nhật bản và các nước châu á

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 12h:50' 27-06-2010
Dung lượng: 46.0 MB
Số lượt tải: 77
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 12h:50' 27-06-2010
Dung lượng: 46.0 MB
Số lượt tải: 77
Số lượt thích:
0 người
NHẬT BẢN
1. Vị trí địa lí:
Là một quần đảo trong Thái Bình Dương, phía Đông của lục địa Châu Á. Có vị trí địa lí:24-450VTB;129-1420 KTĐ
- Kéo dài từ Bắc xuống Nam theo hướng vòng cung, dài trên 3.500 km.
Gồm 4 đảo lớn và hàng nghìn đảo nhỏ.
I/ Điều kiện tự nhiên
2. Địa hình:
Chủ yếu là đồi núi chiếm 80% diện tích của Nhật Bản, địa hình không ổn định, có nhiều núi lửa.
- Đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, và phân bố ven biển, đất đai khá tốt, chiếm khoảng 13% diện tích. Trong đó lớn nhất là đồng bằng Canto trên đảo Honshu.Vì vậy mà Nhật Bản thiếu đất canh tác nên Nhật canh tác trên nhứng vùng đất có độ dốc tới 150
- Núi ở Nhật có độ cao trung bình (Núi Phú Sĩ cao nhất 3766m). Nhật Bản nằm trong vùng không ổn định của vỏ trái đất, thường xuyên chịu ảnh hưởng sóng thần, động đất, núi lửa…
- Bờ biển khúc khuỷu, nhiều vũng vịnh có nhiều cảnh đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch và xây dựng hải cảng, tàu bè trú ngụ.
Bờ biển Hokkaido
Bờ biển Kashimanada
Bờ biển Sanriku
Bờ biển Wakasa
NÚI PHÚ SĨ
VỊ TRÍ: Bên bờ biển Đông, phía Nam đảo Benzhou, cách Tokyo 80 dặm về phía Đông, thuộc địa phận 2 huyện Jinggang và Sangli.
ĐỘ CAO ĐỈNH NÚI: 3776 mét
DIỆN TÍCH: 90,76 km2
ĐƯỜNG KÍNH MIỆNG NÚI: khoảng 700 mét
ĐƯỜNG KÍNH CHÂN NÚI: gần 40 km
ĐỘ SÂU: khoảng 220 mét
- So với đỉnh Everest cao 8.848 mét thì núi Phú Sĩ không thấm vào đâu nhưng nó trở thành cảnh quan đại diện cho Nhật Bản bởi hình dáng tuyệt đẹp với hình nón gần như cân tuyệt đối trải dài tới mặt đất.
- Trong quan niệm của người Nhật, núi Phú Sĩ tượng trưng cho sự tốt lành. Ngọn núi uy nghi, tượng trưng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người dân Nhật Bản. Họ miêu tả núi Phú Sĩ “như chiếc quạt bằng ngọc treo ngược trên bầu trời biển Đông, tuyết trắng trên núi phản chiếu ánh sáng rực rỡ của mặt trời”
- Ở phía bắc chân núi Phú Sĩ có 5 hồ nước trong vắt, giống như những viên ngọc khảm vào thân núi. Đó là các hồ Bản Tây, Tịnh Tiến, Tây, Cửa Sông và Sơn Trung.
- Về phía nam núi Phú Sĩ có một vùng đồng bằng rộng lớn, có hai thác nước nổi tiếng là thác Bạch Hề và Âm Chỉ.
- Hình dáng cân đối tuyệt vời của núi Phú Sĩ đã đi vào rất nhiều văn, thơ. Có rất nhiều họa sĩ nổi tiếng thử sức bằng việc vẽ tranh núi Phú Sĩ. Trong số đó nổi tiếng nhất là bức Phú Sĩ ba mươi sáu cảnh (Fugaku Sanju-rokkei) của họa sĩ Katsushika Hokusai (1603-1867) thời Edo.
Một số hình ảnh của núi Phú Sĩ
Phú Sĩ
ba mươi sáu cảnh
của Katsushika Hokusai
Bức tranh vẽ phong cảnh quanh
núi Phú Sĩ
Núi Phú Sĩ đã phun nham thạch hàng trăm lần. Từ năm 781 đến nay, núi Phú Sĩ đã phun 18 lần. Lần phun gần nhất là năm 1707, tro bụi bay đến bám đầy nóc nhà ngoại thành Tokyo. Sau lần phun lửa đó, núi Phú Sĩ đi vào giấc ngủ cho đến nay.
Tuy nhiên không thể nói chắc chắn 100% rằng núi Phú Sĩ không phun trở lại.
Các nhà khoa học Nhật Bản dùng kỹ thuật và thiết bị hiện đại nhất để thăm dò, nghiên cứu núi Phú Sĩ.
Họ thấy rằng, hằng năm, ngọn núi này có 10 lần động đất và phun lửa nhỏ, nằm sâu trong lòng đất, không có phun lửa ra khỏi mặt đất, nhưng ở nhiều cho trên thân núi vẫn thường phun hơi nóng từ bên trong ra ngoài.
Dấu hiệu này chứng tỏ núi Phú Sĩ có thể phun lửa trở lại bất cứ lúc nào, để tỏ rõ “uy quyền thần thánh” của nó.
* Đi kèm với núi lửa là khoảng
2800 suối nước nóng tại Nhật
Bản đồ
phân bố các suối nước nóng ở Nhật
Bồn địa và cao nguyên:
Giữa các núi có những bồn địa nhỏ, các cao nguyên và cụm cao nguyên. Nhật Bản có trên 60 bồn địa- những vùng đất trũng giữa các núi,khoảng gần 40 cao nguyên và cụm cao nguyên (những cao nguyên liền kề nhau).
Bình nguyên
Nhật Bản có gần 60 bình nguyên nằm ở ven biển (đồng bằng ven biển), nơi có sông đổ ra. Tổng diện tích các bình nguyên bằng khoảng 20% diện tích cả nước.
Các bình nguyên nhìn chung đều hẹp. Bình nguyên lớn nhất là bình nguyên Kanto.
Bình nguyên Kanto
3. Khí hậu:
Khí hậu gió mùa, có sự phân hoá đa dạng theo chiều Bắc – Nam, mưa nhiều từ 1000- 3000mm.
+ Phía Bắc: Ôn đới gió mùa
+ Phía Nam: Cận nhiệt gió mùa
- Đặc điểm lớn nhất của khí hậu Nhật Bản là có bốn muà Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt:
+ Mùa xuân từ tháng Ba tới tháng Năm, hoa anh đào nở dần từ nam lên bắc.
+ Mùa hạ từ tháng Sáu tới tháng Tám, cây cối xanh mướt. .
+ Mùa thu từ tháng Chín tới tháng Mười Một, lá phong đỏ thắm từ bắc xuống nam.
+ Mùa đông từ tháng Mười Hai tới tháng Hai, tuyết trắng tinh khôi.
Mùa Xuân
Mùa Hạ
Mùa Thu
Mùa Đông
4. Thủy văn, dòng biển:
+ Sông ngòi nhỏ, ngắn, dốc chủ yếu ở miền núi, có giá trị thủy điện và tưới tiêu. Trữ lượng thủy điện khoảng 20 triệu kw. Sông dài nhất là Sina (369km), Isikaro (365km), Tone
+ Nơi giao nhau của các dòng biển nóng (Cưrôsivô) và lạnh (ôiasivô). Tạo nhiều ngư trường lớn với nhiều loại hải sản. Đây là thế mạnh của Nhật Bản.
Sông Shinano
Sông Ishikari
Sông Tone
Sông ở Hôn su
Hồ: ở đây có rất nhiều hồ nhưng nếu là hồ rộng trên 1 km2 thì có khoảng 100 hồ. Hồ rộng nhất là hồ Biwa (Tì bà hồ) Hồ Biwa là một trong những hồ nước trong cổ nhất trên thế giới.
Vị trí hồ Tì Bà (Biwa)
- Nhật Bản có hệ thống các lòai thực vật và động vật rất đa dạng và phong phú trải dài từ Bắc xuống Nam.
- Thực vật và động vật tại Nhật Bản qua nhiều thế kỷ đã bị ảnh hưởng do sự du nhập từ các quốc gia khác. Trong thời kỳ Minh Trị (1858-1912), đã có từ 200 tới 500 loại cây được đưa vào Nhật Bản, phần lớn từ châu Âu rồi về sau này từ Hoa Kỳ.
- Nhật Bản vào thời cổ xưa đã được nối với châu Á nhờ thế đã có các thú vật di cư từ Triều Tiên và Trung Hoa qua.
- Nhật Bản có các loại thú đặc biệt, chẳng hạn như loài gấu nâu của đảo Hokkaido cao tới 2 mét và nặng 400 kilôgam và loài gấu nâu châu Á nhỏ hơn,cao tới 1,4 mét và nặng 200 kilôgam. Một giống thú đặc biệt khác là loài khỉ cỡ trung bình,cao khoảng 60 phân và có đuôi ngắn, thường thấy trên các đảo Honshu, Shikoku và Kyushu.
5. Sinh vật
Những con khỉ Nhật Bản đang ngâm mình trong một suối nước nóng để tránh rét.
Hạc Nhật Bản
Khỉ Macaca
Gấu nâu
Tuy nhiên, do sự phát triển đô thị, do các loại kĩ nghệ và việc bành trướng du lịch, môi trường sống của một số sinh vật đã bị ảnh hưởng xấu:
+ Loại hạc rất đẹp của hòn đảo Hokkaido đã từng làm đề tài cho các bức danh họa nhiều thế kỷ trước, nay đã bị tuyệt chủng.
+ Sự ô nhiễm các dòng sông đã làm chết đi các loại cá chép và cá hồi.
+ Loại gấu màu nâu cũng biến đi dần.
+ Loại khỉ macaca chỉ còn thấy tại khu vực Nagano.
+ Các khu giải trí dưới mặt nước cũng làm hư hỏng các vùng biển san hô thiên nhiên.
Vì vậy để bảo vệ môi trường thiên nhiên, Nhật Bản có 28 công viên quốc gia và 55 công viên bán công.
Miền phía bắc đảo Honshu và đảo Hokkaido là hai nơi thưa dân, nên có nhiều công viên quốc gia lớn.
6.Khoáng sản:
- Nhật Bản nghèo về tài nguyên khoáng sản, nhiều nhất là than đá.Trong đó than đá có trữ lượng 21 tỉ tân tập trung nhiều trên đảo Hôcaiđô, dầu lửa có trữ lượng nhỏ, nằm trên bờ biển tây bắc đảo Hônsu và Hôcaiđô. Các mỏ quặng sắt, phi kim loại có trữ lượng nhỏ. Thiếu nguyên liệu cho các ngành công nghiệp. Vì vậy ngành công nghiêp của nhật chủ yếu dựa vào nguyên liệu nhập ngoại
Một số hình ảnh về thiên nhiên Nhật Bản
II/ Kinh tế xã hội:
1. Dân cư:
SỰ BIẾN ĐỘNG VỀ CƠ CẤU DÂN SỐ THEO ĐỘ TUỔI
- Có quy mô dân số lớn năm 2008 dân số:128.018.000 (đứng thứ 10 thế giới).
- Tỉ suất gia tăng tự nhiên thấp và đang giảm dần, chỉ còn 0,1% năm 2005.
- Tỉ lệ người già trong dân cư ngày càng lớn.
- Mật độ dân số cao (338 người/km2, năm 2005), xuất hiện ngày càng nhiều các đô thị lớn.
Tác động: Thiếu ngồn lao động, chi phí cho phúc lợi xã hội lớn (Trả lương hưu, bảo hiểm, chăm sóc người cao tuổi…).
- Theo kết quả điều tra quốc dân tháng 10 năm 2005, trên toàn nước Nhật có 10 tỉnh thành có dân số trên 3 triệu người, đó là:
- Tokyo (12,57 triệu)
- Osaka (8,82 triệu)
- Kanagawa (8,79 triệu)
- Aichi (7,25 triệu)
- Saitama (7,05 triệu)
- Chiba (6,06 triệu)
- Hokkaido (5,63 triệu)
- Hyogo (5,59 triệu)
- Fukuoka (5,05 triệu)
- Shizuoka (3,79 triệu)
- Vùng Tokyo, bao gồm thủ đô Tokyo và một vài quận xung quanh là trung tâm thủ phủ lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống.
- Ngoài ra có 10 tỉnh thành có dân số từ 2 đến 3 triệu dân, 20 tỉnh thành có dân số từ 1 đến 2 triệu dân và 7 tỉnh còn lại có dân số dưới 1 triệu dân.
- Thấp nhất là tỉnh Tottori với 610 nghìn dân.
SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ Ở CÁC THÀNH PHỐ LỚN TẠI NHẬT
* Tháng 10 năm 2005, số nam giới ở Nhật là 62,34 triệu người, nữ giới là 65,42 triệu người. Nam giới ít hơn nữ giới 3,08 triệu người.
- Như vậy tỷ lệ nam giới ở Nhật chỉ là 48,8%. Tỷ lệ này chỉ cao hơn tỷ lệ năm 1945 (47%) do chiến tranh, và thấp thứ 2 trong lịch sử.
- Nguyên nhân chính của tỷ lệ nam nữ thấp là do tuổi thọ trung bình của nữ cao hơn nam.
- Tuy nhiên ở một số tỉnh thành dân số nam lại cao hơn nữ, đó là 4 tỉnh thành: Kanagawa, Saitama, Aichi và Chiba.
* Tuổi thọ của nam giới là 78,36, nữ giới là 85,33. Ðây là tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới. Thế nhưng năm 1935 thì con số này là 46,92 đối với nam giới và 49,63 đối với nữ giới.
Như vậy trong vòng 60 năm tuổi thọ trung bình của cả nam và nữ đều tăng 30 tuổi.
a) Thành phần dân tộc:
Dân tộc Nhật chiếm đa số, ngoài ra còn có hai dân tộc thiểu số là Ainu và Buraumin.
b) Ngôn ngữ: Tiếng Nhật
c) Tôn giáo:
Ở Nhật Bản có rất nhiều tôn giáo, nhưng hầu hết người Nhật không theo tôn giáo nào. Tôn giáo cổ xưa ở Nhật Bản là đạo Shinto (tức Thần Đạo). Các đền thờ đạo Shinto được xây dựng khắp đất nước. Nghi lễ tôn giáo trang nghiêm nhất là tang lễ, phần đông người Nhật cử hành tang lễ theo nghi thức đạo Phật.
d) Chế độ chính trị:
Nhật Bản là nước theo chính thể Quân chủ lập hiến. Đứng đầu và tượng trưng cho quyền lực của đất nước là nhà Vua (Nhật Hoàng). Ngôi Vua được truyền từ đời này sang đời khác. Trong thực tế, quyền điều hành đất nước thuộc Thủ tướng và Nội các. Quốc hội bao gồm: Thượng viện và Hạ viện.
Đặc điểm con người và xã hội Nhật Bản:
- Người lao động cần cù, sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao, nhờ đó năng suất lao động cao.
- Mức sống của người dân cao, tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới.
- Có 90% dân số là người Nhật nên họ có lòng tự hào dân tộc cao.
- Là một quốc gia có nhiều nét văn hoá độc đáo trên các lĩnh vực lễ hội, ẩm thực, nghệ thuật, thể thao.
e) Giáo dục
Một số hình ảnh về giáo dục Nhật Bản
Trà đạo
Kimono
Búp bê trong lễ hội Hinamatsuri
Sumo
Ken đô
Samurai
Sushi có nguồn gốc từ phương pháp bảo quản cá bằng cách ủ vào trong cơm của khu vực Đông Nam Á. Thứ cơm trộn dấm để làm sushi được gọi là sumeshi hoặc sushimeshi. Loại dấm để nấu thứ cơm này không phải là dấm thông thường mà là dấm có pha chút muối, đường, rượu ngọt Mirin, vì thế gọi là dấm hỗn hợp awasesu. Dấm này chuyên dùng để chế biến sushi, nên còn được gọi là sushisu. Cơm nấu xong được đổ ra một cái chậu gỗ gọi là tarai rồi trộn dấm vào. Vừa trộn vừa dùng quạt tay quạt cho hơi nóng thoát bớt ra để giữ hương vị của dấm.Các loại hải sản dùng để làm sushi gọi là tane. Đó có thể là cá ngừ, cá hồng, cá trình, cá
f) Khoa học kĩ thuật:
- Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứu khoa học, công nghệ máy móc, nghiên cứu y học. Gần 700.000 nhà nghiên cứu chia sẻ 130 tỉ USD của ngân sách nghiên cứu và phát triển, đứng hàng thứ 3 trên thế giới.
- Một vài đóng góp công nghệ quan trọng của Nhật Bản là những phát minh trong các lĩnh vực điện tử, ô tô, máy móc, robot công nghiệp, quang học, hóa chất, chất bán dẫn và kim loại. Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong ngành khoa học robot, đây là quốc gia sở hữu hơn nửa (402.200 trong tổng 742.500) số robot cho công nghiệp sản xuất.
- Nhật Bản đã phát minh ra QRIO, ASIMO và Aibo. Nhật Bản cũng là nhà sản xuất ô tô lớn nhất trên thế giới và là quê hương của 6 trong tổng số 15 nhà sản xuất ô tô lớn nhất toàn cầu cũng như 7 trong số 20 nhà sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế giới.
- Nhật Bản đang có những kế hoạch rất sáng sủa trong ngành thám hiểm không gian, trong đó có kế hoạch xây dựng một trạm mặt trăng vào năm 2030. Cơ quan thám hiểm không gian Nhật Bản (JAXA) là một trong những thành viên chủ chốt của trạm vũ trụ quốc tế, đây là cơ quan chuyên nghiên cứu về không gian vũ trụ, các hành tinh, các nghiên cứu hàng không, phát triển tên lửa và vệ tinh.
ASIMO chỉ cao có 1,2m, nặng 52 kg, tốc độ di chuyển có thể đạt tới 1,6 km/giờ. ASIMO được phát triển với kỹ thuật I-WALK, kỹ thuật này giúp ASIMO là người máy đi lại nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh hơn bất cứ một thế hệ người máy nào trước đây. ASIMO có thể bước chéo, nhảy múa, leo cầu thang, đứng một chân tiến và lùi...Nhờ có các khớp nối cổ, khớp nối tay giống con người, các cử động tay và cổ tay của ASIMO cũng rất linh hoạt. Bàn tay của ASIMO có 5 ngón và có thể nắm chặt 5 ngón tay cùng một lúc, bắt tay, chỉ đường, gật đầu, lắc lư đầu, nghiêng đầu lên xuống khoảng 45%... Tuy nhiên, điều đặc biệt nhất làm ASIMO trở thành người máy thông minh, giống người số 1 trên thế giới - đó là ASIMO có thể thực hiện các cử chỉ, biểu lộ giống như con người: khóc, tức giận, vui mừng, ngạc nhiên, khoái chí...
TP. Tokyo
TP. ÔXACA
Hirôxima
KIMH TE NHẬT BẢN
I. Điều kiện tự nhiên:
1. Vị trí địa lý – lãnh thổ
2. Địa hình
3. Khí hậu
4. Thủy văn
5. Thổ nhưỡng – sinh vật
6. khoáng sản
II. Đài loan
TRUNG QUỐC
1 Vị trí địa lý và lãnh thổ:
- Trung Quốc là nước có diện tích lớn thứ tư trên thế giới Lãnh thổ trải dài từ khoảng 20o - 53o B và khoảng 730 – 1350 Đ, giáp 14 nước.
- Biên giới với các nước chủ yếu là núi cao hoang mạc; phần phía đông giáp biển, mở rộng ra Thái Bình Dương. Miền duyên hải rộng lớn với đường bờ biển dài khoảng 9.000 Km,
- Cả nước có 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trực thuộc trung ương. Ven biển có hai đặc khu chính là Hồng Kong và Ma Cao, Đảo Đài Loan,
2. Địa hình:
- Trung Quốc là một đất nước có nhiều núi, diện tích vùng núi chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích cả nước.
- Vùng núi bao gồm nương rẫy, đồi núi và cao nguyên.
- Địa hình trong toàn quốc, nương rẫy chiếm khoảng 33%, cao nguyên chiếm khoảng 26%, vùng lòng chảo chiếm khoảng 19%, đồng bằng chiếm khoảng 12% và đồi núi chiếm khoảng 10%.
- Nửa phía Đông của quốc gia này là các vùng duyên hải và các đảo là một vùng bình nguyên phì nhiêu, đồi và núi, các sa mạc và các thảo nguyên và các khu vực cận nhiệt đới.
- Nửa phía Tây của Trung Quốc là một vùng các lưu vực chìm trong các cao nguyên, các khối núi, bao gồm phần cao nguyên cao nhất trên trái đất.
Địa hình ở Trung Quốc chia thành 2 phần cơ bản:
Phía tây: Là vùng núi cao và hiểm trở nhất thế giới với độ khô cằn rất nhiều. Có nhiều cao nguyên và bồn địa tiêu biểu như : cao nguyên Tân Cương (phía Tây Bắc) với những dãy núi cao và hiểm trở như Côn Luân, Thiên Sơn, và rất nhiều đỉnh núi cao (từ 600 m đến 7000 m) xen kẽ là những bồn địa rộng lớn như bồn địa Uigua và Lòng chảo Ta Rim
Phía đông: Là dạng địa hình chuyển tiếp thấp dần từ Tây sang Đông với dãy núi thấp xen lẫn là các cao nguyên, các bình nguyên, các bồn địa và các đồng bắng châu thổ rộng lớn
Là lưu vực thuộc sông Hoàng Hà có diện tích 700.000 km². Nông nghiệp trù phú, tập trung dân cư đông đúc và là nơi xuất phát nền văn minh Trung Quốc và là nơi xảy ra thiên tai nhiều nhất ở TQ.
Bình nguyên Hoa Bắc
3. Khí hậu:
● Khí hậu Trung Quốc phức tạp , đa dạng, đa số nằm trong khu vực bắc ôn đới, thuộc khí hậu gió mùa lục địa, phần lớn lãnh thổ có 4 mùa rỏ rệt, .
● Do đất nước rộng lớn, địa hình phức tạp, độ cao chênh lệch lớn nên khí hậu cũng đa dạng theo: Từ nam lên bắc lần lượt là các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, trung ôn đới, hàn ôn đới,, Còn khí hậu vùng cao nguyện Thanh Tạng là vùng khí hậu theo đường thẳng đứng. ( thay đổi theo độ cao).
Cảnh về đông
Cảnh vào hè
- Cực bắc Trung Quốc ở 53 độ vĩ bắc thuộc khí hậu Hàn ôn đới, trong khi đó cực nam Trung Quốc lại thuộc khí hậu xích đạo. Vì vậy từ Nam tới Bắc khí hậu chênh lệch rất lớn.
- Các vùng do ảnh huởng dòng khí vùng biển ẩm, nên mưa nhiều, nhưng lượng mưa giữa các vùng và các mùa không đều nhau: Miền Đông mưa nhiều, miền Tây ít. Từ Đông Nam tới Tây Bắc lượng mưa giảm dần đồng thời mưa nhiều vào mùa hạ. Miền Nam mùa mưa kéo dài từ tháng 5 tới tháng 10. Miền Bắc mùa mưa ngắn, tập trung vào tháng 7, tháng 8.
4.Thủy văn:
- Lãnh thổ Trung Quốc có rất nhiều dòng sông, có trên 1500 dòng sông có diện tích lưu vực trên 1000 km2
- Dòng sông được chia thành dòng sông đổ ra biển và dòng sông nội địa.
- Các dòng sông đổ ra biển có diện tích lưu vực chiếm khoảng 64% tổng diện tích đất đai Trung Quốc
- Các dòng sông nội địa và những dòng sông mất trong sa mạc hoặc bãi muối có diện tích lưu vực chiếm khoảng 36% tổng diện tích Trung Quốc.
Sông Trường Giang là sông dài nhất Trung Quốc với tổng chiều dài 6300 km, thứ 3thế giới, ch sau sông Ni-lê và sông A-ma-don. Sông Trường Giang cũng là đầu mối giao thông đường thủy từ đông sang tây Trung Quốc, được gọi là “đường thủy hoàng kim”. Khu vực trung hạ du sông Trường Giang có khí hậu ấm áp ẩm ướt, nước mưa dồi dào, ruộng đất màu mỡ, là khu vực có công nghiệp và nông nghiệp phát triển ở Trung Quốc
Ngoài các dòng sông thiên nhiên ra, Trung Quốc có một kênh đào Đại Vận Hà xuyên qua nam bắc Trung Quốc. Kênh Đại Vận Hà bắt đầu đào vào thế kỷ 5 công nguyên, chảy từ Bắc Kinh về phía bắc, đến tới Hàn Châu tỉnh Chiết Giang ở miền đông Trung Quốc về phía nam. Kênh Đại Vận Hà nối liền 5 hệ thống nước như sông Hải Hà, sông Hoàng Hà, sông Hoài Hà, sông Trường Giang và sông Tiền Đường Giang. Kênh Đại Vận Hà là kênh đào sớm nhất và dài nhất trên thế giới với tổng chiều dài 1801 cây số.
5. Thổ nhưỡng - sinh vật:
- Trung Quốc có đất đai rộng mênh mông, tài nguyên đất đai da dạng. Ruộng đất, vùng rừng, đồng cỏ, hoang mạc, bãi lầy rải rác tại Trung Quốc với diện tích lớn.
- Nhưng Trung Quốc có đất đồi nhiều, đồng bằng ít, ruộng đất và vùng rừng chiếm tỷ lệ nhỏ. Tài nguyên đất đai các loại rải rác không đồng đều, ruộng đất chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bằng và vùng lòng chảo thuộc khu vực gió mùa miền đông.
Rừng vân sam ở khu tự trị Tân Cương.
Rừng thông Hàn Quốc ở tỉnh Cát Lâm.
- Đất dùng trồng trọt: Trung Quốc hiện nay có ruộng đất 1,27 triệu km2.
- Khu vực miền đông và miền tây có diện tích ruộng đất ít hơn chiếm 28,4%, khu vực miền trung có diện tích ruộng đất lớn hơn, chiếm 43,2%.
- Ruộng đất tương đối tập trung ở vùng đồng bằng Đông Bắc, vùng đồng bằng Hoa Bắc, vùng đồng bằng trung hạ du sông Trường Giang, vùng châu thổ sông Châu Giang và vùng lòng chảo Tứ Xuyên.
- Ở vùng đồng bằng Đông Bắc phần lớn là ruộng đất màu mỡ, là nơi trồng tiểu mạch, ngô, cao lương, đậu nành, củ cải đường
- Đồng bằng Hoa Bắc phần lớn là ruộng đất màu nâu xám, nông sản có tiểu mạch, ngô, thóc gạo, cao lương, bông, lạc vv.
- Ở đồng bằng trung hạ du sông Trường Giang trồng lúa nước, cam quýt, hạt cải dầu
- Ở vùng lòng chảo Tứ Xuyên sản xuất nhiều lúa nước, cải dầu, mía, chè, cam quýt và bưởi vv.
- Trung Quốc hiện nay có diện tích vùng rừng 158 triệu 940 nghìn héc-ta, tỷ lệ che phủ vùng rừng là 16,55%, là đất nước ít rừng, có khoảng cách rất lớn so với tỷ lệ che phủ vùng rừng trung bình thế giới 30%.
- Vùng rừng thiên nhiên Trung Quốc phần lớn tập trung rải rác ở khu vực miền đông bắc và tây nam, ở vùng đồng bằng miền đông với dân số đông, kinh tế phát triển và ở khu vực miền tây bắc rộng mênh mông, vùng rừng rất ít ỏi
Rừng đỗ quyên ở tỉnh Vân Nam.
Rừng tre ở Tứ Xuyên
Rừng vân sam ở Tây Tạng
Rừng thông ở tỉnh Hắc Long Giang
- Hiện nay, Trung Quốc có vùng rừng nhân tạo 33 triệu 790 nghìn héc-ta, là nước có diện tích rừng nhân tạo lớn nhất trên thế giới.
Trung Quốc có giống cây phong phú, chỉ riêng cây cao đã có hơn 2800 loại. Cây bạch quả và cây thủy sam là giống cây quý báu chỉ có ở Trung Quốc
- Trung Quốc có đồng cỏ chăn nuôi 266 triệu 60 nghìn héc-ta, có loại hình đồng cỏ đa dạng, rất có lợi cho chăn nuôi nhiều loại súc vật vào mùa khác nhau.
Cá heo không vây sống ở sông Hoàng Hà
Gấu trúc
6. Khoáng sản:
- Trung Quốc có tài nguyên khoáng sản phong phú. Trung Quốc có tài nguyên khoáng sản đã khám phá rõ chiếm 12% tổng lượng thế giới, đứng thứ 3 trên thế giới. Cho đến nay, Trung Quốc phát hiện 171 loại khoáng sản, trong đó có 158 loại khoáng sản đã được khám phá rõ trữ lượng (khoáng sản năng lượng 10 loại, khoáng sản kim loại màu đen 5 loại, khoáng sản kim loại màu 41 loại, khoáng sản kim loại quý 8 loại, khoáng sản phi kim loại 91 loại, khoáng sản dạng khí khác 3 loại.
- Dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên chủ yếu phân bố ở miền Đông Bắc, Hoa Bắc và Tây Bắc.
- Than đá chủ yếu phân bố tại miền Hoa Bắc và Tây Bắc. Sắt chủ yếu phân bố tại miền Đông Bắc, Hoa Bắc và Tây Nam.
- Đồng chủ yếu phân bố tại miền Tây Nam, Tây Bắc và Hoa Đông. Quặng chì và quặng kẽm phân bố khắp nước.
- Tài nguyên than đá: trữ lượng than đá Trung Quốc đứng đầu thế giới. Cả nước có trữ lượng than đá đã khám phá rõ là 1000 tỷ tấn
1. Vị trí
Đài Loan Trung Quốc là một tỉnh gồm những đảo trên biển, nằm ở rìa Đông Nam của thềm lục địa. Cả tỉnh gồm có hai quần đảo lớn, một là hòn đảo Đài Loan cùng những đảo xung quanh, thứ hai là quần đảo Bành Hồ. Cả tỉnh có trên 80 hòn đảo. Đài Loan có tổng diện tích đất liền khoảng 36 nghìn km2
Cả tỉnh nằm ở vị trí trung tâm của đường thủy Tây Thái Bình Dương, có vị trí chiến lược hết sức quan trọng
2. Địa hình
Là hòn đảo lớn nhất Trung Quốc. Trên đảo có nhiều núi, diện tích các núi cao và đồi núi chiếm 2/3 tổng diện tích, đồng bằng chỉ chiếm dưới 1/3. Đặc trưng địa hình hòn đảo Đài Loan là ở giữa cao, hai bên thấp, dãy núi Trung Ương xuyên qua nam bắc, là ranh giới nam bắc.
Khí hậu:
Đài Loan nằm giữa ôn đới và nhiệt đới, có khí hậu thuộc nhiệt đới và á nhiệt đới.
Do tỉnh Đài Loan bị biển bao vây về bốn phía, nên chịu sự ảnh hưởng của gió mùa đến từ biển.
Diện tích che phủ của rừng núi Đài Loan chiếm hơn một nửa tổng diện tích đất đai cả tỉnh
Đài Loan có nhiều chủng loại cây, có gần 4000 loại gồm chủng loại nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và hàn đới, là vườn bách thảo thiên nhiên nổi tiếng châu Á. Đài Loan có rừng cây kinh tế với diện tích chiếm 4/5 diện tích rừng núi.
Cây long não Đài Loan xếp hàng đầu thế giới. Long não và dầu cây long não chiết xuất từ cây long não là một đặc sản nổi tiếng của Đài Loan, sản lượng chiếm khoảng 70% tổng sản lượng thế giới.
Đài Loan bị biển bao vây về 4 phía, nằm ở giao thao giữa dòng biển và dòng biển lạnh, nên có hải sản rất phong phú.
Đài Loan có hơn 500 loại cá. Cao Hùng, Cơ Long, Tô Áo, Hoa Liên, Tân Cảng và Bành Hồ đều là ngư trường nổi tiếng.
Ngoài ra, muối biển do Đài Loan sản xuất cũng rất nổi tiếng.
III. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
Dân cư
Xã hội
Khoa học kỹ thuật.
1. Dân cư:
Trung Quốc chiếm 1/5 dân số trên thế giới, trên 1,3 tỷ người( 2005)là một đất nước có dân số đông nhất trên thế giới.
Từ cuối những năm 1960, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính sách, biện pháp nghiêm khắc để giảm mức sinh và đã thành công trong việc kế hoạch hóa gia đình, đưa tỷ lệ gia tăng xuống thấp, song từ đó nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp phải giải quyết. Kết cấu giới tính nam nhiều hơb giới nữ ( với tỷ lệ: 52/48).
Trung quốc là nước có số dân di cư ra nước ngoài nhiều nhất thế giới. Họ có mặt ở hầu hết các quốc gia, song nhiều hơn cả là khu vực Đông Nam Á. Hiên nay do chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nên dòng người Trung Quốc từ nước ngoài và người nước ngoài về Trung Quốc nhiều hơn dòng người dòng người ra đi.
Nguồn lao động dồi dào nhưng phân bố không đều trên lãnh thổ. Số dân ở độ tuổi lao động chiếm 57% dân số. Vì vậy việc sử dụng hợp lí nguồn lao động luôn là vấn đề cấp bách. Những năm gần đây Trung Quốc đã có nhiều biện pháp cụ thể nhằm tao việc làm cho người lao động ở trong và ngoài nước ( xuất khẩu lao động, xây dựng các xí nghiệp hương trấn, đầu tư, xây dựng tiến công vào miền Tây).
Mật độ dân số trung bình năm hơn 100 người/km2, nhưng phân bố không đều. Vùng phía Đông dân cư tập trung đông đúc mật độ 500 người/km2, có nơi lên đến 1000 người/km2. Vùng phía Tây dân cư tập trung thưa.
Trong những năm gần đây, trước tình hình gia tăng dân số quá nhanh trong khi sự phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất lương thực lại không theo kịp, Trung Quốc đã phải thi hành tích cực những biện pháp hạn chế việc gia tăng dân số tự nhiên, như mỗi gia đình chỉ được phép có 1 con, trừ một số trường hợp đặc biệt nhằm đảm bảo sự ổn định về chất lượng cuộc sống cho mỗi người dân. Tuy nhiên, hiện nay dân số Trung Quốc hàng năm vẫn cứ tăng lên khoảng 13 triệu người. Đây là vấn đề nan giải đối với tình hình xã hội Trung Quốc trong quá trình phát triển hiện nay.
Một trong những quốc gia có nhiều dân tộc với 56 dân tộc anh em. Trong đó người Hán chiếm trên 92 % số dân cả nước ngoài ra còn có các dân tộc khác như: Mông Cổ, Hồi, Tạng, Vây-ua, Mèo, Di, Bu-y, Triều Tiên, Mãn, Động, Dao, Bạch, Thổ Gia, Ha-ni …
Các dân tộc khác phân bố chủ yếu tại các vùng tây bắc tây nam và đông bắc Trung Quốc.
Từ sau khi chính quyền nhân thành lập, nhờ chính sách dân tộc đúng đắn, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc đã được cải thiện.Về mặt chính trị, nhà nước Trung Quốc cũng đã bảo đảm quyền tự trị của các dân tộc, ra sức phát triển các giao thông vận tải ở các khu vực có các dân tộc ít người cư trú, khuyến khích họ định cư, phát triển sản xuất trồng trọt, chăn nuôi bằng cách giúp đỡ vốn và kĩ thuật, đặc biệt là nhà nước Trung Quốc đã quan tâm đến việc phát triển văn hóa, khoa học, kĩ thuật, tạo điều kiện cho họ có thể đóng góp được tài năng và trí tuệ của mình vào công cuộc xây dựng đất nước.
Trong nhiều năm nay với sự chung sống hòa thuận giữa 56 dân tộc trên một lãnh thổ rộng lớn đã tạo nên một lịch sử lâu đời hay một nền văn hóa rực rỡ
Trung quốc đã tiến hành các chính sách về dân số một cách triệt để nhằm hạn chế gia tăng tự nhiên trong đất nước. Vì thế tỉ suất gia tăng tự nhiên của đất nước ngày càng giảm. Năm 2005 chỉ còn 0,6%.
Dân Cư phân bố không đều trên toàn lãnh thổ, tập trung ở phía đông và các thành phố lớn.
Dân thành thị chiếm 37 % số dân cả nước như Bắc Kinh Thượng Hải( 8 triệu), Trùng Khánh, Thiên Tân, Thẩm Dương, vũ Hán, Cáp Nhĩ Tân
2. Xã hội:
Một nước nhiều dân tộc, chính phủ TQ thi hành chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán của dân tộc thiểu số
Với đất nước có dân số đông, nhiều dân tộc vì thế nền văn hóa Trung Quốc rất đa dạng.
Để kế thừa và phát triển nền văn hóa dân tộc. Trung quốc đã thành lập nên các tổ chức Hội nhà văn, Hội hý kịch, Hội âm nhạc, Hội múa, Hội mỹ thuật…
TQ có nhiều lễ hội của các dân tộc thiểu số, hầu như mỗi dân tộc đều có lễ hội quan trọng của mình. lễ té nước của dân tộc Thái, lễ ngọn đuốc của dân tộc Di, chợ tháng ba của dân tộc Bạch, hội hát của dân tộc Choang, lễ hội Na-đa-mu của dân tộc Mông Cổ v.v.
Lễ hội Cóc-ban là lễ hội truyền thống của đạo I-xlam còn gọi là “Lễ sát sinh”, tức ngày lễ giết súc vật cúng tế. Lễ hội Cóc-ban là ngày lễ chung của các dân tộc theo đạo I-xlam như Hồi, Ca-dắc, Tát-gích, Tát-ta, Kan-kát, San-ra, Đông Hương, Bảo An vv
Thời gian diễn ra lễ hội là ngày 10 tháng 12 theo lịch đạo I-xlam.
Các tôn giáo lớn:
Đạo phật được truyền vào TQ khoảng trước sau thế kỷ một SCN, là tôn giáo có ảnh hưởng lớn nhất tại TQ. Hiện nay TQ có hơn 13 nghìn chùa, 33 trường phật giáo và gần 50 loại sách báo, tạp chí phật giáo xuất bản.
Chùa Linh Thạch Ninh Chiết Giang TQ)
Đạo giáo: Là tôn giáo sinh trưởng tại TQ, từ thế kỷ 2 công nguyên, đã có hơn 1800 năm.
Đạo giáo kế thừa sự sùng bái thiên nhiên và sùng bái tổ tiên của thời cổ TQ, trong lịch sử có rất nhiều giáo phái, sau này dần dần diễn biến thành hai giáo phái lớn Toàn Chân Đạo và Chính Nhất Đạo, có ảnh hưởng nhất định trong dân tộc Hán.
TQ hiện có hơn 1500 ngôi chùa Đạo giáo, hơn 25 nghìn đạo sĩ nam, nữ trong chùa.
Thánh địa Đạo giáo - núi Thanh thành Tứ Xuyên
Đạo I-xlam có từ thế kỷ thứ 7. Là tôn giáo chính 18 triệu dân tộc thiểu. đa số sống tập trung tại khu tự trị Vây-ua Tân Cương, khu tự trị Hồi Ninh Hạ, cũng như tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Vân Nam v.v, Hiện nay TQ có hơn 30 nghìn nhà thờ I-xlam.
Nhà thờ Hồi giáo Đồng Tâm Ninh Hạ
Giáo dục:
Giáo dục là cơ sở của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Chính phủ TQ đã áp dụng một loạt chính sách và biện pháp đặc biệt phát triển nền giáo dục dân tộc
Tỷ lệ người biệt chữ từ 15 tuổi trở lên đạt gần 90 % . Sự đa dạng của các loại hình trường phổ thông, chuyên nghiệp, đại học… Nhà nước đề ra nhiều biện pháp chính sách nhằm phát huy tài năng của đất nước, coi trọng chất xám. Có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với lao động phức tạp. Do vậy, đến nay Trung Quốc có khoảng chục triệu sinh viên, 4 vạn tiến sĩ, 40 vạn thạc sĩ, số người làm công tác khoa học là 3 triêu người. Ngoài ra Trung Quốc còn cử rất nhiều chuyên gia ra nước ngoài học tập, chính vì vậy đã nâng cao tay nghề cho người lao động ở những ngành sản
xuất mới, đòi hỏi hàm lượng khoa học kĩ thuật cao như công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin, nguyên tử, hóa dầu…Trình độ cao của đội ngủ lao động là yếu tố quan trọng gớp phần đáng kể để phát triển nền công, nông nghiệp đa dạng hiện đại của nền kinh tế tri thức
Trường đại học dt trung ương TQ
ĐH giao thông – Thượng Hải
ĐH Thanh Hoa
3. Khoa học kỹ thuật:
Những năm gần đây TQ thực thi chiến lược chấn hưng đất nước bằng khoa học kỹ thuật. Tăng thêm đầu tư đối với nghiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật.
Năm 2003, kinh phí của toàn xã hội TQ dùng vào việc nghiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật đã vượt quá 150 tỉ nhân dân tệ, chiếm 1,35% tổng sản phẩm quốc nội
Các lĩnh vực khoa học kỹ thuật chú trọng phát triển nghiên cứu cơ sở, nghiên cứu phát triển công nghệ cao, lĩnh vực nông nghiệp, phát triển công nghiệp công nghệ cao cùng kỹ thuật hàng không vũ trụ, quốc phòng v,v.
Hiện nay, TQ đã mở 53 khu phát triển công nghệ cao cao tầm quốc gia.
Hàng không vũ trụ bắt đầu thực hiện vào năm 1992 đến 1999 phóng và thu hồi thành công tàu vũ trụ Thần Châu 1.
Năm 2006 phóng tàu Hằng Nga 1 lên mặt trăng với mục đích thăm dò.
Các hình ảnh về cơ sở hạ tầng:
Thành Dương
Ma Cao
Thượng Hải
Tòa nhà REN
HIỆN TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Qúa trình phát triển kinh tế
Trước
CM
1949
Nước
CHNDTH
Thành lập
1978
Tiến hành
hiện đại hóa
1997
Cuộc khủng
Hoảng tài
Chính châu Á
2003
Gia nhập
WTO
2008
Khủng hoảng
Kinh tế
Toàn cầu
Hiện nay
Trước cách mạng, TQ là nước phong kiến, nữa thuộc địa. Nông nghiệp lạc hậu, chiếm địa vị chủ yếu trong nền kinh tế. Công nghiệp nhỏ bé. Cơ cấu bất hợp lí (chủ yếu là công nghiệp nhẹ) và tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc.
Sau cách mạng đến trước hiện đại hóa (1949-1978) nền kinh tế bị nhiều xáo trộn lớn. Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, nước CHDN Trung Hoa thành lập và xây dựng mô hình XHCN.
Song thực tế gần 30 năm, đất nước trải qua nhiều thăng trầm bởi những kế hoạch phiêu lưu, nóng vội của “đại nhảy vọt” và “cách mạng văn hóa vô sản”. Cuộc cách mạng này đã ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội. Sản xuất ở tất cả các ngành đều giảm sút. Đời sống vật chất thiếu thốn,
đời sống tinh thần ngột ngạt do những biến động chính trị mạnh mẽ.
Từ năm 1978 - 1997, TQ thực hiện chiến lược hiện đại hóa đất nước.
Đường lối phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc được xác định bằng 4 hiện đại hóa với 3 bước chiến lược nhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội. Trong hai thập kỷ qua nhờ đường lối cải cách, Trung Quốc đã thu được các thành tựu đáng kể, nền kinh tế thay đổi mạnh mẽ, chất lượng cuộc sống người dân tăng lên rõ rệt.
+ Kết quả hiện đại hóa công nghiệp của Trung Quốc:
Cơ cấu ngành công nghiệp: có sự thay đổi lớn ngày càng đa dạng hơn.
Giai đoạn đầu: ưu tiên phát triển công nghiệp nhẹ.
Kế tiếp: phát triển các ngành công nghiệp truyền thống.
Từ 1994, tập trung chủ yếu vào 5 ngành: chế tạo máy, điện tử, hóa dầu, sản xuất ôtô, xây dựng.
Phân bố công nghiệp: ngày càng hợp lý hơn
- Ngoài các trung tâm công nghiệp cũ được mở rộng, hiện đại hóa, TQ đã xây dựng và phát triển nhiều trung tâm công nghiệp mới ở miền Đông
Tăng cường đầu tư xây dưng, phát triển công nghiệp ở miền Tây (Lan Châu, Urumsi…)
Phát triển công nghiệp nông thôn
Sản lượng công nghiệp tăng nhanh, TQ có vị trí cao trên thế giới về nhiều sản phẩm công nghiệp.
Xếp thứ nhất thế giới về: than, thép, ximăng, phân đạm.
Xếp thứ hai thế giới về điện.
Sản phẩm công nghiệp ngày càng có sức cạnh tranh mạnh hơn, đặc biệt là sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
+ Nguyên nhân:
Điều kiện sản xuất công nghiệp được cải thiện:
Cơ chế thị trường được thiết lập, các nhà máy được chủ động hơn trong việc lập kế hoạch sản xuất và tìm thị trường tiêu thụ.
Hiện đại hóa trang thiết bị ứng dụng thành tựu KHKT, công nghệ mới vào sản xuất.
Thực hiện chính sách mở cửa, thành lập các đặc khu kinh tế thu hút vốn, kĩ thuật và công nghệ của các nước phát triển.
Phát triển công gnhiệp có trong điểm, đầu tư tập trung nên đạt hiệu quả cao.
Đội ngũ lao động đông, năng động.
Đáng chú ý nhất là năm 1997 cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nhiều nước trong khu vực có mức tăng trưởng âm nhưng đồng nhân dân tệ không bị mất giá. Tốc độ tăng trưởng cao, ổn định suốt hơn ba thập kỉ từ 8 đến 10%/năm.TQ đang vững bước vào thế kỉ 21, xây dưng đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc, đẩy mạnh cải cách, mở cửa để xây dựng một nước Trung Hoa giàu mạnh, đưa TQ vào giai đoạn phát triển mới trở thành một nước phát triển vào giữa thế kỉ 21 mà Đảng cộng sản TQ lần thứ 16 đã đề ra.Quyết tâm x
1. Vị trí địa lí:
Là một quần đảo trong Thái Bình Dương, phía Đông của lục địa Châu Á. Có vị trí địa lí:24-450VTB;129-1420 KTĐ
- Kéo dài từ Bắc xuống Nam theo hướng vòng cung, dài trên 3.500 km.
Gồm 4 đảo lớn và hàng nghìn đảo nhỏ.
I/ Điều kiện tự nhiên
2. Địa hình:
Chủ yếu là đồi núi chiếm 80% diện tích của Nhật Bản, địa hình không ổn định, có nhiều núi lửa.
- Đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, và phân bố ven biển, đất đai khá tốt, chiếm khoảng 13% diện tích. Trong đó lớn nhất là đồng bằng Canto trên đảo Honshu.Vì vậy mà Nhật Bản thiếu đất canh tác nên Nhật canh tác trên nhứng vùng đất có độ dốc tới 150
- Núi ở Nhật có độ cao trung bình (Núi Phú Sĩ cao nhất 3766m). Nhật Bản nằm trong vùng không ổn định của vỏ trái đất, thường xuyên chịu ảnh hưởng sóng thần, động đất, núi lửa…
- Bờ biển khúc khuỷu, nhiều vũng vịnh có nhiều cảnh đẹp thuận lợi cho phát triển du lịch và xây dựng hải cảng, tàu bè trú ngụ.
Bờ biển Hokkaido
Bờ biển Kashimanada
Bờ biển Sanriku
Bờ biển Wakasa
NÚI PHÚ SĨ
VỊ TRÍ: Bên bờ biển Đông, phía Nam đảo Benzhou, cách Tokyo 80 dặm về phía Đông, thuộc địa phận 2 huyện Jinggang và Sangli.
ĐỘ CAO ĐỈNH NÚI: 3776 mét
DIỆN TÍCH: 90,76 km2
ĐƯỜNG KÍNH MIỆNG NÚI: khoảng 700 mét
ĐƯỜNG KÍNH CHÂN NÚI: gần 40 km
ĐỘ SÂU: khoảng 220 mét
- So với đỉnh Everest cao 8.848 mét thì núi Phú Sĩ không thấm vào đâu nhưng nó trở thành cảnh quan đại diện cho Nhật Bản bởi hình dáng tuyệt đẹp với hình nón gần như cân tuyệt đối trải dài tới mặt đất.
- Trong quan niệm của người Nhật, núi Phú Sĩ tượng trưng cho sự tốt lành. Ngọn núi uy nghi, tượng trưng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của người dân Nhật Bản. Họ miêu tả núi Phú Sĩ “như chiếc quạt bằng ngọc treo ngược trên bầu trời biển Đông, tuyết trắng trên núi phản chiếu ánh sáng rực rỡ của mặt trời”
- Ở phía bắc chân núi Phú Sĩ có 5 hồ nước trong vắt, giống như những viên ngọc khảm vào thân núi. Đó là các hồ Bản Tây, Tịnh Tiến, Tây, Cửa Sông và Sơn Trung.
- Về phía nam núi Phú Sĩ có một vùng đồng bằng rộng lớn, có hai thác nước nổi tiếng là thác Bạch Hề và Âm Chỉ.
- Hình dáng cân đối tuyệt vời của núi Phú Sĩ đã đi vào rất nhiều văn, thơ. Có rất nhiều họa sĩ nổi tiếng thử sức bằng việc vẽ tranh núi Phú Sĩ. Trong số đó nổi tiếng nhất là bức Phú Sĩ ba mươi sáu cảnh (Fugaku Sanju-rokkei) của họa sĩ Katsushika Hokusai (1603-1867) thời Edo.
Một số hình ảnh của núi Phú Sĩ
Phú Sĩ
ba mươi sáu cảnh
của Katsushika Hokusai
Bức tranh vẽ phong cảnh quanh
núi Phú Sĩ
Núi Phú Sĩ đã phun nham thạch hàng trăm lần. Từ năm 781 đến nay, núi Phú Sĩ đã phun 18 lần. Lần phun gần nhất là năm 1707, tro bụi bay đến bám đầy nóc nhà ngoại thành Tokyo. Sau lần phun lửa đó, núi Phú Sĩ đi vào giấc ngủ cho đến nay.
Tuy nhiên không thể nói chắc chắn 100% rằng núi Phú Sĩ không phun trở lại.
Các nhà khoa học Nhật Bản dùng kỹ thuật và thiết bị hiện đại nhất để thăm dò, nghiên cứu núi Phú Sĩ.
Họ thấy rằng, hằng năm, ngọn núi này có 10 lần động đất và phun lửa nhỏ, nằm sâu trong lòng đất, không có phun lửa ra khỏi mặt đất, nhưng ở nhiều cho trên thân núi vẫn thường phun hơi nóng từ bên trong ra ngoài.
Dấu hiệu này chứng tỏ núi Phú Sĩ có thể phun lửa trở lại bất cứ lúc nào, để tỏ rõ “uy quyền thần thánh” của nó.
* Đi kèm với núi lửa là khoảng
2800 suối nước nóng tại Nhật
Bản đồ
phân bố các suối nước nóng ở Nhật
Bồn địa và cao nguyên:
Giữa các núi có những bồn địa nhỏ, các cao nguyên và cụm cao nguyên. Nhật Bản có trên 60 bồn địa- những vùng đất trũng giữa các núi,khoảng gần 40 cao nguyên và cụm cao nguyên (những cao nguyên liền kề nhau).
Bình nguyên
Nhật Bản có gần 60 bình nguyên nằm ở ven biển (đồng bằng ven biển), nơi có sông đổ ra. Tổng diện tích các bình nguyên bằng khoảng 20% diện tích cả nước.
Các bình nguyên nhìn chung đều hẹp. Bình nguyên lớn nhất là bình nguyên Kanto.
Bình nguyên Kanto
3. Khí hậu:
Khí hậu gió mùa, có sự phân hoá đa dạng theo chiều Bắc – Nam, mưa nhiều từ 1000- 3000mm.
+ Phía Bắc: Ôn đới gió mùa
+ Phía Nam: Cận nhiệt gió mùa
- Đặc điểm lớn nhất của khí hậu Nhật Bản là có bốn muà Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt:
+ Mùa xuân từ tháng Ba tới tháng Năm, hoa anh đào nở dần từ nam lên bắc.
+ Mùa hạ từ tháng Sáu tới tháng Tám, cây cối xanh mướt. .
+ Mùa thu từ tháng Chín tới tháng Mười Một, lá phong đỏ thắm từ bắc xuống nam.
+ Mùa đông từ tháng Mười Hai tới tháng Hai, tuyết trắng tinh khôi.
Mùa Xuân
Mùa Hạ
Mùa Thu
Mùa Đông
4. Thủy văn, dòng biển:
+ Sông ngòi nhỏ, ngắn, dốc chủ yếu ở miền núi, có giá trị thủy điện và tưới tiêu. Trữ lượng thủy điện khoảng 20 triệu kw. Sông dài nhất là Sina (369km), Isikaro (365km), Tone
+ Nơi giao nhau của các dòng biển nóng (Cưrôsivô) và lạnh (ôiasivô). Tạo nhiều ngư trường lớn với nhiều loại hải sản. Đây là thế mạnh của Nhật Bản.
Sông Shinano
Sông Ishikari
Sông Tone
Sông ở Hôn su
Hồ: ở đây có rất nhiều hồ nhưng nếu là hồ rộng trên 1 km2 thì có khoảng 100 hồ. Hồ rộng nhất là hồ Biwa (Tì bà hồ) Hồ Biwa là một trong những hồ nước trong cổ nhất trên thế giới.
Vị trí hồ Tì Bà (Biwa)
- Nhật Bản có hệ thống các lòai thực vật và động vật rất đa dạng và phong phú trải dài từ Bắc xuống Nam.
- Thực vật và động vật tại Nhật Bản qua nhiều thế kỷ đã bị ảnh hưởng do sự du nhập từ các quốc gia khác. Trong thời kỳ Minh Trị (1858-1912), đã có từ 200 tới 500 loại cây được đưa vào Nhật Bản, phần lớn từ châu Âu rồi về sau này từ Hoa Kỳ.
- Nhật Bản vào thời cổ xưa đã được nối với châu Á nhờ thế đã có các thú vật di cư từ Triều Tiên và Trung Hoa qua.
- Nhật Bản có các loại thú đặc biệt, chẳng hạn như loài gấu nâu của đảo Hokkaido cao tới 2 mét và nặng 400 kilôgam và loài gấu nâu châu Á nhỏ hơn,cao tới 1,4 mét và nặng 200 kilôgam. Một giống thú đặc biệt khác là loài khỉ cỡ trung bình,cao khoảng 60 phân và có đuôi ngắn, thường thấy trên các đảo Honshu, Shikoku và Kyushu.
5. Sinh vật
Những con khỉ Nhật Bản đang ngâm mình trong một suối nước nóng để tránh rét.
Hạc Nhật Bản
Khỉ Macaca
Gấu nâu
Tuy nhiên, do sự phát triển đô thị, do các loại kĩ nghệ và việc bành trướng du lịch, môi trường sống của một số sinh vật đã bị ảnh hưởng xấu:
+ Loại hạc rất đẹp của hòn đảo Hokkaido đã từng làm đề tài cho các bức danh họa nhiều thế kỷ trước, nay đã bị tuyệt chủng.
+ Sự ô nhiễm các dòng sông đã làm chết đi các loại cá chép và cá hồi.
+ Loại gấu màu nâu cũng biến đi dần.
+ Loại khỉ macaca chỉ còn thấy tại khu vực Nagano.
+ Các khu giải trí dưới mặt nước cũng làm hư hỏng các vùng biển san hô thiên nhiên.
Vì vậy để bảo vệ môi trường thiên nhiên, Nhật Bản có 28 công viên quốc gia và 55 công viên bán công.
Miền phía bắc đảo Honshu và đảo Hokkaido là hai nơi thưa dân, nên có nhiều công viên quốc gia lớn.
6.Khoáng sản:
- Nhật Bản nghèo về tài nguyên khoáng sản, nhiều nhất là than đá.Trong đó than đá có trữ lượng 21 tỉ tân tập trung nhiều trên đảo Hôcaiđô, dầu lửa có trữ lượng nhỏ, nằm trên bờ biển tây bắc đảo Hônsu và Hôcaiđô. Các mỏ quặng sắt, phi kim loại có trữ lượng nhỏ. Thiếu nguyên liệu cho các ngành công nghiệp. Vì vậy ngành công nghiêp của nhật chủ yếu dựa vào nguyên liệu nhập ngoại
Một số hình ảnh về thiên nhiên Nhật Bản
II/ Kinh tế xã hội:
1. Dân cư:
SỰ BIẾN ĐỘNG VỀ CƠ CẤU DÂN SỐ THEO ĐỘ TUỔI
- Có quy mô dân số lớn năm 2008 dân số:128.018.000 (đứng thứ 10 thế giới).
- Tỉ suất gia tăng tự nhiên thấp và đang giảm dần, chỉ còn 0,1% năm 2005.
- Tỉ lệ người già trong dân cư ngày càng lớn.
- Mật độ dân số cao (338 người/km2, năm 2005), xuất hiện ngày càng nhiều các đô thị lớn.
Tác động: Thiếu ngồn lao động, chi phí cho phúc lợi xã hội lớn (Trả lương hưu, bảo hiểm, chăm sóc người cao tuổi…).
- Theo kết quả điều tra quốc dân tháng 10 năm 2005, trên toàn nước Nhật có 10 tỉnh thành có dân số trên 3 triệu người, đó là:
- Tokyo (12,57 triệu)
- Osaka (8,82 triệu)
- Kanagawa (8,79 triệu)
- Aichi (7,25 triệu)
- Saitama (7,05 triệu)
- Chiba (6,06 triệu)
- Hokkaido (5,63 triệu)
- Hyogo (5,59 triệu)
- Fukuoka (5,05 triệu)
- Shizuoka (3,79 triệu)
- Vùng Tokyo, bao gồm thủ đô Tokyo và một vài quận xung quanh là trung tâm thủ phủ lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống.
- Ngoài ra có 10 tỉnh thành có dân số từ 2 đến 3 triệu dân, 20 tỉnh thành có dân số từ 1 đến 2 triệu dân và 7 tỉnh còn lại có dân số dưới 1 triệu dân.
- Thấp nhất là tỉnh Tottori với 610 nghìn dân.
SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ Ở CÁC THÀNH PHỐ LỚN TẠI NHẬT
* Tháng 10 năm 2005, số nam giới ở Nhật là 62,34 triệu người, nữ giới là 65,42 triệu người. Nam giới ít hơn nữ giới 3,08 triệu người.
- Như vậy tỷ lệ nam giới ở Nhật chỉ là 48,8%. Tỷ lệ này chỉ cao hơn tỷ lệ năm 1945 (47%) do chiến tranh, và thấp thứ 2 trong lịch sử.
- Nguyên nhân chính của tỷ lệ nam nữ thấp là do tuổi thọ trung bình của nữ cao hơn nam.
- Tuy nhiên ở một số tỉnh thành dân số nam lại cao hơn nữ, đó là 4 tỉnh thành: Kanagawa, Saitama, Aichi và Chiba.
* Tuổi thọ của nam giới là 78,36, nữ giới là 85,33. Ðây là tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới. Thế nhưng năm 1935 thì con số này là 46,92 đối với nam giới và 49,63 đối với nữ giới.
Như vậy trong vòng 60 năm tuổi thọ trung bình của cả nam và nữ đều tăng 30 tuổi.
a) Thành phần dân tộc:
Dân tộc Nhật chiếm đa số, ngoài ra còn có hai dân tộc thiểu số là Ainu và Buraumin.
b) Ngôn ngữ: Tiếng Nhật
c) Tôn giáo:
Ở Nhật Bản có rất nhiều tôn giáo, nhưng hầu hết người Nhật không theo tôn giáo nào. Tôn giáo cổ xưa ở Nhật Bản là đạo Shinto (tức Thần Đạo). Các đền thờ đạo Shinto được xây dựng khắp đất nước. Nghi lễ tôn giáo trang nghiêm nhất là tang lễ, phần đông người Nhật cử hành tang lễ theo nghi thức đạo Phật.
d) Chế độ chính trị:
Nhật Bản là nước theo chính thể Quân chủ lập hiến. Đứng đầu và tượng trưng cho quyền lực của đất nước là nhà Vua (Nhật Hoàng). Ngôi Vua được truyền từ đời này sang đời khác. Trong thực tế, quyền điều hành đất nước thuộc Thủ tướng và Nội các. Quốc hội bao gồm: Thượng viện và Hạ viện.
Đặc điểm con người và xã hội Nhật Bản:
- Người lao động cần cù, sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao, nhờ đó năng suất lao động cao.
- Mức sống của người dân cao, tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới.
- Có 90% dân số là người Nhật nên họ có lòng tự hào dân tộc cao.
- Là một quốc gia có nhiều nét văn hoá độc đáo trên các lĩnh vực lễ hội, ẩm thực, nghệ thuật, thể thao.
e) Giáo dục
Một số hình ảnh về giáo dục Nhật Bản
Trà đạo
Kimono
Búp bê trong lễ hội Hinamatsuri
Sumo
Ken đô
Samurai
Sushi có nguồn gốc từ phương pháp bảo quản cá bằng cách ủ vào trong cơm của khu vực Đông Nam Á. Thứ cơm trộn dấm để làm sushi được gọi là sumeshi hoặc sushimeshi. Loại dấm để nấu thứ cơm này không phải là dấm thông thường mà là dấm có pha chút muối, đường, rượu ngọt Mirin, vì thế gọi là dấm hỗn hợp awasesu. Dấm này chuyên dùng để chế biến sushi, nên còn được gọi là sushisu. Cơm nấu xong được đổ ra một cái chậu gỗ gọi là tarai rồi trộn dấm vào. Vừa trộn vừa dùng quạt tay quạt cho hơi nóng thoát bớt ra để giữ hương vị của dấm.Các loại hải sản dùng để làm sushi gọi là tane. Đó có thể là cá ngừ, cá hồng, cá trình, cá
f) Khoa học kĩ thuật:
- Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứu khoa học, công nghệ máy móc, nghiên cứu y học. Gần 700.000 nhà nghiên cứu chia sẻ 130 tỉ USD của ngân sách nghiên cứu và phát triển, đứng hàng thứ 3 trên thế giới.
- Một vài đóng góp công nghệ quan trọng của Nhật Bản là những phát minh trong các lĩnh vực điện tử, ô tô, máy móc, robot công nghiệp, quang học, hóa chất, chất bán dẫn và kim loại. Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong ngành khoa học robot, đây là quốc gia sở hữu hơn nửa (402.200 trong tổng 742.500) số robot cho công nghiệp sản xuất.
- Nhật Bản đã phát minh ra QRIO, ASIMO và Aibo. Nhật Bản cũng là nhà sản xuất ô tô lớn nhất trên thế giới và là quê hương của 6 trong tổng số 15 nhà sản xuất ô tô lớn nhất toàn cầu cũng như 7 trong số 20 nhà sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế giới.
- Nhật Bản đang có những kế hoạch rất sáng sủa trong ngành thám hiểm không gian, trong đó có kế hoạch xây dựng một trạm mặt trăng vào năm 2030. Cơ quan thám hiểm không gian Nhật Bản (JAXA) là một trong những thành viên chủ chốt của trạm vũ trụ quốc tế, đây là cơ quan chuyên nghiên cứu về không gian vũ trụ, các hành tinh, các nghiên cứu hàng không, phát triển tên lửa và vệ tinh.
ASIMO chỉ cao có 1,2m, nặng 52 kg, tốc độ di chuyển có thể đạt tới 1,6 km/giờ. ASIMO được phát triển với kỹ thuật I-WALK, kỹ thuật này giúp ASIMO là người máy đi lại nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh hơn bất cứ một thế hệ người máy nào trước đây. ASIMO có thể bước chéo, nhảy múa, leo cầu thang, đứng một chân tiến và lùi...Nhờ có các khớp nối cổ, khớp nối tay giống con người, các cử động tay và cổ tay của ASIMO cũng rất linh hoạt. Bàn tay của ASIMO có 5 ngón và có thể nắm chặt 5 ngón tay cùng một lúc, bắt tay, chỉ đường, gật đầu, lắc lư đầu, nghiêng đầu lên xuống khoảng 45%... Tuy nhiên, điều đặc biệt nhất làm ASIMO trở thành người máy thông minh, giống người số 1 trên thế giới - đó là ASIMO có thể thực hiện các cử chỉ, biểu lộ giống như con người: khóc, tức giận, vui mừng, ngạc nhiên, khoái chí...
TP. Tokyo
TP. ÔXACA
Hirôxima
KIMH TE NHẬT BẢN
I. Điều kiện tự nhiên:
1. Vị trí địa lý – lãnh thổ
2. Địa hình
3. Khí hậu
4. Thủy văn
5. Thổ nhưỡng – sinh vật
6. khoáng sản
II. Đài loan
TRUNG QUỐC
1 Vị trí địa lý và lãnh thổ:
- Trung Quốc là nước có diện tích lớn thứ tư trên thế giới Lãnh thổ trải dài từ khoảng 20o - 53o B và khoảng 730 – 1350 Đ, giáp 14 nước.
- Biên giới với các nước chủ yếu là núi cao hoang mạc; phần phía đông giáp biển, mở rộng ra Thái Bình Dương. Miền duyên hải rộng lớn với đường bờ biển dài khoảng 9.000 Km,
- Cả nước có 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trực thuộc trung ương. Ven biển có hai đặc khu chính là Hồng Kong và Ma Cao, Đảo Đài Loan,
2. Địa hình:
- Trung Quốc là một đất nước có nhiều núi, diện tích vùng núi chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích cả nước.
- Vùng núi bao gồm nương rẫy, đồi núi và cao nguyên.
- Địa hình trong toàn quốc, nương rẫy chiếm khoảng 33%, cao nguyên chiếm khoảng 26%, vùng lòng chảo chiếm khoảng 19%, đồng bằng chiếm khoảng 12% và đồi núi chiếm khoảng 10%.
- Nửa phía Đông của quốc gia này là các vùng duyên hải và các đảo là một vùng bình nguyên phì nhiêu, đồi và núi, các sa mạc và các thảo nguyên và các khu vực cận nhiệt đới.
- Nửa phía Tây của Trung Quốc là một vùng các lưu vực chìm trong các cao nguyên, các khối núi, bao gồm phần cao nguyên cao nhất trên trái đất.
Địa hình ở Trung Quốc chia thành 2 phần cơ bản:
Phía tây: Là vùng núi cao và hiểm trở nhất thế giới với độ khô cằn rất nhiều. Có nhiều cao nguyên và bồn địa tiêu biểu như : cao nguyên Tân Cương (phía Tây Bắc) với những dãy núi cao và hiểm trở như Côn Luân, Thiên Sơn, và rất nhiều đỉnh núi cao (từ 600 m đến 7000 m) xen kẽ là những bồn địa rộng lớn như bồn địa Uigua và Lòng chảo Ta Rim
Phía đông: Là dạng địa hình chuyển tiếp thấp dần từ Tây sang Đông với dãy núi thấp xen lẫn là các cao nguyên, các bình nguyên, các bồn địa và các đồng bắng châu thổ rộng lớn
Là lưu vực thuộc sông Hoàng Hà có diện tích 700.000 km². Nông nghiệp trù phú, tập trung dân cư đông đúc và là nơi xuất phát nền văn minh Trung Quốc và là nơi xảy ra thiên tai nhiều nhất ở TQ.
Bình nguyên Hoa Bắc
3. Khí hậu:
● Khí hậu Trung Quốc phức tạp , đa dạng, đa số nằm trong khu vực bắc ôn đới, thuộc khí hậu gió mùa lục địa, phần lớn lãnh thổ có 4 mùa rỏ rệt, .
● Do đất nước rộng lớn, địa hình phức tạp, độ cao chênh lệch lớn nên khí hậu cũng đa dạng theo: Từ nam lên bắc lần lượt là các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, trung ôn đới, hàn ôn đới,, Còn khí hậu vùng cao nguyện Thanh Tạng là vùng khí hậu theo đường thẳng đứng. ( thay đổi theo độ cao).
Cảnh về đông
Cảnh vào hè
- Cực bắc Trung Quốc ở 53 độ vĩ bắc thuộc khí hậu Hàn ôn đới, trong khi đó cực nam Trung Quốc lại thuộc khí hậu xích đạo. Vì vậy từ Nam tới Bắc khí hậu chênh lệch rất lớn.
- Các vùng do ảnh huởng dòng khí vùng biển ẩm, nên mưa nhiều, nhưng lượng mưa giữa các vùng và các mùa không đều nhau: Miền Đông mưa nhiều, miền Tây ít. Từ Đông Nam tới Tây Bắc lượng mưa giảm dần đồng thời mưa nhiều vào mùa hạ. Miền Nam mùa mưa kéo dài từ tháng 5 tới tháng 10. Miền Bắc mùa mưa ngắn, tập trung vào tháng 7, tháng 8.
4.Thủy văn:
- Lãnh thổ Trung Quốc có rất nhiều dòng sông, có trên 1500 dòng sông có diện tích lưu vực trên 1000 km2
- Dòng sông được chia thành dòng sông đổ ra biển và dòng sông nội địa.
- Các dòng sông đổ ra biển có diện tích lưu vực chiếm khoảng 64% tổng diện tích đất đai Trung Quốc
- Các dòng sông nội địa và những dòng sông mất trong sa mạc hoặc bãi muối có diện tích lưu vực chiếm khoảng 36% tổng diện tích Trung Quốc.
Sông Trường Giang là sông dài nhất Trung Quốc với tổng chiều dài 6300 km, thứ 3thế giới, ch sau sông Ni-lê và sông A-ma-don. Sông Trường Giang cũng là đầu mối giao thông đường thủy từ đông sang tây Trung Quốc, được gọi là “đường thủy hoàng kim”. Khu vực trung hạ du sông Trường Giang có khí hậu ấm áp ẩm ướt, nước mưa dồi dào, ruộng đất màu mỡ, là khu vực có công nghiệp và nông nghiệp phát triển ở Trung Quốc
Ngoài các dòng sông thiên nhiên ra, Trung Quốc có một kênh đào Đại Vận Hà xuyên qua nam bắc Trung Quốc. Kênh Đại Vận Hà bắt đầu đào vào thế kỷ 5 công nguyên, chảy từ Bắc Kinh về phía bắc, đến tới Hàn Châu tỉnh Chiết Giang ở miền đông Trung Quốc về phía nam. Kênh Đại Vận Hà nối liền 5 hệ thống nước như sông Hải Hà, sông Hoàng Hà, sông Hoài Hà, sông Trường Giang và sông Tiền Đường Giang. Kênh Đại Vận Hà là kênh đào sớm nhất và dài nhất trên thế giới với tổng chiều dài 1801 cây số.
5. Thổ nhưỡng - sinh vật:
- Trung Quốc có đất đai rộng mênh mông, tài nguyên đất đai da dạng. Ruộng đất, vùng rừng, đồng cỏ, hoang mạc, bãi lầy rải rác tại Trung Quốc với diện tích lớn.
- Nhưng Trung Quốc có đất đồi nhiều, đồng bằng ít, ruộng đất và vùng rừng chiếm tỷ lệ nhỏ. Tài nguyên đất đai các loại rải rác không đồng đều, ruộng đất chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bằng và vùng lòng chảo thuộc khu vực gió mùa miền đông.
Rừng vân sam ở khu tự trị Tân Cương.
Rừng thông Hàn Quốc ở tỉnh Cát Lâm.
- Đất dùng trồng trọt: Trung Quốc hiện nay có ruộng đất 1,27 triệu km2.
- Khu vực miền đông và miền tây có diện tích ruộng đất ít hơn chiếm 28,4%, khu vực miền trung có diện tích ruộng đất lớn hơn, chiếm 43,2%.
- Ruộng đất tương đối tập trung ở vùng đồng bằng Đông Bắc, vùng đồng bằng Hoa Bắc, vùng đồng bằng trung hạ du sông Trường Giang, vùng châu thổ sông Châu Giang và vùng lòng chảo Tứ Xuyên.
- Ở vùng đồng bằng Đông Bắc phần lớn là ruộng đất màu mỡ, là nơi trồng tiểu mạch, ngô, cao lương, đậu nành, củ cải đường
- Đồng bằng Hoa Bắc phần lớn là ruộng đất màu nâu xám, nông sản có tiểu mạch, ngô, thóc gạo, cao lương, bông, lạc vv.
- Ở đồng bằng trung hạ du sông Trường Giang trồng lúa nước, cam quýt, hạt cải dầu
- Ở vùng lòng chảo Tứ Xuyên sản xuất nhiều lúa nước, cải dầu, mía, chè, cam quýt và bưởi vv.
- Trung Quốc hiện nay có diện tích vùng rừng 158 triệu 940 nghìn héc-ta, tỷ lệ che phủ vùng rừng là 16,55%, là đất nước ít rừng, có khoảng cách rất lớn so với tỷ lệ che phủ vùng rừng trung bình thế giới 30%.
- Vùng rừng thiên nhiên Trung Quốc phần lớn tập trung rải rác ở khu vực miền đông bắc và tây nam, ở vùng đồng bằng miền đông với dân số đông, kinh tế phát triển và ở khu vực miền tây bắc rộng mênh mông, vùng rừng rất ít ỏi
Rừng đỗ quyên ở tỉnh Vân Nam.
Rừng tre ở Tứ Xuyên
Rừng vân sam ở Tây Tạng
Rừng thông ở tỉnh Hắc Long Giang
- Hiện nay, Trung Quốc có vùng rừng nhân tạo 33 triệu 790 nghìn héc-ta, là nước có diện tích rừng nhân tạo lớn nhất trên thế giới.
Trung Quốc có giống cây phong phú, chỉ riêng cây cao đã có hơn 2800 loại. Cây bạch quả và cây thủy sam là giống cây quý báu chỉ có ở Trung Quốc
- Trung Quốc có đồng cỏ chăn nuôi 266 triệu 60 nghìn héc-ta, có loại hình đồng cỏ đa dạng, rất có lợi cho chăn nuôi nhiều loại súc vật vào mùa khác nhau.
Cá heo không vây sống ở sông Hoàng Hà
Gấu trúc
6. Khoáng sản:
- Trung Quốc có tài nguyên khoáng sản phong phú. Trung Quốc có tài nguyên khoáng sản đã khám phá rõ chiếm 12% tổng lượng thế giới, đứng thứ 3 trên thế giới. Cho đến nay, Trung Quốc phát hiện 171 loại khoáng sản, trong đó có 158 loại khoáng sản đã được khám phá rõ trữ lượng (khoáng sản năng lượng 10 loại, khoáng sản kim loại màu đen 5 loại, khoáng sản kim loại màu 41 loại, khoáng sản kim loại quý 8 loại, khoáng sản phi kim loại 91 loại, khoáng sản dạng khí khác 3 loại.
- Dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên chủ yếu phân bố ở miền Đông Bắc, Hoa Bắc và Tây Bắc.
- Than đá chủ yếu phân bố tại miền Hoa Bắc và Tây Bắc. Sắt chủ yếu phân bố tại miền Đông Bắc, Hoa Bắc và Tây Nam.
- Đồng chủ yếu phân bố tại miền Tây Nam, Tây Bắc và Hoa Đông. Quặng chì và quặng kẽm phân bố khắp nước.
- Tài nguyên than đá: trữ lượng than đá Trung Quốc đứng đầu thế giới. Cả nước có trữ lượng than đá đã khám phá rõ là 1000 tỷ tấn
1. Vị trí
Đài Loan Trung Quốc là một tỉnh gồm những đảo trên biển, nằm ở rìa Đông Nam của thềm lục địa. Cả tỉnh gồm có hai quần đảo lớn, một là hòn đảo Đài Loan cùng những đảo xung quanh, thứ hai là quần đảo Bành Hồ. Cả tỉnh có trên 80 hòn đảo. Đài Loan có tổng diện tích đất liền khoảng 36 nghìn km2
Cả tỉnh nằm ở vị trí trung tâm của đường thủy Tây Thái Bình Dương, có vị trí chiến lược hết sức quan trọng
2. Địa hình
Là hòn đảo lớn nhất Trung Quốc. Trên đảo có nhiều núi, diện tích các núi cao và đồi núi chiếm 2/3 tổng diện tích, đồng bằng chỉ chiếm dưới 1/3. Đặc trưng địa hình hòn đảo Đài Loan là ở giữa cao, hai bên thấp, dãy núi Trung Ương xuyên qua nam bắc, là ranh giới nam bắc.
Khí hậu:
Đài Loan nằm giữa ôn đới và nhiệt đới, có khí hậu thuộc nhiệt đới và á nhiệt đới.
Do tỉnh Đài Loan bị biển bao vây về bốn phía, nên chịu sự ảnh hưởng của gió mùa đến từ biển.
Diện tích che phủ của rừng núi Đài Loan chiếm hơn một nửa tổng diện tích đất đai cả tỉnh
Đài Loan có nhiều chủng loại cây, có gần 4000 loại gồm chủng loại nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và hàn đới, là vườn bách thảo thiên nhiên nổi tiếng châu Á. Đài Loan có rừng cây kinh tế với diện tích chiếm 4/5 diện tích rừng núi.
Cây long não Đài Loan xếp hàng đầu thế giới. Long não và dầu cây long não chiết xuất từ cây long não là một đặc sản nổi tiếng của Đài Loan, sản lượng chiếm khoảng 70% tổng sản lượng thế giới.
Đài Loan bị biển bao vây về 4 phía, nằm ở giao thao giữa dòng biển và dòng biển lạnh, nên có hải sản rất phong phú.
Đài Loan có hơn 500 loại cá. Cao Hùng, Cơ Long, Tô Áo, Hoa Liên, Tân Cảng và Bành Hồ đều là ngư trường nổi tiếng.
Ngoài ra, muối biển do Đài Loan sản xuất cũng rất nổi tiếng.
III. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
Dân cư
Xã hội
Khoa học kỹ thuật.
1. Dân cư:
Trung Quốc chiếm 1/5 dân số trên thế giới, trên 1,3 tỷ người( 2005)là một đất nước có dân số đông nhất trên thế giới.
Từ cuối những năm 1960, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính sách, biện pháp nghiêm khắc để giảm mức sinh và đã thành công trong việc kế hoạch hóa gia đình, đưa tỷ lệ gia tăng xuống thấp, song từ đó nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp phải giải quyết. Kết cấu giới tính nam nhiều hơb giới nữ ( với tỷ lệ: 52/48).
Trung quốc là nước có số dân di cư ra nước ngoài nhiều nhất thế giới. Họ có mặt ở hầu hết các quốc gia, song nhiều hơn cả là khu vực Đông Nam Á. Hiên nay do chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nên dòng người Trung Quốc từ nước ngoài và người nước ngoài về Trung Quốc nhiều hơn dòng người dòng người ra đi.
Nguồn lao động dồi dào nhưng phân bố không đều trên lãnh thổ. Số dân ở độ tuổi lao động chiếm 57% dân số. Vì vậy việc sử dụng hợp lí nguồn lao động luôn là vấn đề cấp bách. Những năm gần đây Trung Quốc đã có nhiều biện pháp cụ thể nhằm tao việc làm cho người lao động ở trong và ngoài nước ( xuất khẩu lao động, xây dựng các xí nghiệp hương trấn, đầu tư, xây dựng tiến công vào miền Tây).
Mật độ dân số trung bình năm hơn 100 người/km2, nhưng phân bố không đều. Vùng phía Đông dân cư tập trung đông đúc mật độ 500 người/km2, có nơi lên đến 1000 người/km2. Vùng phía Tây dân cư tập trung thưa.
Trong những năm gần đây, trước tình hình gia tăng dân số quá nhanh trong khi sự phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất lương thực lại không theo kịp, Trung Quốc đã phải thi hành tích cực những biện pháp hạn chế việc gia tăng dân số tự nhiên, như mỗi gia đình chỉ được phép có 1 con, trừ một số trường hợp đặc biệt nhằm đảm bảo sự ổn định về chất lượng cuộc sống cho mỗi người dân. Tuy nhiên, hiện nay dân số Trung Quốc hàng năm vẫn cứ tăng lên khoảng 13 triệu người. Đây là vấn đề nan giải đối với tình hình xã hội Trung Quốc trong quá trình phát triển hiện nay.
Một trong những quốc gia có nhiều dân tộc với 56 dân tộc anh em. Trong đó người Hán chiếm trên 92 % số dân cả nước ngoài ra còn có các dân tộc khác như: Mông Cổ, Hồi, Tạng, Vây-ua, Mèo, Di, Bu-y, Triều Tiên, Mãn, Động, Dao, Bạch, Thổ Gia, Ha-ni …
Các dân tộc khác phân bố chủ yếu tại các vùng tây bắc tây nam và đông bắc Trung Quốc.
Từ sau khi chính quyền nhân thành lập, nhờ chính sách dân tộc đúng đắn, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc đã được cải thiện.Về mặt chính trị, nhà nước Trung Quốc cũng đã bảo đảm quyền tự trị của các dân tộc, ra sức phát triển các giao thông vận tải ở các khu vực có các dân tộc ít người cư trú, khuyến khích họ định cư, phát triển sản xuất trồng trọt, chăn nuôi bằng cách giúp đỡ vốn và kĩ thuật, đặc biệt là nhà nước Trung Quốc đã quan tâm đến việc phát triển văn hóa, khoa học, kĩ thuật, tạo điều kiện cho họ có thể đóng góp được tài năng và trí tuệ của mình vào công cuộc xây dựng đất nước.
Trong nhiều năm nay với sự chung sống hòa thuận giữa 56 dân tộc trên một lãnh thổ rộng lớn đã tạo nên một lịch sử lâu đời hay một nền văn hóa rực rỡ
Trung quốc đã tiến hành các chính sách về dân số một cách triệt để nhằm hạn chế gia tăng tự nhiên trong đất nước. Vì thế tỉ suất gia tăng tự nhiên của đất nước ngày càng giảm. Năm 2005 chỉ còn 0,6%.
Dân Cư phân bố không đều trên toàn lãnh thổ, tập trung ở phía đông và các thành phố lớn.
Dân thành thị chiếm 37 % số dân cả nước như Bắc Kinh Thượng Hải( 8 triệu), Trùng Khánh, Thiên Tân, Thẩm Dương, vũ Hán, Cáp Nhĩ Tân
2. Xã hội:
Một nước nhiều dân tộc, chính phủ TQ thi hành chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán của dân tộc thiểu số
Với đất nước có dân số đông, nhiều dân tộc vì thế nền văn hóa Trung Quốc rất đa dạng.
Để kế thừa và phát triển nền văn hóa dân tộc. Trung quốc đã thành lập nên các tổ chức Hội nhà văn, Hội hý kịch, Hội âm nhạc, Hội múa, Hội mỹ thuật…
TQ có nhiều lễ hội của các dân tộc thiểu số, hầu như mỗi dân tộc đều có lễ hội quan trọng của mình. lễ té nước của dân tộc Thái, lễ ngọn đuốc của dân tộc Di, chợ tháng ba của dân tộc Bạch, hội hát của dân tộc Choang, lễ hội Na-đa-mu của dân tộc Mông Cổ v.v.
Lễ hội Cóc-ban là lễ hội truyền thống của đạo I-xlam còn gọi là “Lễ sát sinh”, tức ngày lễ giết súc vật cúng tế. Lễ hội Cóc-ban là ngày lễ chung của các dân tộc theo đạo I-xlam như Hồi, Ca-dắc, Tát-gích, Tát-ta, Kan-kát, San-ra, Đông Hương, Bảo An vv
Thời gian diễn ra lễ hội là ngày 10 tháng 12 theo lịch đạo I-xlam.
Các tôn giáo lớn:
Đạo phật được truyền vào TQ khoảng trước sau thế kỷ một SCN, là tôn giáo có ảnh hưởng lớn nhất tại TQ. Hiện nay TQ có hơn 13 nghìn chùa, 33 trường phật giáo và gần 50 loại sách báo, tạp chí phật giáo xuất bản.
Chùa Linh Thạch Ninh Chiết Giang TQ)
Đạo giáo: Là tôn giáo sinh trưởng tại TQ, từ thế kỷ 2 công nguyên, đã có hơn 1800 năm.
Đạo giáo kế thừa sự sùng bái thiên nhiên và sùng bái tổ tiên của thời cổ TQ, trong lịch sử có rất nhiều giáo phái, sau này dần dần diễn biến thành hai giáo phái lớn Toàn Chân Đạo và Chính Nhất Đạo, có ảnh hưởng nhất định trong dân tộc Hán.
TQ hiện có hơn 1500 ngôi chùa Đạo giáo, hơn 25 nghìn đạo sĩ nam, nữ trong chùa.
Thánh địa Đạo giáo - núi Thanh thành Tứ Xuyên
Đạo I-xlam có từ thế kỷ thứ 7. Là tôn giáo chính 18 triệu dân tộc thiểu. đa số sống tập trung tại khu tự trị Vây-ua Tân Cương, khu tự trị Hồi Ninh Hạ, cũng như tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Vân Nam v.v, Hiện nay TQ có hơn 30 nghìn nhà thờ I-xlam.
Nhà thờ Hồi giáo Đồng Tâm Ninh Hạ
Giáo dục:
Giáo dục là cơ sở của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Chính phủ TQ đã áp dụng một loạt chính sách và biện pháp đặc biệt phát triển nền giáo dục dân tộc
Tỷ lệ người biệt chữ từ 15 tuổi trở lên đạt gần 90 % . Sự đa dạng của các loại hình trường phổ thông, chuyên nghiệp, đại học… Nhà nước đề ra nhiều biện pháp chính sách nhằm phát huy tài năng của đất nước, coi trọng chất xám. Có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với lao động phức tạp. Do vậy, đến nay Trung Quốc có khoảng chục triệu sinh viên, 4 vạn tiến sĩ, 40 vạn thạc sĩ, số người làm công tác khoa học là 3 triêu người. Ngoài ra Trung Quốc còn cử rất nhiều chuyên gia ra nước ngoài học tập, chính vì vậy đã nâng cao tay nghề cho người lao động ở những ngành sản
xuất mới, đòi hỏi hàm lượng khoa học kĩ thuật cao như công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin, nguyên tử, hóa dầu…Trình độ cao của đội ngủ lao động là yếu tố quan trọng gớp phần đáng kể để phát triển nền công, nông nghiệp đa dạng hiện đại của nền kinh tế tri thức
Trường đại học dt trung ương TQ
ĐH giao thông – Thượng Hải
ĐH Thanh Hoa
3. Khoa học kỹ thuật:
Những năm gần đây TQ thực thi chiến lược chấn hưng đất nước bằng khoa học kỹ thuật. Tăng thêm đầu tư đối với nghiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật.
Năm 2003, kinh phí của toàn xã hội TQ dùng vào việc nghiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật đã vượt quá 150 tỉ nhân dân tệ, chiếm 1,35% tổng sản phẩm quốc nội
Các lĩnh vực khoa học kỹ thuật chú trọng phát triển nghiên cứu cơ sở, nghiên cứu phát triển công nghệ cao, lĩnh vực nông nghiệp, phát triển công nghiệp công nghệ cao cùng kỹ thuật hàng không vũ trụ, quốc phòng v,v.
Hiện nay, TQ đã mở 53 khu phát triển công nghệ cao cao tầm quốc gia.
Hàng không vũ trụ bắt đầu thực hiện vào năm 1992 đến 1999 phóng và thu hồi thành công tàu vũ trụ Thần Châu 1.
Năm 2006 phóng tàu Hằng Nga 1 lên mặt trăng với mục đích thăm dò.
Các hình ảnh về cơ sở hạ tầng:
Thành Dương
Ma Cao
Thượng Hải
Tòa nhà REN
HIỆN TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Qúa trình phát triển kinh tế
Trước
CM
1949
Nước
CHNDTH
Thành lập
1978
Tiến hành
hiện đại hóa
1997
Cuộc khủng
Hoảng tài
Chính châu Á
2003
Gia nhập
WTO
2008
Khủng hoảng
Kinh tế
Toàn cầu
Hiện nay
Trước cách mạng, TQ là nước phong kiến, nữa thuộc địa. Nông nghiệp lạc hậu, chiếm địa vị chủ yếu trong nền kinh tế. Công nghiệp nhỏ bé. Cơ cấu bất hợp lí (chủ yếu là công nghiệp nhẹ) và tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc.
Sau cách mạng đến trước hiện đại hóa (1949-1978) nền kinh tế bị nhiều xáo trộn lớn. Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, nước CHDN Trung Hoa thành lập và xây dựng mô hình XHCN.
Song thực tế gần 30 năm, đất nước trải qua nhiều thăng trầm bởi những kế hoạch phiêu lưu, nóng vội của “đại nhảy vọt” và “cách mạng văn hóa vô sản”. Cuộc cách mạng này đã ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội. Sản xuất ở tất cả các ngành đều giảm sút. Đời sống vật chất thiếu thốn,
đời sống tinh thần ngột ngạt do những biến động chính trị mạnh mẽ.
Từ năm 1978 - 1997, TQ thực hiện chiến lược hiện đại hóa đất nước.
Đường lối phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc được xác định bằng 4 hiện đại hóa với 3 bước chiến lược nhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội. Trong hai thập kỷ qua nhờ đường lối cải cách, Trung Quốc đã thu được các thành tựu đáng kể, nền kinh tế thay đổi mạnh mẽ, chất lượng cuộc sống người dân tăng lên rõ rệt.
+ Kết quả hiện đại hóa công nghiệp của Trung Quốc:
Cơ cấu ngành công nghiệp: có sự thay đổi lớn ngày càng đa dạng hơn.
Giai đoạn đầu: ưu tiên phát triển công nghiệp nhẹ.
Kế tiếp: phát triển các ngành công nghiệp truyền thống.
Từ 1994, tập trung chủ yếu vào 5 ngành: chế tạo máy, điện tử, hóa dầu, sản xuất ôtô, xây dựng.
Phân bố công nghiệp: ngày càng hợp lý hơn
- Ngoài các trung tâm công nghiệp cũ được mở rộng, hiện đại hóa, TQ đã xây dựng và phát triển nhiều trung tâm công nghiệp mới ở miền Đông
Tăng cường đầu tư xây dưng, phát triển công nghiệp ở miền Tây (Lan Châu, Urumsi…)
Phát triển công nghiệp nông thôn
Sản lượng công nghiệp tăng nhanh, TQ có vị trí cao trên thế giới về nhiều sản phẩm công nghiệp.
Xếp thứ nhất thế giới về: than, thép, ximăng, phân đạm.
Xếp thứ hai thế giới về điện.
Sản phẩm công nghiệp ngày càng có sức cạnh tranh mạnh hơn, đặc biệt là sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
+ Nguyên nhân:
Điều kiện sản xuất công nghiệp được cải thiện:
Cơ chế thị trường được thiết lập, các nhà máy được chủ động hơn trong việc lập kế hoạch sản xuất và tìm thị trường tiêu thụ.
Hiện đại hóa trang thiết bị ứng dụng thành tựu KHKT, công nghệ mới vào sản xuất.
Thực hiện chính sách mở cửa, thành lập các đặc khu kinh tế thu hút vốn, kĩ thuật và công nghệ của các nước phát triển.
Phát triển công gnhiệp có trong điểm, đầu tư tập trung nên đạt hiệu quả cao.
Đội ngũ lao động đông, năng động.
Đáng chú ý nhất là năm 1997 cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nhiều nước trong khu vực có mức tăng trưởng âm nhưng đồng nhân dân tệ không bị mất giá. Tốc độ tăng trưởng cao, ổn định suốt hơn ba thập kỉ từ 8 đến 10%/năm.TQ đang vững bước vào thế kỉ 21, xây dưng đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc, đẩy mạnh cải cách, mở cửa để xây dựng một nước Trung Hoa giàu mạnh, đưa TQ vào giai đoạn phát triển mới trở thành một nước phát triển vào giữa thế kỉ 21 mà Đảng cộng sản TQ lần thứ 16 đã đề ra.Quyết tâm x
 







Các ý kiến mới nhất