sự khác nhau giữa thuyết địa máng và thuyết kiến tạo
mảng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Linh Chi
Ngày gửi: 20h:34' 24-03-2013
Dung lượng: 286.5 KB
Số lượt tải: 62
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Linh Chi
Ngày gửi: 20h:34' 24-03-2013
Dung lượng: 286.5 KB
Số lượt tải: 62
Số lượt thích:
0 người
So sánh thuyết địa máng và thuyết kiến tạo mảng
Sự giống nhau:
Đều giải thích sự vận động và nguồn gốc bộ mặt Trái Đất.
Sự khác nhau:
Tác giả
Quan điểm
Quá trình vận động
Hướng dịch chuyển
Động lực
Đơn vị kiến tạo chính
Tác giả:
A.Wegener (1880 – 1930)
J.Hall (1849)
T. Dana (1873)
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
Quan điểm:
Thuộc nhóm thuyết tĩnh. Lục địa luôn cố định, chuyển động theo phương thẳng đứng và chia kiến trúc vỏ Trái Đất thành địa máng và nền bằng.
Thuộc nhóm thuyết động.Lục địa không cố định, không chỉ chuyển động theo phương thẳng đứng mà có cả chuyển động theo phương nằm ngang và chia bề mặt Trái đất ra làm 7 mảng lớn: mảng Âu – Á, mảng Thái Bình Dương, mảng Bắc Mỹ, mảng Nam Mỹ, mảng Phi, mảng Ấn Độ, mảng Nam Cực, ngoài ra còn có một số mảng nhỏ.
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
Quá trình vận động:
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
- Hoạt động sụt lún mạnh, hình thành các khu biển sâu kéo dài hàng trăm km, bề rộng không lớn. Tốc độ sụt lún gần bằng tốc độ trầm tích với bề dày lớn. Giai đoạn đầu tốc độ sụt lớn lớn hơn tốc độ trầm tích
- Hoạt động đứt gãy và hoạt động macma phát triển, giai đoạn đầu sản phẩm phun trào xen kẽ với trầm tích biển, giai đoạn cuối là magma xân nhập hình thành các thể
- Các đá trầm tích bị uốn nếp mạnh, phức tạp, nhiều đứt gãy làm đảo lộn thế nằm của đá.
- Đá biến chất phát triển với trình độ biến chất cao.
- Phân bố dọc theo rìa giữa lục địa và đại dương.
- Khi hai mảng rời khỏi nhau sẽ tạo ra vết nứt lớn, các dung nham trong quyển mềm sẽ trào lên thành dãy núi nằm dọc theo vết đứt – đó là dãy núi ngầm giữa đại dương.
- Khi hai mảng tiến sát, va đập vào nhau, chúng sẽ dồn và làm uốn nếp các lớp đá lên khỏi mặt đất, tạo ra các dãy núi uốn nếp.
- Khi hai mảng đại dương chuyến động tiến sát vào mảng lục dịa, nó sẽ chui xuống mảng lục địa, nâng rìa lục địa lên và uốn nếp các lớp đá trầm tích ở đáy đại dương thành núi, sự dịch chuyển này thường kèm theo các trận động đất. Ngoài ra quá trình cuốn hút xuống dưới sâu hàng trăm kilomet cò tạo ra sự ma sát mạnh nên làm nóng chảy các đá. Lớp dung nham nóng chảy này có áp suất cao sẽ thoát lên bề mặt Trái đất qua các vết nứt của mảng nền bên trên tạo ra các ngọn núi lửa.
- Nếu hai mảng gặp nhau rồi chuyển dịch ngang sẽ tạo ra vết nứt lớn của vỏ Trái đất
Hướng dịch chuyển:
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
- Hoạt động đối lưu của quyển manti
- Chuyển động theo phương thẳng đứng và phương nằm ngang
Động lực:
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
- Trọng lượng
- Chuyển động theo phương thẳng đứng
Đơn vị kiến tạo chính:
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
- Địa máng và nền
- Bộ phận địa mảng và bộ phận đại dương
Sự giống nhau:
Đều giải thích sự vận động và nguồn gốc bộ mặt Trái Đất.
Sự khác nhau:
Tác giả
Quan điểm
Quá trình vận động
Hướng dịch chuyển
Động lực
Đơn vị kiến tạo chính
Tác giả:
A.Wegener (1880 – 1930)
J.Hall (1849)
T. Dana (1873)
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
Quan điểm:
Thuộc nhóm thuyết tĩnh. Lục địa luôn cố định, chuyển động theo phương thẳng đứng và chia kiến trúc vỏ Trái Đất thành địa máng và nền bằng.
Thuộc nhóm thuyết động.Lục địa không cố định, không chỉ chuyển động theo phương thẳng đứng mà có cả chuyển động theo phương nằm ngang và chia bề mặt Trái đất ra làm 7 mảng lớn: mảng Âu – Á, mảng Thái Bình Dương, mảng Bắc Mỹ, mảng Nam Mỹ, mảng Phi, mảng Ấn Độ, mảng Nam Cực, ngoài ra còn có một số mảng nhỏ.
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
Quá trình vận động:
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
- Hoạt động sụt lún mạnh, hình thành các khu biển sâu kéo dài hàng trăm km, bề rộng không lớn. Tốc độ sụt lún gần bằng tốc độ trầm tích với bề dày lớn. Giai đoạn đầu tốc độ sụt lớn lớn hơn tốc độ trầm tích
- Hoạt động đứt gãy và hoạt động macma phát triển, giai đoạn đầu sản phẩm phun trào xen kẽ với trầm tích biển, giai đoạn cuối là magma xân nhập hình thành các thể
- Các đá trầm tích bị uốn nếp mạnh, phức tạp, nhiều đứt gãy làm đảo lộn thế nằm của đá.
- Đá biến chất phát triển với trình độ biến chất cao.
- Phân bố dọc theo rìa giữa lục địa và đại dương.
- Khi hai mảng rời khỏi nhau sẽ tạo ra vết nứt lớn, các dung nham trong quyển mềm sẽ trào lên thành dãy núi nằm dọc theo vết đứt – đó là dãy núi ngầm giữa đại dương.
- Khi hai mảng tiến sát, va đập vào nhau, chúng sẽ dồn và làm uốn nếp các lớp đá lên khỏi mặt đất, tạo ra các dãy núi uốn nếp.
- Khi hai mảng đại dương chuyến động tiến sát vào mảng lục dịa, nó sẽ chui xuống mảng lục địa, nâng rìa lục địa lên và uốn nếp các lớp đá trầm tích ở đáy đại dương thành núi, sự dịch chuyển này thường kèm theo các trận động đất. Ngoài ra quá trình cuốn hút xuống dưới sâu hàng trăm kilomet cò tạo ra sự ma sát mạnh nên làm nóng chảy các đá. Lớp dung nham nóng chảy này có áp suất cao sẽ thoát lên bề mặt Trái đất qua các vết nứt của mảng nền bên trên tạo ra các ngọn núi lửa.
- Nếu hai mảng gặp nhau rồi chuyển dịch ngang sẽ tạo ra vết nứt lớn của vỏ Trái đất
Hướng dịch chuyển:
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
- Hoạt động đối lưu của quyển manti
- Chuyển động theo phương thẳng đứng và phương nằm ngang
Động lực:
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
- Trọng lượng
- Chuyển động theo phương thẳng đứng
Đơn vị kiến tạo chính:
Thuyết địa máng
Thuyết kiến tạo
- Địa máng và nền
- Bộ phận địa mảng và bộ phận đại dương
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Các ý kiến mới nhất