Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

phương phap day học tiếng việt

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mông Thị Thủy (trang riêng)
Ngày gửi: 06h:41' 06-09-2013
Dung lượng: 189.5 KB
Số lượt tải: 69
Số lượt thích: 0 người
Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Bao gồm các nội dung:
III.Các nguyên tắc,phương pháp,thủ pháp dạy học tiếng Việt
1.Nguyên tắc dạy học tiếng Việt.
2.Phương pháp dạy học tiếng Việt.
3.Một số thủ pháp thường được sử dụng trong dạy học tiếng Việt.
4.Các hình thức thể hiện phương pháp.
1.Nguyên tắc dạy học tiếng Việt
.Khái niệm về nguyên tắc dạy học tiếng Việt:Là những quan điểm cơ bản xác định nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức hoạt động học và dạy tiếng Việt trong nhà trường.

Bao gồm những nguyên tắc cơ bản sau
a.Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy.
-Ngôn ngữ và tư duy luôn gắn bó mật thiết với nhau ,hai mặt này luôn luôn đi với nhau,tạo điều kiện cho nhau cũng phát triển trong một chủ đề nhận thức.Nhưng cũng cần phải chú ý một số mặt sau:
+Với tư cách là một phương tiện tư duy,các đơn vị ngôn ngữ đều phải chứa đựng một "nội dung tinh thần"nào đấy.Vì vậy mà phải giúp học sinh bản chất của ý nghĩa đó.
VD:"Từ "phải gắn liền với khái niệm,"Câu" gắn liền với phán đoán,"Đoạn" gắn liền với suy lí trong tư duy con người.

+ Chỉ yêu cầu học sinh nói hoặc viết những gì mà các em đã hiểu,đã biết.Muốn vậy,khi lấy các đề tài cho các đoạn văn hoặc bài văn mà các e viết phải là những đề tài gần gũi trong cuộc sống cũn như trong học tập.
+Phải thường xuyên ứng dụng các thao tác tư duy loogic,mối người giáo viên phải biết cách tổ chức cho các em tiến hành các thao tác phân tích,tổng hợp,khái quát hoá,trừu tượng hoá...Qua đó sẽ rèn luyện cho các em các thao tác tư duy khoa học.
b.Nguyên tắc giao tiếp.
- Là hoạt động hàng ngày không thể thiếu của con người,chỉ thông qua giao tiếp mà con người có thể hiểu và cảm thông cho nhau cùng nhau thống nhất các hành động ý chí.Trong quá trình tổ chức dạy học theo nguyên tắc giao tiếp cần chú ý một số đặc điểm sau:
+ Đặt các đơn vị của hệ thống tiếng Việt vào hệ thống hành chức của nó .
VD: Khi giải thích cho học sinh khái niệm về "Từ" , từ là đơn vị có sẵn mỗi từ có thể nhiều nghĩa và nghĩa của nó rất trừu tượng và khái quát. Từ được sử dụng trong hoàn cảnh giao tiếp nhất định sẽ mất đi tính đa nghĩa của chúng.Các đơn vị ngữ chính phụ,câu cũng có đặc điểm như vậy.Vì vậy khi thực hiện giảng dạy không được tách từ,câu và các đơn vị khác một cách biệt lập mà phải quan sát chúng ở các đơn vị lớn hơn.
+Hoạt động giao tiếp vừa là mục đích vừa là phương tiện của quá trình dạy học tiếng Việt.Học tiếng Việt,học sinh không chỉ nghiên cứu,phát hiên ra các đặc điểm của nó mà phải biết sử dụng nó như một phương tiện giao tiếp và tư duy.Vì hoạt động giao tiếp thường là hoạt động "nói" nên người giáo viên phải biết cách tạo ra các tình huống giao tiếp phù hợp kích thích học sinh.
+Cần lựa chọn, sắp xếp tri thức sao cho phù hợp với hoạt động giao tiếp, người giáo viên cần phải biết cách trình bày hệ thống các tri thức sao cho phù hợp với hệ thống ngôn ngữ,vừa rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh.
C.Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh.

-Trong khi học tập các môn học khác,học sinh thường tiếp xúc với một hiện tượng hoàn toàn mới lạ,thì trái lại với môn tiếng Việt học sinh lại tiếp xúc với hiện tượng vô cùng quen thuộc,gắn bó với cuộc sống hàng ngày của mình.
.Ở tiểu học sinh đã được làm quen với tiếng Việt và sử dụng nó nhờ người lớn và bạn bè.
.Đến lứa tuổi THCS những năng lực tự nhiên đó đã hoàn thiện và được ý thức hoá.Đây chính là lợi thế cho người giáo viên phát huy năng lực sẵn có của các em trong việc tổ chức dạy học tiếng Việt.
-Chú ý tới trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh là phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ dạy tiếng.
-Phương pháp này đòi hỏi các nhà giáo cần phải điều tra nắm vững khả năng ngôn ngữ của từng học sinh,từng độ tuổi,từng địa phương để từ đó xác định nội dung và phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp.Thậm chí giáo viên còn phải nắm vững từng trình độ của học sinh để lập kế hoạch học tập cụ thể cho từng lớp,từng em một.
2.Phương pháp dạy học tiếng Việt
Khái niệm:Là cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững kiến thức kĩ năng,kĩ xảo,hình thành thế giới quan và phát triển năng lực của mình.Nó bao gồm hai phương diện sau đây:
+Là học thuyết về phương pháp khoa học nói chung,tức là khoa học về phương pháp,về các phương pháp nghiên cứu.Nói cách khác nó dựa vào ý nghĩa phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Leenin.
+Là sự tổng hợp những cách thức,những phương pháp tìm tòi trong một ngành khoa học nào đó
*Một số cách tiếp cận khác nhau đối với việc xây dựng hệ thống phương pháp dạy học tiếng:
+Bình diện khác nhau của phương pháp dạy học:Được phân loại cụ thể như sau:
Phân lại theo chức năng điều hành quá trình dạy học:vào bài,dạy học bài mới,củng cố,hướng dẫn học sinh học bài ở nhà.
Phân tích theo con đường nhận thức và đăch trưng của hoạt động tư duy:suy diễn,so sánh,phân tích và tổng hợp,trừu tượng hoá,khái quát hoá
Phân loại theo hình thức tổ chức dạy học:dạy học theo lớp,theo nhóm,theo cặp hay dạy học sinh lớp chuyên,lớp chọn,dạy nhóm học sinh yếu kém.
Phân loại theo nội dung tri thức:giải thích-minh hoạ,tái hiện,nghiên cứu,trình bày nêu vấn đề,tìm kiếm bộ phận.
*Một số phương pháp dạy tiếng thường được nói tới:
+.A.V.Cheecuchép đề xuất các phương pháp:lời thầy giáo,đàm thoại,diễn giảng,phân tích ngôn ngữ,bài tập.
+.L.P.Phêđêrencô chia phương pháp thành các nhóm theo quá trình dạy học một chủ điểm nào đấy:
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết ngôn ngữ:thông báo,đàm thoại,đọc sách giáo khoa.
Phương pháp thực hành lí thuyết:quan sát,phân tích,biến đổi cấu trúc,xây dựng cấu trúc.
Phương pháp thực hành:trần thuật,viết một đoạn văn,một bài văn
+Nhiều tác giả chỉ nghiên cứu và phân loại phương pháp theo từng phân môn:phương pháp dạy học ngữ âm,phương pháp dạy học từ ngữ,phương pháp dạy học ngữ pháp,phương pháp dạy học phong cách,phương pháp dạy học làm văn...
*Phương pháp dạy học tiếng thường được sử dụng.
- Phương pháp thông báo-giải thích:bản chất của phương pháp này là thầy giáo dùng lời nói của mình để giải thích,minh hoạ các tri thức mới,còn học sinh tập chung chú ý lắng nghe,suy nghĩ và tiếp nhận những tri thức đó.
Phương pháp thông báo-giải thích có thể áp dụng để dạy học tri thức lí thuyết mới,cũng có thể giới thiệu phương thức hoạt động mẫu.Tuy nhiên không nên lạm dụng phương pháp này tới mức biến học sinh thành đối tượng thụ động,biến giờ học thành giờ diễn thuyết,độc thoại của thầy giáo.Tránh tình trạng này chỉ nên sử dụng giới thiệu chủ điểm của một số bài học(VD:bài tập về nhà).
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ:Viện sĩ A.V Cheecuchep đã định nghĩa phương pháp phân tích ngôn ngữ là phương pháp"học sinh dưới sự chỉ dẫn của thầy giáo vạch ra những hiện tượng ngôn ngữ nhất định từ các tài liệu ngôn ngữ cho trước,quy các hiện tượng đó vào một pham trù nhất định và chỉ rõ những đặc trưng của chúng".Thực chất của phương pháp này là tư việc quan sát các hiện tượng ngôn ngữ theo các chủ dề nhất định và tìm ra những dấu hiệu đặc trưng của các hiện tượng ấy.Và được chia ra tuỳ theo các đối tượng để phân tích: phân tích ngữ âm,phân tích từ vựng,phân tích ngữ pháp,phân tích ngữ nghĩa,phân tích phong cách...
Dù ở kiểu nào đều phải tiến hành các thao tác cơ bản sau:
+ Phân tích- phát hiện:Trên cơ sở các tài liệu mẫu thầy giáo sử dụng các câu hỏi định hướng để học sinh quan sát,so sánh đối chiếu tìm ra các nét đặc trưng cơ bản của khái niệm và quy tắc mới.
VD:Khi hình thành những khái niệm cơ bản người giáo viên có thể đưa ra những ví dụ,dẫn chứng cụ thể giúp học sinh hiểu được những đặc điểm cơ bản nhất,để từ đó rút ra các khái niệm.
+ Phân tích - chứng minh: Sau khi đã sơ bộ hình thành được tri thức mới,học sinh cần củng cố và khắc sâu chúng từ đó hình thành các kĩ năng cụ thể.
+ Phân tích - phán đoán: Nhờ vào phân tích- chứng minh mà học sinh hình thành các kĩ năng cơ bản và thầy giáo kiểm tra được kiến thức của các em.nhưng phương pháp n làm mất khá nhiều thời gian
Phân tích-phán đoán không yêu cầu học sinh tái hiện các định nghĩa,quy tắc mà cần phải nhận diện ngay các hiện tượng ngôn ngữ.để đạt hiệu quả chắc chắn,thao tác này chỉ được áp dụng khi thao tác phân tích-chứng minh đã thành thạo.
+Phân tích- tổng hợp:Đây là bước cao nhất ,bước cuối cùng của quá trình phân tích cần hướng tới.
- Phương pháp rèn luyện theo mẫu:
Là phương pháp mà thầy giáo chọn và giới thiệu các mẫu hoạt động ngôn ngữ rồi hướng dẫn học sinh phân tích để hiểu và nắm vững cơ chế của chúng và bắt trước mẫu đó một cách sáng tạo theo suy nghĩ của mình.
Phương pháp này có thể được tiến hành nhờ các bước sau:
+ Cung cấp lời nói hoặc hành động lời nói.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích theo một số yêu cầu.
+ Học sinh mô phỏng để tạo ra lời nói của mình.
+ Kiểm tra,đánh giá,rút kinh nghiệm.
- Phương pháp giao tiếp:
Là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp,có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp
Phương pháp giao tiếp trở thành phương pháp chủ yếu phát triển lời nói cho học sinh,khi sử dụng vào môn tập làm văn phải chú ý các bước sau đây :
+ Giáo viên tạo tình huống,cung cấp các nhân tố giao tiếp thông qua một đề làm văn cụ thể.
+ Học sinh định hướng bài viết thông qua việc tìm hiểu đề.
+ Học sinh cần tiến hành tìm,chọn ý ,lập bố cục bài.sau đó triển khai thành bài văn cụ thể.
+ Giáo viên SSchấm và trả bài.
3. Một số thủ pháp thường được sử dụng trong dạy học Tiếng việt.
* Phân tích và tổng hợp:
- Phân tích là tách các hiện tượng nào đó ra khỏi bộ phận cấu thành có thế xem xét chúng ở tất cả mọi mặt,lí giải chúng một cách chọn vẹn.
-Tổng hợp là thao tác tư duy nhằm phát hiện các mối liên hệ giữa các mặt,các bộ phận của hiện tượng để từ đó hình dung ra cả chỉnh thể sự vật hiện tượng
=>Hai yếu tố này luôn đi kèm với nhau,giúp cho con người nhận thức được toàn diện tất cả mọi vấn đề mà chúng hướng tới
* So sánh đối chiếu:
-Là thao tác tư duy để phân biệt hiện tượng,khái niệm với các hiện tượng,khái niệm khác.

* Khái quát hoá:
-Được sử dụng trong rất nhiều trong các phương pháp như thông báo-giải thích và phương pháp phân tích ngôn ngữ.Muốn đạt hiệu quả tin cậy với phương pháp này giáo viên cần phải chọn các mẫu lời nói điển hình với một số lượng cần thiết.
* Quy loại và phân loại:
-Việc chia các hiện tượng ngôn ngữ thành các nhóm dựa vào sự giống và khác nhau được gọi là phân loại.
-Việc đưa các hiện tượng ngôn ngữ vào các nhóm thích hợp là sự quy loại.
Hai thủ pháp này thường được dùng với phương pháp thông báo-giải thích,phương pháp phân tích ngôn ngữ trong giờ lí thuyết,đặc biệt là trong các giờ thực hành.
*Tạo tình huống có vấn đề:
-Để tăng tính chủ động,tích cực tư duy cần phải tăng cường hoạt động nhận thức của học sinh.quá trình đó được tạo ra những tri thức mới.Việc tạo tình huống như vậy được gọi là tạo tình huống có vấn đề.
4.Các hình thức thể hiện của phương pháp.
* Hình thức diễn giảng:Là hình thức giáo viên dùng lời nói độc thoại để giải thích,chứng minh các sự kiện ngôn ngữ,từ đó học sinh nắm được các khái niệm và quy tắc sử dụng ngôn ngữ.
Nhưng dù trong hoàn cảnh nào khi diễn giảng phải đảm bảo một số yêu cầu:
- Tính khoa học và chính xác.
-Ngôn ngữ diễn giảng phải đảm bảo:đúng chuẩn,trong sáng,bảo đảm tính giáo dục,âm thanh,nhịp điệu...
-Thái độ cử chỉ của giáo viên phải mẫu mực, tránh phô trương,sáo rỗng hoặc gắt gỏng học sinh.
* Hình tức đàm thoại: là hình thức trao đổi giữa thầy giáo và học sinh,trong đó thầy nêu ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt gắn bó loogic với nhau để học sinh quan sát,suy nghĩ rút ra kiến thức cần thiết.
Trong khi tiến hành đàm thoại cần lưu ý một số yêu cầu sau:
- Học sinh phải có ý trong giờ đàm thoại.
- Chủ đề đàm thoại phải là hệ thống những vấn đề được lựa chọn và sắp xếp hợp lí nhằm hướng tới nội dung bài học.
- Đảm bảo tính lôi cuốn cho học sinh.
* Hình thức đọc sách giáo khoa:
Đây là tài liệu học tập chủ yếu của học sinh,thầy giáo và học sinh cần biết sử dụng có hiệu quả phương tiện học tập này.
* Hình thức làm bài tập tiếng Việt:
Là một đơn vị nội dung định hướng cho việc dạy học tiếng Việt.thông qua việc hướng dẫn học sinh làm bài tập người giáo viên giúp cho học sinh củng cố thêm kiến thức cảu mình.
 
Gửi ý kiến