỏ cho lí lẽ nào?
A.… Nói tới sách là nói tôi trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu
văn minh mà hàng bao thế hệ tích luỹ truyền lại cho mai sau.
B.Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung
quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi.
C.Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa
vũ trụ bao la này,..
D.Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng.
Câu 5. Phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn trích là:
A.Phép nối
B.Phép lặp
C.Phép thế
D.Phép liên tưởng
Câu 6. Công dụng của dấu chấm lửng trong câu văn: “… Nói tới sách
là nói tôi trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu văn minh mà
hàng bao thế hệ tích luỹ truyền lại cho mai sau.” là:
A.Biểu đạt ý còn nhiều sự việc chưa liệt kê hết
B.Mô phỏng âm thanh kéo dài, ngắt quãng
C.Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt
D.Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở, ngập ngừng hay ngắt quãng
Câu 7: Theo tác giả, những quyển sách nào giúp ta hiểu biết về đời sống
bên trong tâm hồn con người?
A.Sách khoa học
B.Sách xã hội
C.Sách thiếu nhi
D.Sách văn học
Câu 8. Tác dụng của dấu ngoặc kép trong câu: “Hãy yêu sách, nó là
nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” là:
A.Dùng để dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật hoặc của người nào đó.
B.Dùng để đánh dấu các từ ngữ có hàm ý mỉa mai.
C.Dùng để đánh dấu tên tác phẩm văn học trích dẫn.
D.Dùng để đánh dấu lời kêu gọi
Câu 9. Vì sao tác giả bài viết lại cho rằng: “Sách còn giúp người đọc phát
hiện ra chính mình”?
Gợi ý làm bài
Câu 9: Tác giả cho rằng: “Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính
mình”, vì:
– Sách giúp con người tự nhận thức về mình: hiểu rõ mình là ai giữa vũ
trụ bao la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác,
với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này.
– Sách giúp con người nhận thức về cuộc sống con người: Sách giúp cho
người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người, phải
làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.
Câu 10. Thông điệp nào từ đoạn văn có ý nghĩa quan trọng nhất với
anh/chị? Vì sao?
Gợi ý làm bài
Câu 10. Có thể chọn một trong những câu quan trọng trong đoạn như:
– Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng.
– “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con
đường sống”.
– “Mỗi chúng ta hãy đọc sách, cố gắng đọc sách càng nhiệu càng tốt”.
Đề số 4: Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
Bạn nói những gì, bạn làm điều gì, cảm thấy như thế nào – tất cả đều
có nguồn gốc từ trong tâm trí bạn và bắt đầu chỉ bằng một ý nghĩ.
Suy nghĩ của chúng ta cũng giống như những hạt giống, mỗi suy nghĩ
sẽ đơm hoa kết trái để tạo ra một hương vị riêng biệt. Suy nghĩ có thể là
sự sáng tạo hay phá hủy, yêu thương hay thù hận, nâng đỡ hay vùi dập.
Khi chúng ta hiểu và học cách kiểm soát những suy nghĩ của bản thân thì
chúng ta sẽ trải nghiệm được sự bình an, niềm hạnh phúc và sự vững
vàng trong tâm hồn. Suy nghĩ tích cực dạy chúng ta cách hành động thay
vì phản ứng; “hướng dẫn” cuộc đời ta thay vì để cho hành vi của người
khác, những trải nghiệm quá khứ, hay hoàn cảnh hiện tại điều khiển tinh
thần ta.
Theo tính toán, mỗi người trung bình có khoảng 30.000 đến 50.000 ý
nghĩ mỗi ngày. Một tâm trí đang trong tình trạng stress sẽ tạo ra nhiều ý
nghĩ hơn, có thể lên đến 80.000 ý nghĩ. Hẳn bạn đã từng rơi vào trạng thái
căng thẳng thần kinh vì gặp phải một sự kiện đột ngột xảy ra trong đời, lúc
đó có đến cả hàng ngàn ý nghĩ chạy dồn dập trong đầu bạn.
Tâm trí chúng ta có một khả năng rất lớn, làm việc không ngừng nghỉ
ngay cả khi ngủ. Như đã nói, suy nghĩ chính là hạt giống cho những hành
động và cảm xúc. Vì vậy, bằng cách tạo nên những suy nghĩ tích cực và
lành mạnh, chúng ta đã kích hoạt tiềm năng tích cực của chính mình.
(Frederic Labarthe, Anthony Strano – Tư duy tích cực, NXB tổng hợp
TPHCM, 2014, trang 20-21)
Câu 1. Đoạn trích bàn luận về vấn đề gì?
Câu 2. Theo tác giả, suy nghĩ tích cực có tác dụng gì?
Câu 3. Chỉ ra phép tu từ được sử dụng trong câu văn sau: “Suy nghĩ
của chúng ta cũng giống như những hạt giống, mỗi suy nghĩ sẽ đơm hoa
kết trái để tạo ra một hương vị riêng biệt”.
Câu 4. Việc đưa bằng chứng bằng số liệu: “Theo tính toán, mỗi người
trung bình có khoảng 30.000 đến 50.000 ý nghĩ mỗi ngày. Một tâm trí đang
trong tình trạng stress sẽ tạo ra nhiều ý nghĩ hơn, có thể lên đến 80.000 ý
nghĩ” có tác dụng gì trong đoạn trích?
Câu 5. Theo em, vì sao tác giả cho rằng: “Khi chúng ta hiểu và học cách
kiểm soát những suy nghĩ của bản thân thì chúng ta sẽ trải nghiệm được sự
bình an, niềm hạnh phúc và sự vững vàng trong tâm hồn.”
Câu 6. Giải thích vì sao Anh (chị) đồng ý hay không đồng ý với quan điểm
“suy nghĩ chính là hạt giống cho những hành động và cảm xúc”.
Gợi ý làm bài
Câu 1: Đoạn trích bàn luận về vấn đề: suy nghĩ tích cực.
Câu 2: Theo tác giả, suy nghĩ tích cực có tác dụng: Dạy chúng ta cách
hành động thay vì phản ứng , “hướng dẫn” cuộc đời ta thay vì để cho
hành vi của người khác, những trải nghiệm quá khứ, hay hoàn cảnh hiện
tại điều khiển tinh thần ta.
Câu 3: Biện pháp tu từ: So sánh:
Suy nghĩ – hạt giống
Ẩn dụ: đơm hoa kết trái – suy nghĩ kĩ càng, chín muồi.
Câu 4. Việc đưa bằng chứng bằng số liệu tăng tính thuyết phục, tin cậy
cho lập luận; cụ thể hóa lí lẽ mà tác giả đưa ra trong đoạn trích.
Câu 5. Tác giả cho rằng: “Khi chúng ta hiểu và học cách kiểm soát những
suy nghĩ của bản thân thì chúng ta sẽ trải nghiệm được sự bình an, niềm
hạnh phúc và sự vững vàng trong tâm hồn.”
Vì:
- Khi hiểu và kiểm soát được những ý nghĩ, chúng ta sẽ làm chủ được lời
nói, hành động và cảm xúc
- Kiểm soát được hành vi, suy nghĩ
- Không vi phạm các chuẩn mực đạo đức, pháp luật.
- Từ đó, chúng ta có được sự bình an, niềm hạnh phúc và sự vững vàng
trong tâm hồn.
Câu 6.
Với quan điểm “suy nghĩ chính là hạt giống cho những hành động và
cảm xúc”. Học sinh cần nêu rõ nguyên nhân, miễn hợp lí. Có thể là
những nguyên nhân sau:
+ Đồng ý: vì suy nghĩ của con người được biểu hiện qua lời nói, hành động
hoặc cảm xúc.
+ Không đồng ý: vì có lúc trong đời sống, lời nói, hành động con người
không giống suy nghĩ bên trong.
+ Vừa đồng ý, vừa không đồng ý: thực tế đa dạng, có người “nghĩ sao nói
vậy”, có người “nghĩ một đường làm một nẻo”…
Đề số 5: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xít Bê-cơn (thế kỉ XVI – XVII) đã
nói một câu nổi tiếng: “Tri thức là sức mạnh”. Sau này Lê-nin, một người
thầy của cách mạng vô sản thế giới, lại nói cụ thể hơn: “Ai có tri thức thì
người ấy có được sức mạnh”. Đó là một tư tưởng rất sâu sắc. Tuy vậy,
không phải ai cũng hiểu được tư tưởng ấy.
Người ta kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của công ti Pho bị
hỏng. Một hội đồng gồm nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra
nguyên nhân. Người ta phải mời đến chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem
xét và làm cho máy hoạt động trở lại. Công ti phải trả cho ông 10.000 đô
la. Nhiều người cho Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền. Nhưng
trong giấy biên nhận, Xten-mét-xơ ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1
đô la. Tiền tìm ra chỗ để vạch đúng đường ấy giá: 9999 đô la.”. Rõ ràng
người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người
khác không làm nổi. Thử hỏi, nếu không biết cách chữa thì cỗ máy kia
có thể thoát khỏi số phận trở thành đống phế liệu được không?...
Đáng tiếc là hiện nay còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức.
Họ coi mục đích của việc học chỉ là để có mảnh bằng mong sau này tìm
việc kiếm ăn hoặc thăng quan tiến chức. Họ không biết rằng, muốn biến
nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh,
sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao
nhiêu nhà trí thức tài năng trên mọi lĩnh vực!
(Theo Hương Tâm, Ngữ văn 9, Tập hai - NXB Giáo dục Việt Nam,
2005, tr.35-36)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích? Tác giả đã
kết hợp phương thức biểu đạt chính với phương thức biểu đạt nào khác?
Tác dụng của việc kết hợp ấy?
Câu 2. Xác định vấn đề nghị luận. Vấn đề đó được thể hiện qua những ý
kiến, lí lẽ, dẫn chứng nào?
Câu 3. Chuyên gia Xten-mét-xơ đã ghi gì trong tờ giấy biên nhận?
Câu 4. Trong văn bản, việc chuyên gia Xten-mét-xơ “xem xét” máy phát
điện bị hỏng và nhanh chóng “làm cho máy hoạt động trở lại” nói lên
điều gì?
Câu 5. Em có đồng tình với nhận xét của tác giả “Đáng tiếc là hiện nay
còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức” không? Tại sao?
Câu 6. Em hãy trình bày suy nghĩ của em về ý kiến.“Tri thức là sức
mạnh”. (Trả lời trong đoạn văn khoảng 7 – 10 dòng)
Gợi ý làm bài
Câu 1. - Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
- Kết hợp với các phương thức biểu đạt: tự sự, biểu cảm.
- Tác dụng của sự kết hợp ấy:
+ Làm giảm sự khô khan của văn nghị luận.
+ Tăng tính thuyết phục cho đoạn trích.
Câu 2. - Vấn đề nghị luận: Vai trò của tri thức trong cuộc sống.
- Ý kiến: Mượn lời của nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xít Bê-cơn,
Lê-nin để nói lên ý kiến của mình “Tri thức là sức mạnh”
- Lí lẽ: + Người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà
nhiều người khác không làm nổi.
+ Đáng tiếc là hiện nay còn không ít người chưa biết quý trọng tri
thức.
- Dẫn chứng: Câu chuyện về máy phát điện cỡ lớn của công ti Pho bị
hỏng và chuyên gia Xten-mét-xơ.
Lí lẽ sắc bén, bằng chứng thuyết phục.
Câu 3. Chuyên gia Xten-mét-xơ đã ghi gì trong tờ giấy biên nhận: “Tiền
vạch một đường thẳng là 1 đô la. Tiền tìm ra chỗ để vạch đúng đường ấy giá:
9999 đô la.”.
Câu 4. Trong văn bản, việc chuyên gia Xten-mét-xơ “xem xét” máy phát
điện bị hỏng và nhanh chóng “làm cho máy hoạt động trở lại” đã khẳng định:
sức mạnh của tri thức. Nó chứng minh cho chân lí: người có tri thức thâm
hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không làm nổi.
Câu 5. Thí sinh có thể đồng tình, hoặc không đồng tình với nhận xét Đáng
tiếc là hiện nay còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức của tác giả
song phải lí giải được nguyên nhân một cách hợp lí và có sức thuyết phục.
Câu 6.
- Giải thích: Tri thức là gì? Sức mạnh?
- Bàn luận : Tri thức là sức mạnh
+ Đối với cá nhân: Tri thức góp phần khẳng định vị thế xã hội của bản
thân đồng thời góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mỗi
người...
+ Đối với cộng đồng, xã hội: Tri thức có ý nghĩa quyết định sự phát
triển của xã hội.
- Bài học nhận thức và hành động: Mỗi người cần nhận thức được sức
mạnh của tri thức từ đó, thường xuyên trau dồi, bồi đắp tri thức cho bản
thân...
DẠNG 3: VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
Đề bài: Em hãy viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ của mình
về câu nói: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.” (M.
Gorki)
Dàn ý tham khảo:
a. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề: Vai trò, tác dụng của sách.
- Trích dẫn câu nói của M. Gorki.
Ví dụ: Sách là thầy dạy cuộc sống, là người bạn tri kỉ, là ngọn đèn chỉ
đường, sách giúp con người ta hiểu biết, rèn luyện kĩ năng, nhân cách con
người. Về vấn đề này, M. Gorki nói rằng: “Sách mở ra trước mắt tôi những
chân trời mới”. Tìm hiểu ý nghĩa sâu sắc của lời nhận định trên sẽ cho ta
những bài học đường đời thú vị.
b. Thân bài
* Giải thích:
- Giải thích ý nghĩa của từng cụm từ quan trọng
+ Sách: là một sản phẩm xã hội, là một công cụ để tích lũy, truyền bá tri
thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sách chứa đựng các giá trị văn hóa
tinh thần (các tác phẩm sáng tác hoặc tài liệu biên soạn) thuộc các hình
thái ý thức xã hội và nghệ thuật khác nhau, được ghi lại dưới các dạng
ngôn ngữ khác nhau (chữ viết, hình ảnh, âm thanh, ký hiệu,...) của các dân
tộc khác nhau nhằm để lưu trữ, tích lũy, truyền bá trong xã hội.
 







Các ý kiến mới nhất