Bài 18. Ông đồ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần thị tâm
Ngày gửi: 16h:37' 18-09-2021
Dung lượng: 57.9 KB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Trần thị tâm
Ngày gửi: 16h:37' 18-09-2021
Dung lượng: 57.9 KB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
ÔN TẬP VĂN BẢN: ÔNG ĐỒ
KTBC
Đọc thuộc lòng bài thơ “ Ông đồ”?
ÔN TẬP VĂN BẢN: ÔNG ĐỒ
*Bố cục
Bài thơ được chia làm 3 phần
Phần 1: Khổ 1, 2: Hình ảnh ông đồ xưa.
Phần 2: Khổ 3,4: Hình ảnh ông đồ thời suy tàn.
Phần 3: Khổ 5: Nỗi niềm của tác giả.
ÔN TẬP VĂN BẢN: ÔNG ĐỒ
* Giá trị nội dung
Bài thơ Ông đồ với hình cảnh đáng thương của ông đồ thời vắng bóng, thể hiện sâu sắc niềm cảm thương và nỗi nhớ tiếc của tác giả đối với cảnh cũ người xưa gắn liền với một nét đẹp văn hóa cổ truyền.
* Những đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Ông đồ
Bài thơ sử dụng thể thơ 5 chữ, kết hợp với ngôn ngữ bình dị và súc tích. Giọng thơ trầm lắng, ngậm ngùi đã toát lên những tâm tư, tình cảm của tác giả trước tình cảnh đáng thương của tác giả trước sự tàn lụi của lớp người từng được đề cao và trân trọng như ông đồ.
Bài thơ có kết cấu độc đáo, đầu cưới tương ứng. Mở đầu bài thơ là “Mỗi năm hoa đào nở - Lại thấy ông đồ già”, kết thúc bài thơ là “Năm nay hoa đào lại nở - Không thấy ông đồ xưa”. Kết cấu này chặt chẽ, tương phản rõ nét, làm nổi bật chủ đề của bài thơ, từ đó khơi gợi cảm xúc trong lòng người đọc về một văn hóa truyền thống giờ đây đã bị thay đổi. Quá trình tàn tạ, suy sụp của nền nho học.
Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa với sự chọn lọc hình ảnh để làm nổi bật tâm tư, cảm xúc của mình: giấy đỏ, mực nghiên – vốn là những đồ dùng gắn bó thân thiết với ông đồ, mà nay cũng “buồn”, “sầu” trước sự đổi thay của thời thế.
ÔN TẬP VĂN BẢN: ÔNG ĐỒ
* Giới thiệu về tác giả Vũ Đình Liên :
Phong trào Thơ mới ra đời đã thu hút sự quan tâm và chú ý của nhiều thi nhân. Mỗi người đến với văn đàn đã góp một tiếng nói riêng để làm nên bức tranh thi ca đầy màu sắc cho phong trào văn học lúc bấy giờ. Vũ Đình Liên là một trong những nhà thơ lớp đầu tiên của phong trào Thơ mới. Ông là nhà thơ sinh năm 1913 và mất năm 1996, quê gốc ở Hải Dương. Dù là nhà thơ của phong trào thơ Mới, có nhiều cách tân trong sáng tác nhưng ông là nhà thơ mang nặng lòng thương người và niềm hoài cổ. Những bài thơ hiếm hoi được biết đến của ông đều mang nặng nỗi niềm hoài cổ, về luỹ tre xưa, về thành quách cũ và "những người muôn năm cũ". Ngoài sáng tác, Vũ Đình Liên còn nghiên cứu, dịch thuật và giảng dạy văn học.
ÔN TẬP VĂN BẢN: ÔNG ĐỒ
*Giới thiệu bài thơ Ông đồ:
Tuy sáng tác không nhiều nhưng với bài thơ Ông đồ, tác giả đã có vị trí xứng đáng trong phong trào Thơ mới. Bài thơ được sáng tác trong bối cảnh những năm đầu thế kỉ XX, nền Hán học và chữ nho ngày càng mất vị thế quan trọng trong đời sống văn hóa Việt Nam. Chế độ khoa cử phong kiến bị bãi bỏ và các nhà nho, từ chỗ là nhân vật trung tâm của đời sống văn hoá dân tộc, được xã hội tôn vinh, bỗng trở nên lạc bước trong thời đại mới, bị cuộc đời bỏ quên và cuối cùng là vắng bóng. Bài thơ đã thể hiện sâu sắc niềm cảm thương chân thành trước một lớp người đang tàn tạ và nỗi tiếc nhớ cảnh cũ người xưa của nhà thơ. Ấn tượng với bài thơ còn là những tinh tế trong việc chắt lọc, khéo léo sử dụng ngôn từ và hình ảnh của tác giả, đã góp phần gợi cảm xúc và tâm tư trong người đọc.
Bài thơ là tiếng lòng của một tri thức Tây học trẻ tuổi nhìn về quá khứ khi Nho học đi đến hồi kết . Đó cũng là cái nhìn nhân hậu với quá khứ và với những giá trị truyền thống của dân tộc dần bị xao lãng. Vì thế mà tiếng lòng ấy đã tìm được tiếng nói tri âm trong lòng khán giả như hai nhà nghiên cứu và phê bình Hoài Thanh, Hoài Chân đã đánh giá đây là “bài thơ kiệt tác”.
ÔN TẬP VĂN BẢN: ÔNG ĐỒ
Bài tập: xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ ấy trong 2 câu thơ:
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
ÔN TẬP VĂN BẢN: ÔNG ĐỒ
Trong hai câu thơ trên, tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa, dùng từ ngữ chỉ tình cảm, cảm xúc của con người cho những đồ vật giấy, mực, nghiên.
Giấy đỏ là thứ giấy dùng để ông đồ viết chữ lên, đó là 1 thứ giấy rất mỏng manh chỉ cần 1 chút ẩm ướt cũng có thể phai màu. Vậy mà "Giấy đỏ buồn không thắm" - không thắm bởi lâu nay không được dùng đến nên phôi pha úa tàn theo năm tháng. Mực cũng vậy - đó là thứ mực đen thẫm để ông đồ viết chữ, trước khi dùng thì ta phải mài mực rồi dùng bút lông họa lên những nét chữ. Nhưng nay "Mực đọng trong nghiên sầu" nghĩa là mực đã được mài từ lâu, đã sẵn sàng cho bàn tay tài hoa của ông để trổ tài đã đợi chờ trong vô vọng. Các từ buồn, sầu như thổi hồn vào sự vật cùng với phép nhân hóa đã khiến cho giấy đỏ, mực tàu vốn vô tri bỗng trở nên có hồn có suy nghĩ như con người. Nỗi buồn của con người tài hoa ấy thấm cả vào những đồ dùng mưu sinh hằng ngày.
 







Các ý kiến mới nhất