Tìm kiếm Bài giảng
tài liệu nhạc sĩ THCS

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: La La
Ngày gửi: 22h:24' 22-01-2013
Dung lượng: 20.9 MB
Số lượt tải: 208
Nguồn:
Người gửi: La La
Ngày gửi: 22h:24' 22-01-2013
Dung lượng: 20.9 MB
Số lượt tải: 208
Số lượt thích:
0 người
Đồ dùng dạy học
Bộ sưu tập âm nhạc ứng dụng giảng dạy trong trường THCS
Năm học: 2010 -2011
A/ PHẦN I:
TÀI LIỆU NHẠC SĨ VIỆT NAM
1. Nhạc sĩ Văn Cao (1923 - 1995)
Nhạc sĩ Văn Cao đã hoạt động hăng say cho cách mạng từ
trước Cách mạng Tháng Tám, người đã viết theo yêu cầu
của cách mạng một bài hát cho Trường quân chính kháng
Nhật: Bài Tiến quân ca. Tháng 11-1944, bài hát được Văn
Cao tự tay khắc in trên báo Độc lập, và khi về Hà Nội, một
hôm qua phố Mai Hắc Đế, ông nghe có người chơi đàn
măng-đô-lin bản nhạc ấy. "Tôi dừng lại và tự nhiên thấy
xúc động, có thể những người cùng khổ mà tôi đã gặp trên
bước đường cùng khổ của tôi, lúc này đang cầm súng và
đang hát" (Trích hồi ký "Tại sao tôi viết Tiến quân ca").
Ra đời bài "Tiến quân ca":
Ngày 17-8-1945, trong cuộc mít-tinh của nhân dân Hà Nội,
lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên Nhà hát lớn và vang lên
tiếng hát "Tiến quân ca", Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chọn bản nhạc ấy làm Quốc ca cho người Việt Nam mới và
sau đó đã được Quốc hội chính thức phê chuẩn. Anh vệ
quốc quân, chị cán bộ trên núi rừng Việt Bắc, các má trong
bưng biền Nam Bộ, người tù Côn Đảo, Phú Quốc, Tổng Nha,
Phú Lợi, Thừa Phủ, mỗi lần hát Quốc ca là hát lên hồn
thiêng sông núi, để đi đến hy sinh mà không tiếc thân
mình: "Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Đứng đều
lên gông xích ta đập tan".
Nhắc đến Văn Cao là nhắc đến Tiến quân ca hùng tráng và
bất diệt. Con người nhỏ nhẹ hiền từ ấy chứa trong hồn
mình khát vọng và tâm huyết của cả một dân tộc nô lệ
đang sắp sửa vùng lên. Nửa thế kỷ đã qua, đến hôm nay
mỗi khi nghe khúc nhạc ấy vang lên, ta lại thầm cảm ơn
Văn Cao, người đã viết cho dân tộc khúc ca hùng tráng ấy.
Sự nghiệp sáng tác:
Văn Cao sinh ngày 15-11-1923. Vào năm 1939, 16 tuổi,
ông viết Buồn tàn thu rồi sau đó là Thiên thai (1941), Bến
xuân (1942), Cung đàn xưa (1942); Suối mơ (1943),
Trương Chi (1943). Một dòng suối nhạc tình trào tuôn từ
trái tim của chàng trai rất nhát gái, chưa hề được yêu, chưa
hề được nắm tay một người con gái nào (Tâm sự của ông trong phỏng vấn ngày 28-7-1993)). Đó có lẽ cũng là một lối
thoát ra khỏi những bế tắc của một thanh niên mất nước
nhưng đầy khát vọng
Văn Cao, con người mơ mộng ấy thả hồn mình bay xa thực
tại khi làm bài hát: Hải quân Việt Nam, Không quân Việt
Nam vào năm ấy. Cái tình của ông đối với quân đội, với
cách mạng, khát vọng của ông đã làm ông đi trước thực tế .Ngay trong những năm đầu kháng chiến, Văn Cao đã mơ
ngày quân ta tiến về Hà Nội. Phải 5-6 năm sau, điều mơ
ước ấy mới trở thành hiện thực.
đến vài chục năm.
Năm đó là năm 1947, Văn Cao mới 24 tuổi. Sông Lô là một
trường ca của nhạc, của thơ và của sắc mầu hội họa. Sông
Lô là một thể nghiệm thành công về một nhạc cảnh mà hơi
nhạc, như ông đã tự nhận, có ảnh hưởng chất hùng tráng
của nhạc Bethoven. Sông Lô đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt
Nam như một chiến công lớn của nghệ thuật bên cạnh
chiến công lớn của quân dân ta trong thời chống Pháp. Và
nó vĩnh viễn ở lại trong lòng người.
Tổng kết:
Văn Cao đa tài, đa cảm, ông có khát vọng muốn thành công
ở nhiều lĩnh vực: nhạc, thơ, họa. Thơ của ông từ Chiếc xe
xác đi qua phường Dạ Lạc trở về sau có nhiều nét biến đổi
mới, thể hiện một sự tìm về nội tâm. Hội họa của ông, đặc
biệt là tranh minh hoạ có phong cách riêng. Nhưng nhắc
đến Văn Cao, người ta nhắc đến nhạc. Trong nửa thế kỷ
qua, ông là nhạc sĩ lớn.
Ông ra đi, thế giới nghệ thuật của ông vẫn còn đó để nhiều
thế hệ còn đắm say, còn tiếp tục yêu ông, một tình yêu
sáng trong, cao cả như tâm hồn và âm nhạc của ông.
2. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ( 1939 - 2001)
Tiểu sử
Tr?nh Công Sơn quê làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Ông sinh vào giờ Thìn, ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Mão tức ngày 28 tháng 2 năm 1939, tại Daklak.
Ông mất vào 12:45 trưa ngày 1 tháng 4 năm 2001, tại Sài Gòn. Ông an nghĩ tại nghĩa trang Gò Dưa chùa Quãng Bình bên cạnh mộ của thân mẫu.
Năm 1943 từ Daklak ông theo gia đình chuyển về Huế.Ông học trường tiểu học Nam giao ( nay là Trường An), vào trường Thiên Hựu. Ông tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup Laubat, Sài Gòn. Học trường sư phạm Quy Nhơn khóa I( 1962 - 1964). Sau khi tốt nghiệp ông lên dạy học và làm hiệu trưởng Tiểu học ở Bảo Lộc. Sau 1965, ông bỏ hẳn nghề dạy học, về sống và sáng tác tại Sài Gòn.
Năm 1975 Ông sống ở Huế một thời gian dài và sau đó vào ở hẳn tại Sài Gòn. Ngoài Âm nhạc, tác phẩm của ông còn ở nhiều thể loại thuộc các lãnh vựa như: Thơ, Văn và Hội họa. Ông tự học nhạc, bắt đầu sáng tác năm 1958 với tác phẩm đầu tay Ước Mi ( nhà xuất bản An phú in năm 1959). Cho đến nay nhạc sĩ đã sáng tác hơn 600 tác phẩm, có thể được phân loại dưới ba đề mục lớn: Tình yêu - Quê hương - Thân phận.
Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài "Ngủ đi con" ( trong ca khúc Da Vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly phát hành trên 2 triệu bản.
Năm 1997 , ông đoạt giải thưởng lớn của hội nhạc sĩ cho một chuổi bài hát " Xin trả nợ Người", " Sóng về đâu", " Em đi bỏ lại con đường".
Quan niệm sáng tác: " Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo..."
Các tuyển tập ca khúc nổi tiếng:
Ca khúc Trịnh Công Sơn
Tình khúc Trịnh Công Sơn
Tuổi đá buồn
Khói trời mênh mông
Ca khúc da vàng
Kinh Việt Nam
Ta phải thấy Mặt Trời
Phụ khúc da vàng
Như cánh vạc bay
Tự tình khúc
Lời đất đá cũ
Một cõi đi về
Huyền thoại mẹ
Cỏ xót xa đưa
3. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (1921 - 1989):
Tiểu sử:
Ông sinh ngày 12 tháng 9 năm 1921, quê ở Cần Thơ, Hậu Giang.(Ông còn có bút danh : Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Anh Lưu Hồng Chí).
Ông nguyên là Giáo sư, Viện trưởng Viện Âm nhạc, Chủ tịch Hội đồng Âm nhạc quốc gia, Bộ trưởng bộ thông tin - tuyên truyền vàVăn hóa trong chính phủ lâm thời Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam.
Lưu Hữu Phước là một trong những nhạc sĩ đầu đàn của giới nhạc sĩ Việt Nam, đặt biệt là một nhạc sĩ sở trường về thể loại hành khúc. Trước Cách mạng tháng 8, Bạch Đằng Giang là ca khúc nổi tiếng mở đầu cho hàng loạt bài hát yêu nước và cách mạng của ông sau này
Ông là một trong những người có nhiều tác phẩm mang tính nhân dân rõ rệt. Các nhân tố Thanh niên - Tổ quốc - Lịch sữ thấm đượm trong sáng tác của ông.
Ông là tác giảcủa những chính ca xuất sắc, có giá trị trong lịch sử như Lãnh tụ ca, Hồn tử sĩ, đặt biệt là bài Giải phóng miền Nam,kể cả bài Tiếng gọi thanh niên....
Ông vừa sáng tác âm nhạc, vừa tham gia các hoạt động chính trị xã hội, chăm sóc, tuyên truyền giáo dục âm nhạc cho thế hệ trẻ.
Với những đóng góp lớn của ông trong lịch sử âm nhạc cách mạng, ông đã được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương( trong đó có Huân chương Độc lập hạng nhất và giải thưởng Hồ Chí Minh.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Lên đàng
Xuống đường
Tiếng gọi thanh niên
Giải phóng miền Nam
Bài ca giải phóng quân
Tiến về Sài Gòn
Reo vang Bình Minh
Thiếu nhi thế giới liên hoan
4. Nhạc sĩ An Thuyên :
An Thuyên đã được đông đảo công
chúng yêu âm nhạc biết đến từ tác
phẩm đầu tay Em chọn lối này, viết
năm 1971 (khi anh tròn 21 tuổi). Rồi
đến Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác
(1974), Khi xe tăng qua miền quan họ
(1984), Huế thương (1992), Neo đậu
bến quê (1993)... Tất cả đều mang âm
hưởng dân ca ngọt ngào sâu lắng.
5. Nhạc sĩ Đổ Nhuận(1922 - 1991):
Tiểu sử
Đỗ Nhuận quê ở thôn Hoạch Trạch xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, Hải Dương. Sinh ngày 10 tháng
12 năm 1922, vào tháng 5 âm lịch, một tháng nhuận, nên ông được cha đặt cho cái tên Đỗ Nhuận.
Naêm 14 tuoåi, oâng töï hoïc aâm nhaïc daân toäc vaø bieát chôi saùo truùc, tieâu, ñaøn nguyeät, ñaøn töù, ñaøn baàu.
Năm 1939, ông đã viết bài hát đầu tiên ở tuổi 17, bài Trưng Vương nhằm ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng ở tỉnh Hải Dương
Năm 1943 khi ông bị thực dân Pháp bắt đi đày ở Sơn La, trong tù nhiều bài hát cách mạng đã được ra đời như: Chiều tù, Côn đảo, Hận Sơn La, Tiếng gọi tù nhân, Viếng mồ tử sĩ.....
Trong kháng chiến chống Pháp, với một ngôn ngữ âm nhạc độc đáo chiếm vị trí đặt biệt trong nền âm nhạc Việt Nam.
Ông là nhạc sĩ duy nhất trong thế hệ đầu của tân nhạc đi tu nghiệp đại học tại nhạc viện Tchaikovsky( Liên Xô cũ, từ năm 1960 - 1963), ông đã đi sâu vào nhạc kịch.
Đổ nhuận là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên bước tới opera với Cô Sao hoành tráng trong những ngày đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Bên cạnh những thành tựu về nhạc kịch, Đỗ Nhuận còn có những tác phẩm khí nhạc đi vào kinh điển như Vũ Khúc Tây Nguyên cho Violon và dàn nhạc....Nhưng tên tuổi ông vẫn gắn bó với những ca khúc đầy bản sắc dân tộc.
Những năm thống nhất đất nước, do tình trạng sức khỏe, ông sáng tác thưa dần. Dù vậy, ông vẫn cố gắng truyền lại những kinh nghiệm, những tâm quuyết cho thế hệ tương lai, trong đó có nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân( con trai đầu của ông), cho đến khi mất.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Áo mùa đông
Chiến thắng Điện Biên
Giải phóng Điện Biên
Hành quân xa
Trồng cây lại nhớ tới người
Việt Nam quê hương tôi
7. Nhạc sĩ Hoàng Vân (1930):
Tên khai sinh của ông là Lê Văn Ngọ, còn bút danh là Y- Na,
sinh ngày 24/7/1930. Quê ở Hà Nội. Năm 1946, ông tham gia
Ðội Thiếu niên cứu quốc Mai Hắc Ðế, là liên lạc viên tự vệ khu
Ðông Kinh Nghĩa Thục (Liên khu I) Hà Nội, rồi làm phụ trách
Thiếu sinh quân Trung đoàn 165, Sư đoàn 312, tham gia Ðội
Tuyên truyền võ trang Lao Hà, làm báo và công tác địch vận
của trung đoàn, sư đoàn, sau đó phụ trách nghệ thuật Văn công
Sư đoàn 312. Hòa bình lập lại, ông về chỉ huy dàn nhạc Ðoàn
Ca Nhạc Ðài Tiếng nói VN kiêm chỉ đạo nghệ thuật, tham gia
giảng dạy môn Sáng tác và Phối khí tại Nhạc viện Hà Nội (cho
đến năm 1989). Từ năm 1963 đến năm 1989, ông là Ủy viên
Ban chấp hành Hội nhạc sĩ VN, là Trưởng ban Sáng tác thanh
nhạc và công tác tại Hội cho đến năm 1996.
Sau hòa bình lập lại, ông được cử đi học tại Nhạc viện Bắc
Kinh (Trung Quốc). Tốt nghiệp, ông về công tác tại Ðài tiếng
nói VN, Nhạc trưởng Ðoàn ca nhạc kiêm Chỉ đạo nghệ thuật,
đồng thời đi thực tế, nắm bắt nhanh các loại đề tài trong cuộc
sống lao động và chiến đấu nên đã sáng tác hàng loạt ca khúc,
hợp xướng lớn, nhỏ, được công chúng hâm mộ.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Hò kéo pháo (1954)
Những cánh buồm (Thơ: Hoàng Trung Thông)
Nhớ (Thơ: Nguyễn Ðình Thi)
Hà Nội- Huế- Sài Gòn
Quảng Bình quê ta ơi
Nổi trống lên rừng núi ơi
Không cho chúng nó thoát
Chào anh Giải phóng quân- chào mùa xuân đại thắng
Hai chị em
Người chiến sĩ ấy
Nhạc sỹ Hoàng Vân là người sáng tác nhiều bài
hát về các ngành nhất, và trong đó bài nào cũng
được coi là truyền thống, Tôi là người thợ lò
(Ngành khai thác than), Bài ca xây dựng
(Ngành xây dựng), Bài ca người giáo viên nhân
dân (Ngành giáo dục), Hát về cây lúa hôm nay
(Ngành nông nghiệp), Vì nhân dân quên mình
(Ngành Quân đội) ... Các ca khúc khác: Bảy
sắc cầu vồng, Chim vành khuyên, Quảng bình
quê ta ơi, Tình ca Tây Nguyên, Tình yêu Hà
Nội, Tình ca vũng Tàu...
6. Nhạc sĩ Hoàng Hiệp (1931):
Ông sinh năm 1931, tên thật là Lưu Trần Nghiệp, quê quán ở An Giang.
Bắt đầu sáng tác năm 17 tuổi. Không có tác phẩm nào tiêu biểu trong thời
gian này. Phải đến gần 10 năm sau, năm 26 tuổi, khi tập kết ra Bắc, học
trường Âm Nhạc Việt Nam, mới có bài hát đánh dấu sự nghiệp sáng tác
chuyên nghiệp: "Câu hò bên bờ Hiền Lương" (Sáng tác chung với Đằng
Giao, năm 1957).
Từ năm 1955 đến 1975, sống ở Hà Nội. Hơn 100 ca khúc sáng tác cho
dòng nhạc cách mạng ra đời. Một số ca khúc có tiếng vang ngoài Câu hò
bên bờ Hiền Lương, có Cô gái vót chông, Ngọn đèn đứng gác, Đất quê ta
mênh mông, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Lá Đỏ.
Sau năm 1975, Nhạc sĩ Hoàng Hiệp vào thành phố Hồ Chí Minh, đây là
thời kỳ viết nhiều của ông. Lúc này tư duy sáng tác đang độ chín, đa
dạng, ngoài ca khúc nhạc phim, sân khấu, múa, nói chung là khí nhạc,
khoảng trên 100 tác phẩm, còn ca khúc con số lên tới vài ba trăm. Ca
khúc giai đoạn này chia làm hai hướng. Hướng kế thừa truyền thống cách
mạng 20 năm trước như: Viếng Lăng Bác, Nhớ về Hà Nội, Sao anh
không kể, Tổ Quốc mà không có, Đồng Nội, Khúc thơ tình cho người
lính biển, Thành phố tôi yêu, Hoa Hồng, Trở về dòng sông tuổi thơ... Đó
là những bài hát về quê hương, đất nước, đây cũng là một trong hai đề tài
chủ đạo của ông. Chủ đề thứ hai trong thời gian này là chủ đề lãng mạn,
nói về tình yêu đôi lứa với Con đường có lá me bay sáng tác năm 1977,
sau đó là Mùa chim én bay, Em vẫn đợi anh về, Nơi anh gặp em, Về phía
ấy tình yêu, rồi sau nữa có Đánh mất, Chiều ấy...
Ông có tài phổ thơ. Thơ
với nhạc của ông là một cuộc hôn nhân rất thành công. Hơn 70% lời nhạc
trở thành nổi tiếng được phổ từ thơ. "Ông có thể làm lời rất hay, như Nhớ
về Hà Nội?", Ông nói:"Tôi đã gặp những bài thơ khi đang nuôi nguồn
cảm xúc về đề tài nào đó", sự gặp gỡ đó là định mệnh cho hôn nhân thơ
và nhạc. Ông không nghĩ gì nữa và phổ ngay, những Trường Sơn Đông-
Trường Sơn Tây, Lá Đỏ là như thế. Những cuộc hôn nhân không vụ lợi.
Chính vì thế mà ông có một Trở về dòng sông tuổi thơ gần đây, xao
xuyến đánh thức tình yêu quê hương và tuổi thơ của bao thế hệ.
8. Nhạc sĩ Huy Du:
Nhạc sĩ Huy Du đã ngoài 70 nhưng vẫn còn sức sáng tác, nhạc Huy Du sẽ còn
đi mãi trên dặm dài đất nước. Âm nhạc - nhất là ca khúc - của ông có một vị trí
lớn trong lịch sử âm nhạc cách mạng VN, rất xứng đáng được trao tặng giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. GS -TS Huỳnh Khái Vinh đã viết về
những kỷ niệm với Huy Du không chỉ với tư cách bè bạn mà với cảm nhận của
một khán giả, thính giả yêu mến âm nhạc của người nhạc sĩ tài danh này.
Tôi là người ít hiểu biết về âm nhạc, nhưng rất thích nghe những bài hát chiến đấu của các nhạc sĩ viết về hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc.Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi làm biên tập viên Báo Văn Nghệ, sau đó có nhiều năm ở nước ngoài, và tất nhiên có điều kiện đi nhiều, có phương tiện để nghe nhạc. Lúc bấy giờ nhạc Huy Du đến với tôi một cách sâu sắc, đậm đà tình cảm yêu nước. Tôi chưa một lần gặp Huy Du, nhưng nghe những bài hát như:
"Trên đỉnh Trường Sơn ta hát", "Nổi lửa lên em", "Việt Nam trên đường chúng ta đi", "Anh vẫn hành quân"... của anh, tôi thấy lòng mình cứ hừng hực một khí thế của một người công dân có trách nhiệm với đất nước.
Từ đó, tôi có một mong ước là tìm gặp Huy Du. Rồi một buổi chiều vào cuối năm 1983, chúng tôi gồm: Các anh Vũ Cận, Phan Kế An, Hồ Ngọc Đại, Trung Sơn, Ngô Mạnh Lân,Hoàng Ước và tôi đang ngồi quanh một chiếc bàn tròn trong CLB Ba Đình,bỗng thấy một người tầm thước, tóc bạc, mặt sáng, có đôi mắt rất tươi dường
như lúc nào cũng cười, bước vào khu vực chúng tôi. Cả bàn đều đứng dậy bắt tay thân thiết đầy thiện cảm, và tôi có cảm giác mọi người ngồi đây rất yêu mến, rất quý trọng anh. Nhiều người không biết hát, nhưng đều dễ thuộc nhạc Huy Du, có người thuộc dăm ba câu, có người thuộc cả bài, có người thuộc nhiều bài. Điều đó sau này tôi đã bắt gặp ở nhiều nơi.
Dần dần tôi khám phá ra, người nhạc sĩ này ngoài tính tình rất đáng yêu, trung thực, dễ gần, nhạc của Huy Du vừa có tính cao sang vừa có tính quần chúng rất cao. Đó là cảm nhận của tôi. Có lần, GS -TS Đình Quang đi tắcxi xuống đón anh Huy Du, tôi và sau đó đón nhà văn Tô Hoài đến cửa hàng Sinh Châu ở phố Lý Thường Kiệt để ăn cá hồi. Cố nhiên được ăn cá hồi, uống rượu, thì rất thích,điều đó không quan trọng mà chính không khí tối hôm đó làm tôi vừa ngạc nhiên, vừa khó quên. Đó là không khí có một không hai.
Chúng tôi đang vào cuộc nghe nhau những chuyện mới thì thấy một đoàn người, có nhà thơ Nguyễn Duy, nhà báo Đỗ Quang Hạnh và nhiều kỹ sư, bác sĩ, nghệ sĩ ở các bàn khác ở trong phòng ăn đó và các phòng bên cạnh sang cắt ngang câu chuyện của chúng tôi. Họ chào anh Huy Du trước và bảo ở chỗ này thì chỉ có âm nhạc là hợp, vậy nên trước tiên chúc mừng sức khoẻ anh Huy Du và các anh, sau đó sẽ hát một số bài của Huy Du. Tôi hết sức ngạc nhiên, bởi vì tôi biết rõ, các anh không
phải là ca sĩ, làm các nghề khác nhau, nhưng rất nhiều người đã thuộc và đã hát được nhiều bài hát của Huy Du kể cả những bài nổi tiếng đầu tiên của anh thời chống Pháp... Chứng tỏ nhạc Huy Du đã thấm sâu vào họ đến mức mà họ luôn muốn hát, muốn bộc bạch, muốn phô diễn. Và cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên này
thành cuộc liên hoan đặc biệt hát những bài hát Huy Du kéo dài đến một giờ khuya.
Một lần khác, anh Phan Hồng Giang, lúc đó (1999) là Viện trưởng Viện Văn hoá nghệ thuật có mời các anh: Tô Hoài, Huy Du, Hồ Bắc, Đình Quang, Xuân Sách, Từ Sơn và tôi đến ăn ở quán Pacific cạnh hồ Ngọc Khánh. Câu chuyện đang rôm rả, bỗng nhiên ông chủ quán tiến thẳng đến bàn ăn chúng tôi, lễ phép nói: "Nhân viên em vừa báo cho em biết, trong bàn này có nhạc sĩ Huy Du, đến hôm nay mới được trực tiếp gặp mặt, vì vậy buổi tiệc hôm nay em xin phép được chiêu đãi". Lúc ấy tôi liếc mắt nhìn sang Huy Du và thấy anh rất xúc động. Mà không xúc động sao được.
Ở gần Huy Du hơn 8 năm tôi khám phá ra nhiều điều hay khác nữa, có những chuyện như huyền thoại về người nhạc sĩ này. Nhưng tôi muốn xin kể thêm một chuyện nữa mà hoạ sĩ Đào Đức đã nhiều lần kể cho tôi nghe. Có một buổi chiều Huy Du và Đào Đức đi dạo phố Thái Hà, có hai chị ở tuổi trung niên ngồi nướng ngô để bán. Huy Du và Đào Đức có dáng tầm tầm như nhau về chiều cao và khổ người nên nhìn từ xa dễ lẫn lộn.Hai cô bán ngô nướng đố nhau: Trong hai ông này ông nào là ông Huy Du. Một
cô thì chỉ ông đi bên trái (HD), một cô thì chỉ ông đi bên phải (ĐĐ). Nhưng khi hai ông đến gần, một cô mạnh dạn hỏi: "Chúng tôi biết một trong hai bác là nhạc sĩ Huy Du, vì thường xem trên tivi, chưa gặp mặt bao giờ, vì vậy xin hỏi ai là bác Huy Du?".
Khi Đào Đức chỉ Huy Du nói: "Đây chính là Huy Du". Cô đoán đúng đã cười đầy vẻ viên mãn, và bắt chặt lấy tay nhạc sĩ. Vài câu chuyện mà tôi được biết càng khẳng định sự nhận định của tôi: Huy Du là một nhạc sĩ tài ba, nhạc của ông không chỉ đi sâu vào nhiều đối tượng khán, thính giả rất
rộng, rất sâu mà còn mang tính chất cao sang, rất trang trọng, đầy sức hấp dẫn.
Tôi nghĩ rằng, nhạc Huy Du sẽ còn sống mãi trong lòng hàng triệu người hôm
nay và kể cả sau này.
9. Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện ( 1951) :
Ông sinh ngày: 20/11/1951. Quê quán: Sài Gòn. Tốt nghiệp Khoa Sáng tác hệ Ðại học 5 năm, Nhạc viện TP.HCM, năm 1989. Hiện là bác sĩ khoa Răng Hàm Mặt, Viện Răng Hàm Mặt.
Ông sáng tác âm nhạc từ thời sinh viên, nhưng sau giải phóng
năm 1975, tên tuổi ông mới được biết đến rộng rãi trong giới trẻ
hâm mộ nhạc. Những ca khúc Nguyễn Ngọc Thiện trữ tình và trẻ trung, thiên về đề tài tình yêu và tuổi trẻ.
Ông đã xuất bản hai tập ca khúc và một số bài hát được phát hành trong băng âm thanh và băng video. Nguyễn Ngọc Thiện là thành viên nhóm "Những người bạn". Ðã xuất bản Tập nhạc Nguyễn
Ngọc Thiện và kèm băng cassete tác giả (DIHAVINA và Hội nhạc sĩ VN).
Tác phẩm đầu tay: Ơi cuộc sống mến thương (1979).Các tác phẩm được yêu thích: Này người yêu nhỏ xinh (1989); Ngọn lửa trái tim (1981); Như khúc tình ca (1982); Người mẹ (1984); Chia tay tình đầu (1987); Kỷ niệm mùa hè (1989); Cô bé dỗi hờn
(1991); Nếu em là người tình (1992); Tìm đâu
(1993); Thôi anh hãy về (1994); Cơn mưa lao xao...
10. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý
Ông sinh ngày 5 tháng 3 năm 1925 tại Vinh, Nghệ An, Quê ở Vĩnh Phúc.
Ông nguyên công tác tại Viện nghiên cứu âm nhạc tại cơ sở II tại TP.HCM. Hiện về hưu ở quận 1, TP HCM. Ông là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Năm 1944, ông đi hát trong phòng trà ở Vinh.
Năm 1945 Sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên cứu quốc Nghệ An.Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý hoạt động âm nhạc bắt đầu cũng ở Liên Khu IV.
Tiểu sử:
Năm 1948, ông ở đoàn văn hóa tiền tuyến thuộc Quân huấn cục.
Năm 1950, Ông nhận nhiệm vụ đi xây dựng đoàn văn công của sư đoàn 304 và làm Trưởng đoàn .
Năm 1951, ông giải ngũ và chuyển về công tác ở chi hội văn nghệ liên khu IV.
Năm 1967, ông về hội nhạc sĩ Việt Nam. Và từ năm 1975, ông chuyển về viện nghiên cứu Âm nhạc, Bộ văn hóa, cơ sở II tại TP HCM.
Các giải thưởng nghệ thuật: Giải nhì tổng kết 9 năm Văn nghệ toàn quốc, bài ca Vượt trùng dương(1952); Giải nhất cuộc vận động sáng tác về đề tài phụ nữ, bài Tiễn anh lên đường (1964); Giải nhất sáng tác về đề tài nông nghiệp, bài Bài ca năm tấn (1967); Giải nhất sáng tác cho ngân hàng, bài Em đi làm tín dụng (1971).
Ông đã nhận được Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương kháng chiến chống Mĩ hạng nhất, Huân chương lao động hạng nhì (1984).
Các tác phẩm tiêu biểu:
Pha màu luống cày Mùa hoa nở
Dư âm Vượt trùng dương
Mẹ yêu con Tiển anh lên đường
Bài ca năm tấn Em đi làm tín dụng
Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa Một khúc tâm tình của người Hà tĩnh Người đi xây hồ kẻ gổ Cô nuôi dạy trẻ
Dáng đứng bến tre
11. Nhạc sĩ Phạm Tuyên:
Tiểu sử:
Ông sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, quê ở xã Lương Ngọc, huyện Bình Giang, Hải Dương, hiện cư trú tại Hà Nội. Nguyên công tác tại Bộ văn hóa - thông tin. Đã nghỉ hưu.
Năm 1949, ông công tác tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa V.
Năm 1950, Là đại đội trưởng tại Trường Thiếu sinh quân Việt Nam.
Năm 1954, là các bộ phụ trách Văn - Thể - Mỹ tại khu học xá Trung ương.
Năm 1958, ông về công tác tại đài tiếng nóiViệt Nam, đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ đạo về biên tập âm nhạc.
Ông có mặt từ cuộc kháng chiến chống Pháp với chùm ca khúc về Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn về Thiếu sinh quân Việt Nam.
Năm 1975, Ông cũng có nhiều ca khúc được nhiều người biết đến như: Gửi nắng cho em, Con kênh ta đào, Màu cờ tôi yêu, Thành phố mười mùa hoa......
Ông cũng sáng tác nhiều ca khúc cho giới trẻ, nhiều thế hệ thiếu nhi đã và hát và trở thành bài hát truyền thống của nhiều lứa tuổi như: Tiến lên đoàn viên, Chiếc đèn ông sao, Hành khúc đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh........
Các tác phẩm tiêu biểu:
Chiếc gậy Trường Sơn
Con kênh ta đào
Gởi nắng cho em
Lời ru của đêm
Màu cờ tôi yêu
Như có Bác trong ngày vui đại thắng
Từ một ngã tư đường phố
12. Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu:
Tiểu sử:
Sinh ngày 25 tháng 12 năm 1933, tại Soài Riêng, Camppuchia, trong một gia đình công chức yêu nước người Nghệ An.
Tháng 4 năm 1950 ông tham gia kháng chiến chống Pháp ở tiểu đoàn 308, Tam Bình, Vĩnh Long. Trong một trận ác liệt, ông bị thương và mất chân phải..
1962 - 1968: Học trường Quốc gia âm nhạc Paris
Tháng 2 năm 1969: dạy ở trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn
Tháng 2 năm 1972: Bị tù ở tổng nha Cảnh sát Sài Gòn, rồ Tân Hiệp vì những hoạt động trong phong trào sinh viên yêu nước.
Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đột ngột ra đi vào lúc 21h30phút ngày 26/5/1998 vì bệnh nhồi máu cơ tim.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Trường làng tôi
Mùa thu không trở lại
Đêm lạnh
Tàn đêm
Quê hương ( phổ thơ Giangg Nam)
Một trái tim, một quê hương
Cho con
Lời đất nước gọi ta
Một mai tôi ra đời ( sáng tác cuối cùng)
13. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương:
Ông sinh ngày 22/5/1919, quê ở Thừa Thiên Huế. Nguyên là cố vấn Đoàn ca múa Nhạc nhẹ Sài Gòn, Giáo sư cấp II,Nghệ sĩ nhân dân, Huân chương Độc lập hạng III, cư trú tại quận Bình Thạnh.
Ông là một trong những nhạc sĩ thế hệ đầu tiên về tân nhạc ở nước ta.
Năm 1936, sau khi tốt nghiệp Trung học tại quốc học Huế đã viết trên sông Hương là một trong những tác phẩm tân nhạc đầu tiên ở Việt Nam.
Năm 1939, khi du học ở Hà Nội ông viết Đêm đông nổi tiếng.
Năm 1942, khi làm việc ở trung trâm Bưu điện Sài Gòn, ông viết Bướm hoa. Nguyễn Văn Thương là một trong những tác giả nổi tiếng thời tiền chiến.
Từ thời kì kháng chiến chống Pháp đến hòa bình lập lại ông đã có rất nhiều ca khúc xuất sắc như: Bình Trị Thiên khói lửa và các diệu múa chuyên nghệp.
Ngoài ra còn có những tác phẩm khí nhạc: Lý hoài nam, Buôn làng vào hội, Quê hương.
Ông nguyên là Giám đốc Nhạc viện Hà Nội, đưa hệ trung cấp âm nhạc cổ truyền lên hệ đại học.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Bình Trị Thiên khói lửa
Bướm hoa
Đêm đông
Trên sông hương
14. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu:
Tiểu sử:
Ông sinh 11/11/1924, quê ở Đà Nẵng, hiện cư trú tại TP HCM. Ông có bút danh là Huy Quang.Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc từ những năm 40, trong nhóm tân nhạc.
Sau Trầu cau, sáng tác của ông được biết rộng rãi là bài hát Đoàn Giải phóng quân viết cuối năm 1945.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông gia nhập quân đội, công tác ở liên khu V.
Năm 1955, sau khi tạp kết ra Bắc, ông công tác ở ban Nhạc Vũ, hội văn nghệ Việt Nam.
Năm 1957, khi thành lập Hội nhạc sĩ Việt Nam, ông được cử vào Ban chấp hành, là ủy viên thường vụ và công tác tại hội.
Âm nhạc của ông có giai điệu trau chuốt, trữ tình, ngay cả khi trong thể loại hành khúc.Ông có nhiều thành công khi viết về đề tài tình yêu đôi lứa trong tình cảm chung của dân tộc.
Ông là một trong những nhạc sĩ đàn anh, có rất nhiều đóng góp xứng đáng.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Những ánh sao đêm
Sợi nhớ sợi thương
Hành khúc ngày và đêm
Cuộc đời vẫn đẹp sao
Thuyền và biển
15. Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát:
Tiểu sử:
Ông sinh ngày 11/2/1910, quê ở Hà Nội. Là vi Chủ tịch đầu tiên và duy nhất của hội nhạc sĩ Việt Nam.
Ông là "người anh cả", "Con chim đầu đàn" của nền âm nhạc mới Việt Nam.
Ông là một trong số hiếm hoi các nhạc sĩ hiếm hoi các học viên của Viễn Đông nhạc viện mở ở Hà Nội thập niên 30.
Năm 1942, ông tham gia nhóm " xuân thu Nhã tập" cùng với tiêu chí trên và đã thực hiện phổ nhạc một cách độc đáo bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ (một nhà thơ thành viên của nhóm).
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông có Tay súng sẵn sàng, tay lúa vững chắc như cùng nhạc sĩ cả nước thúc dục chiến đấu.
Ông đã truyền được nhọn lửa gìn giữ bản sắc dân tộc sang các thế hệ nhạc sĩ lớp sau bằng bài viết, bằng tác phẩm, bằng cả những cuộc trò chuyện.
Nguyễn Xuân Khoát để lại một dấu ấn không phai mờ trong lịch sử tân nhạc Việt Nam, trong lịch sử Hội nhạc sĩ Việt Nam.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Bình minh
Màu thời gian
Con voi
Hát mừng bộ đội chiến thắng
Tay súng sẵn sàng, tay lúa vững chắc
Theo lời Bác gọi
16. Nhạc sĩ Phan Nhân:
Tên khai sinh của ông là Liêu Nguyễn Phan Nhân, Sinh ngày 15/5/1930, quê ở Bình Đức, Lonh Xuyên, An Giang. Công tác ở đài tiếng nói VN TP HCM. Đã nghĩ hưu, cư trú tại TP HCM.
Tiểu sử:
Ông tham gia quân đội từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp.
Trong sáng tác của Phan Nhân, cái "tôi" trữ tình hòa quyện với cảm xúc về tình yêu quê hương đất nước.
Những tác phẩm: Hà Nội - niềm tin và hy vọng, Tình ca đất nước, Cây đàn ghi-ta của Victor Hara...và những bài hát viết cho trẻ em: Em là con gái má Út Tịch, Chú ếch con, Chú cừu Mộc Châu, Em là bông lúa Điện Biên, Hàng cây ơn Bác..
Các tác phẩm tiêu biểu:
Hà Nội - niềm tin và hy vọng
Chú ếch con
Hàng cây ơn Bác
Em là con gái má Út Tịch
17. Nhạc sĩ Trần Long Ẩn:
Tiểu sử:
Trần Long Ẩn còn có bút danh là Ðoàn Công Nhân, sinh ngày
29/9/1943, quê ở Bình Ðịnh. Tốt nghiệp Đại học Văn khoa Sài
Gòn, ông tham gia phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe" và nổi
lên với bài "Người mẹ bàn cờ" và một số ca khúc khác. Sau đó,
ông ra Bắc và tu nghiệp sáng tác tại Nhạc viện Hà Nội.
Ca khúc của Trần Long Ẩn vừa da diết tình cảm vửa phảng phất
tính triết học. Ông đã tự giới thiệu rất thành công những ca khúc
của riêng ông trên sân khấu cho sinh viên và cho các thính giả trẻ.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Trên mảnh đất tình người, Ði qua
vùng cỏ non, Một đời người một rừng cây, Ðàn sáo Hậu Giang,
Ðêm thành phố đầy sao, Xin làm người hát rong, Tiếng hát từ ánh
lửa mặt trời...
18. Nhạc sĩ Trần Hoàn:
Tên khai sinh của ông là Nguyễn Tăng Hích, còn có bút danh là Hồ Thuận An, sinh 1928, quê ở Hải Lăng,Quảng Trị, nguyên Bộ trưởng Bộ văn Hóa thông tin, hiện là phó ban Văn hóa tư tưởng tại quận Ba Đình - Hà Nội.
Trần Hoàn tham gia hoạt động âm nhạc trong kháng chiến chống Pháp.
Sau ngày hòa bình lập lại 1954, Trần Hoàn về làm giám đốc Sở văn hóa Hải Phòng và ông vẫn tiếp tục sáng tác.
Một điều đặt biệt càng về giai đoạn sau tác phẩm càng dồi dào và càng gây sự chú ý của đông đảo thính giả.
Tiểu sử:
Các tác phẩm tiêu biểu:
Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm
Khúc hát người Hà Nội
Lời người ra đi
Lời Bác dặn trước lúc đi xa
Lời ru trên nương
Sơn nữ ca
Một mùa xuân nho nhỏ
Tình ca mùa xuân
19.Nhạc sĩ Trương Quang Lục:
Tiểu sử:
Ông sinh ngày 25/2/1933, quê tại xã Tịnh Khê(Sơn Mỹ), huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quãng Ngãi.
Là hội viên hội nhạc sĩ Việt Nam, đồng thời là hội viên hội Nhà báo Việt Nam. Hiện công tác tại báo "Sài Gòn giải phóng". Cư trú tại quận Tân Bình, TP HCM.
Trong kháng chiến chống Pháp, Trương Quang Lục đã có một số bài hát được phổ biến như: Chuyến tàu trăng, Bảo vệ hòa bình, Đố cờ, Hoa bên suối.
Sau hòa bình, ông chuyển ra miền Bắc vừa làm kỷ sư hóa chất ở nhà máy Super-phosphate Lâm Thao, ông vừa sáng tác ca khúc và nhiều tác phẩm ra đời ở đó.
Trương Quang Lục cũng tham gia viết nhiều nhạc phim, nhạc sân khấu, múa rối, một số bài nghiên cứu dân ca, một số bài giới thiệu những ca khúc nổi tiếng của nhiều tác giả trên báo Sài Gòn giải phóng Chủ nhật.
Các tác phẩm tiêu biểu
Vàm cỏ đông
Trái đất này là của chúng em
Tuổi mười lăm
Màu mực tím
Hoa sen tháp mười
20.Nhạc sĩ Vũ Hoàng:
Nhạc sĩ Vũ Hoàng tên thật là Vũ Bảo Hoàng, sinh ngày 23/04/1956 tại Biên Hòa. Ông tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm TP.HCM (1976 - 1979), tốt nghiệp Khoa Sáng tác - lý luận - chỉ huy bậc Ðại học Nhạc viện TP.HCM (1984 - 1989)
Tiểu sử:
Những sáng tác ca khúc tiêu biểu:
- Gửi lại em (1978).
- Hương tràm (thơ Đỗ Trung Quân - 1978).
- Nói với em (1982).
- Bụi phấn (viết cùng Lê Văn Lộc - 1982).
- Hương thầm (thơ Phan thị Thanh Nhàn - 1984).
- Phượng hồng (thơ Đỗ Trung Quân - 1988).
- Cung đàn xanh (1990).
- Hương quê (1994).
- Khát vọng tuổi trẻ (1996).
- Mùa hè xanh (1998).
21. Nhạc sĩ Văn Chung:
Văn Chung tên thật là Mai Văn Chung, sinh ngày 20 tháng 6 1914, quê quán ở Phù Tiên, Hải Hưng, nay thuộc tỉnh Hưng Yên.
Tiểu sử:
Năm 1935 ông viết bản nhạc đầu tay Tiếng sáo chăn trâu. Sau đó cũng các thành viên của Tricéa, ông tiếp tục sáng tác những bản như Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937), Hồ xuân và thiếu nữ (1939).
Sau Cách mạng tháng Tám, ông về làm việc tại Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam.Và khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Văn Chung cùng các văn nghệ sĩ lên chiến khu, phụ trách văn nghệ trong một số đơn vị quân đội và sau đó chuyển về Đoàn văn công Tổng cục Chính trị.
Hòa bình lập lại, ông về công tác tại Bộ Văn hóa, từ 1964 ông là giám đốc Nhà hát Giao hưởng - Hợp xướng Nhạc vũ kịch Việt Nam. Ông còn là uỷ viên thường vụ Ban chấp hành Hội nhạc sĩ Việt Nam khoá II.
Giai đoạn sau 1954, ông lại sáng tác mạnh mẽ. Ca khúc của ông đề cập đến nhiều đề tài, nhưng về đề tài nông thôn kháng chiến, ông có nhiều ca khúc thành công như: Hò dân cày (1954), Gái thôn Đoài, trai thôn Thượng (1956), Tính hẹn cùng tình (1959), Ba cô gái đảm (1963), Lúa cấy thẳng hàng (1966)...
Văn Chung cũng có nhiều ca khúc viết cho thiếu nhi thành công như Lỳ và Sáo, Lượn tròn lượn khéo, Đếm sao, Trăng theo em rước đèn, Trăng xinh ngoan... và một vài kịch hát Sói xám ăn gì?, Miu vàng của mẹ, Những đoá hoa xuân...
Văn Chung mất ngày 27 tháng 8 năm 1984 tại Hà Nội. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007
Văn Chung cũng có nhiều ca khúc viết cho thiếu nhi thành công như Lỳ và Sáo, Lượn tròn lượn khéo, Đếm sao, Trăng theo em rước đèn, Trăng xinh ngoan... và một vài kịch hát Sói xám ăn gì?, Miu vàng của mẹ, Những đoá hoa xuân...
B/ PHAÀN II:
TÀI LIỆU NHẠC SĨ NƯỚC NGOÀI
1. Nhạc sĩ
Wolfgang Amadeus Mozart:
Tiểu sử:
Wolfgang Amadeus Mozart sinh ngày 27 tháng giêng, 1756, tại Salzburg, Thánh chế La Mã (nay Áo). Leopold Mozart, một nhạc sĩ vĩ cầm và cũng là một giáo viên, đã đích thân giáo dục con trai của ông.
Cậu bắt đầu soạn nhạc cho đàn phím từ lúc năm tuổi, viết những bản nhạc hòa tấu khi cậu lên sáu.
Những bản sônat cho đàn vĩ cầm được xuất bản khi cậu
lên tám. Thật ra có thể nói rằng Mozart đã khởi đầu sự nghiệp âm nhạc trước thời
gian cậu lên năm và theo đuổi cho đến ngày qua đời, ngót ba mươi năm âm nhạc.
Mozart có ký ức chi tiết âm nhạc phi thường, ông có thể hợp nhất tinh hoa âm nhạc khác nhau của quốc gia này với quốc gia khác vào trong tác phẩm của mình. Tại
Luân Đôn, Mozart gặp Johann Christian Bach, con trai của nhạc gia vĩ đại Johann Sebastian Bach, Christian bị gây ấn tượng, đã trở thành người dẫn dắt nhạc sĩ Mozart trẻ và quan tâm theo dõi sự nghiệp của cậu. Trở về nước, Mozart nghiên cứu tổng phổ âm nhạc của J. C. Bach, và ảnh hưởng của Bach được thể hiện trong tác phẩm của Mozart vào thời gian ấy.
Sự nghiệp:
Khoảng cuối năm 1769, năng khiếu âm nhạc sớm phát triển của Mozart đã bắt đầu nở rộ, tuy mới chỉ lên mười ba, cậu bắt đầu sự nghiệp sáng tác một cách nghiêm túc. Đức Tổng giám mục tại Salzburg đã chấp nhận Mozart như một nhạc trưởng, bằng cách cấp một khoản thu nhập cho cậu.
Tại Milano Mozart được ủy nhiệm viết opera, vở Mitridate. Vở này sau đó, do chính Mozart chỉ huy, đã được tán thưởng nồng nhiệt. Trở về Salzburg, Mozart biên soạn một loạt symphony và nhạc phụng sự cho Giáo hội.
Việc trở về Salzburg của Wolfgang vào 1773 là một trong những cột mốc, lúc ấy có một sự bùng nổ sáng tác khác thường, và một sự chuyển tiếp ra khỏi ảnh hưởng âm nhạc Ý để thiên về phong cách âm nhạc Đức, được đại diện bởi Joseph Haydn.
Tháng 8 năm 1777, ở tuổi hai mươi mốt, Wolfgang xin từ nhiệm, và Bá tước Colloredo đã đồng ý. Thời gian này, Leopold quyết định rằng ông phải còn ở lại phục vụ nhà thờ. Cho nên Wolfgang cùng mẹ đã chuyển đi München, rồi đến Mannheim.
Tại Paris, Mozart biên soạn giáo trình âm nhạc, tiếp xúc các nhà xuất bản, viết bất cứ cái gì anh có thể bán hoặc trình diễn - những bản sônat cho đàn violin và đàn phím, một concero cho sáo và thụ cầm, những bản biến tấu đàn phím, và symphony Paris của anh. công vang dội sau vở opera Le nozze di Figaro (Đám cưới Figaro), Mozart du
Vào 1781 anh tới München để diễn opera, vở
Idomeneo, một thành công rực rỡ.
Năm 1782, kết hôn với tiểu thư Constanze, em gái của Aloysia,
mặc dù gặp sự phản đối mạnh mẽ của cha ruột.
Năm 1787, Mozart hoàn thành vở Don Giovanni. Đa số mọi người khen ngợi, nhưng có nhiều ý kiến cho rằng âm nhạc của ông ngày càng khó tiếp cận hơn. Phong thái âm nhạc nhẹ nhàng trước đây của ông đang biến mất dần; nhạc công và thính giả có nhiều lời than phiền là ngày càng khó cảm thụ hơn.
Mười năm cuối đời của Mozart là một thời kỳ dài của cả sự đau khổ do tài chính kiệt quệ, lẫn sức mạnh sáng tạo khác thường.
Năm 1788 đã không bao giờ được trình tấu lúc sinh thời của ông. Tổng cộng, những năm này ông đã sáng tác những hơn hai trăm tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau.
Năm 1791 Mozart gặp khó khăn trong việc soạn nhạc cho vở opera Die Zauberfloete (Cây sáo thần), khi hợp tác với văn hào Emanuel Schikaneder.
Công việc bị gián đoạn trong tháng 7 vì một chuyến viếng thăm của nhân vật lạ mặt huyền bí đã đưa ra đề nghị hậu hĩnh cho tác phẩm Requiem.
Ông mất ngày 4 tháng 12 năm 1791. Hôm sau, bạn bè đến tham dự tang lễ ngoài trời;
Gia đình Mozart vì khó khăn đã đưa thi hài chôn trong một nghĩa trang công cộng của người nghèo để Mozart yên giấc ngàn thu. Ở đó, mộ chôn chi chít và cho đến ngày nay người ta vẫn chưa xác định được mộ ông chôn ở chỗ nào.
2. Nhạc sĩ
Ludwig van Beethoven:
Ludwig van Beethoven (17 tháng 12 năm 1770 – 26 tháng 3 năm 1827) là một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Phần lớn thời gian ông sống ở Wien, Áo. Ông là một hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn.
Cuộc đời:
Beethoven sinh tại Bonn, Đức, cha là Johann van Beethoven (1740-1792), người gốc Vlaanderen, và mẹ là Magdalena Keverich van Beethoven (1744-1787). Cho đến tận thời gian gần đây, nhiều công trình tham khảo coi ngày 16 tháng 12 là "ngày sinh" của Beethoven, với lý do là ông được rửa tội vào ngày 17 tháng 12 và trẻ con vào thời đó thường đ
Bộ sưu tập âm nhạc ứng dụng giảng dạy trong trường THCS
Năm học: 2010 -2011
A/ PHẦN I:
TÀI LIỆU NHẠC SĨ VIỆT NAM
1. Nhạc sĩ Văn Cao (1923 - 1995)
Nhạc sĩ Văn Cao đã hoạt động hăng say cho cách mạng từ
trước Cách mạng Tháng Tám, người đã viết theo yêu cầu
của cách mạng một bài hát cho Trường quân chính kháng
Nhật: Bài Tiến quân ca. Tháng 11-1944, bài hát được Văn
Cao tự tay khắc in trên báo Độc lập, và khi về Hà Nội, một
hôm qua phố Mai Hắc Đế, ông nghe có người chơi đàn
măng-đô-lin bản nhạc ấy. "Tôi dừng lại và tự nhiên thấy
xúc động, có thể những người cùng khổ mà tôi đã gặp trên
bước đường cùng khổ của tôi, lúc này đang cầm súng và
đang hát" (Trích hồi ký "Tại sao tôi viết Tiến quân ca").
Ra đời bài "Tiến quân ca":
Ngày 17-8-1945, trong cuộc mít-tinh của nhân dân Hà Nội,
lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên Nhà hát lớn và vang lên
tiếng hát "Tiến quân ca", Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chọn bản nhạc ấy làm Quốc ca cho người Việt Nam mới và
sau đó đã được Quốc hội chính thức phê chuẩn. Anh vệ
quốc quân, chị cán bộ trên núi rừng Việt Bắc, các má trong
bưng biền Nam Bộ, người tù Côn Đảo, Phú Quốc, Tổng Nha,
Phú Lợi, Thừa Phủ, mỗi lần hát Quốc ca là hát lên hồn
thiêng sông núi, để đi đến hy sinh mà không tiếc thân
mình: "Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Đứng đều
lên gông xích ta đập tan".
Nhắc đến Văn Cao là nhắc đến Tiến quân ca hùng tráng và
bất diệt. Con người nhỏ nhẹ hiền từ ấy chứa trong hồn
mình khát vọng và tâm huyết của cả một dân tộc nô lệ
đang sắp sửa vùng lên. Nửa thế kỷ đã qua, đến hôm nay
mỗi khi nghe khúc nhạc ấy vang lên, ta lại thầm cảm ơn
Văn Cao, người đã viết cho dân tộc khúc ca hùng tráng ấy.
Sự nghiệp sáng tác:
Văn Cao sinh ngày 15-11-1923. Vào năm 1939, 16 tuổi,
ông viết Buồn tàn thu rồi sau đó là Thiên thai (1941), Bến
xuân (1942), Cung đàn xưa (1942); Suối mơ (1943),
Trương Chi (1943). Một dòng suối nhạc tình trào tuôn từ
trái tim của chàng trai rất nhát gái, chưa hề được yêu, chưa
hề được nắm tay một người con gái nào (Tâm sự của ông trong phỏng vấn ngày 28-7-1993)). Đó có lẽ cũng là một lối
thoát ra khỏi những bế tắc của một thanh niên mất nước
nhưng đầy khát vọng
Văn Cao, con người mơ mộng ấy thả hồn mình bay xa thực
tại khi làm bài hát: Hải quân Việt Nam, Không quân Việt
Nam vào năm ấy. Cái tình của ông đối với quân đội, với
cách mạng, khát vọng của ông đã làm ông đi trước thực tế .Ngay trong những năm đầu kháng chiến, Văn Cao đã mơ
ngày quân ta tiến về Hà Nội. Phải 5-6 năm sau, điều mơ
ước ấy mới trở thành hiện thực.
đến vài chục năm.
Năm đó là năm 1947, Văn Cao mới 24 tuổi. Sông Lô là một
trường ca của nhạc, của thơ và của sắc mầu hội họa. Sông
Lô là một thể nghiệm thành công về một nhạc cảnh mà hơi
nhạc, như ông đã tự nhận, có ảnh hưởng chất hùng tráng
của nhạc Bethoven. Sông Lô đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt
Nam như một chiến công lớn của nghệ thuật bên cạnh
chiến công lớn của quân dân ta trong thời chống Pháp. Và
nó vĩnh viễn ở lại trong lòng người.
Tổng kết:
Văn Cao đa tài, đa cảm, ông có khát vọng muốn thành công
ở nhiều lĩnh vực: nhạc, thơ, họa. Thơ của ông từ Chiếc xe
xác đi qua phường Dạ Lạc trở về sau có nhiều nét biến đổi
mới, thể hiện một sự tìm về nội tâm. Hội họa của ông, đặc
biệt là tranh minh hoạ có phong cách riêng. Nhưng nhắc
đến Văn Cao, người ta nhắc đến nhạc. Trong nửa thế kỷ
qua, ông là nhạc sĩ lớn.
Ông ra đi, thế giới nghệ thuật của ông vẫn còn đó để nhiều
thế hệ còn đắm say, còn tiếp tục yêu ông, một tình yêu
sáng trong, cao cả như tâm hồn và âm nhạc của ông.
2. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ( 1939 - 2001)
Tiểu sử
Tr?nh Công Sơn quê làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Ông sinh vào giờ Thìn, ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Mão tức ngày 28 tháng 2 năm 1939, tại Daklak.
Ông mất vào 12:45 trưa ngày 1 tháng 4 năm 2001, tại Sài Gòn. Ông an nghĩ tại nghĩa trang Gò Dưa chùa Quãng Bình bên cạnh mộ của thân mẫu.
Năm 1943 từ Daklak ông theo gia đình chuyển về Huế.Ông học trường tiểu học Nam giao ( nay là Trường An), vào trường Thiên Hựu. Ông tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup Laubat, Sài Gòn. Học trường sư phạm Quy Nhơn khóa I( 1962 - 1964). Sau khi tốt nghiệp ông lên dạy học và làm hiệu trưởng Tiểu học ở Bảo Lộc. Sau 1965, ông bỏ hẳn nghề dạy học, về sống và sáng tác tại Sài Gòn.
Năm 1975 Ông sống ở Huế một thời gian dài và sau đó vào ở hẳn tại Sài Gòn. Ngoài Âm nhạc, tác phẩm của ông còn ở nhiều thể loại thuộc các lãnh vựa như: Thơ, Văn và Hội họa. Ông tự học nhạc, bắt đầu sáng tác năm 1958 với tác phẩm đầu tay Ước Mi ( nhà xuất bản An phú in năm 1959). Cho đến nay nhạc sĩ đã sáng tác hơn 600 tác phẩm, có thể được phân loại dưới ba đề mục lớn: Tình yêu - Quê hương - Thân phận.
Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài "Ngủ đi con" ( trong ca khúc Da Vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly phát hành trên 2 triệu bản.
Năm 1997 , ông đoạt giải thưởng lớn của hội nhạc sĩ cho một chuổi bài hát " Xin trả nợ Người", " Sóng về đâu", " Em đi bỏ lại con đường".
Quan niệm sáng tác: " Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo..."
Các tuyển tập ca khúc nổi tiếng:
Ca khúc Trịnh Công Sơn
Tình khúc Trịnh Công Sơn
Tuổi đá buồn
Khói trời mênh mông
Ca khúc da vàng
Kinh Việt Nam
Ta phải thấy Mặt Trời
Phụ khúc da vàng
Như cánh vạc bay
Tự tình khúc
Lời đất đá cũ
Một cõi đi về
Huyền thoại mẹ
Cỏ xót xa đưa
3. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (1921 - 1989):
Tiểu sử:
Ông sinh ngày 12 tháng 9 năm 1921, quê ở Cần Thơ, Hậu Giang.(Ông còn có bút danh : Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Anh Lưu Hồng Chí).
Ông nguyên là Giáo sư, Viện trưởng Viện Âm nhạc, Chủ tịch Hội đồng Âm nhạc quốc gia, Bộ trưởng bộ thông tin - tuyên truyền vàVăn hóa trong chính phủ lâm thời Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam.
Lưu Hữu Phước là một trong những nhạc sĩ đầu đàn của giới nhạc sĩ Việt Nam, đặt biệt là một nhạc sĩ sở trường về thể loại hành khúc. Trước Cách mạng tháng 8, Bạch Đằng Giang là ca khúc nổi tiếng mở đầu cho hàng loạt bài hát yêu nước và cách mạng của ông sau này
Ông là một trong những người có nhiều tác phẩm mang tính nhân dân rõ rệt. Các nhân tố Thanh niên - Tổ quốc - Lịch sữ thấm đượm trong sáng tác của ông.
Ông là tác giảcủa những chính ca xuất sắc, có giá trị trong lịch sử như Lãnh tụ ca, Hồn tử sĩ, đặt biệt là bài Giải phóng miền Nam,kể cả bài Tiếng gọi thanh niên....
Ông vừa sáng tác âm nhạc, vừa tham gia các hoạt động chính trị xã hội, chăm sóc, tuyên truyền giáo dục âm nhạc cho thế hệ trẻ.
Với những đóng góp lớn của ông trong lịch sử âm nhạc cách mạng, ông đã được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương( trong đó có Huân chương Độc lập hạng nhất và giải thưởng Hồ Chí Minh.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Lên đàng
Xuống đường
Tiếng gọi thanh niên
Giải phóng miền Nam
Bài ca giải phóng quân
Tiến về Sài Gòn
Reo vang Bình Minh
Thiếu nhi thế giới liên hoan
4. Nhạc sĩ An Thuyên :
An Thuyên đã được đông đảo công
chúng yêu âm nhạc biết đến từ tác
phẩm đầu tay Em chọn lối này, viết
năm 1971 (khi anh tròn 21 tuổi). Rồi
đến Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác
(1974), Khi xe tăng qua miền quan họ
(1984), Huế thương (1992), Neo đậu
bến quê (1993)... Tất cả đều mang âm
hưởng dân ca ngọt ngào sâu lắng.
5. Nhạc sĩ Đổ Nhuận(1922 - 1991):
Tiểu sử
Đỗ Nhuận quê ở thôn Hoạch Trạch xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, Hải Dương. Sinh ngày 10 tháng
12 năm 1922, vào tháng 5 âm lịch, một tháng nhuận, nên ông được cha đặt cho cái tên Đỗ Nhuận.
Naêm 14 tuoåi, oâng töï hoïc aâm nhaïc daân toäc vaø bieát chôi saùo truùc, tieâu, ñaøn nguyeät, ñaøn töù, ñaøn baàu.
Năm 1939, ông đã viết bài hát đầu tiên ở tuổi 17, bài Trưng Vương nhằm ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng ở tỉnh Hải Dương
Năm 1943 khi ông bị thực dân Pháp bắt đi đày ở Sơn La, trong tù nhiều bài hát cách mạng đã được ra đời như: Chiều tù, Côn đảo, Hận Sơn La, Tiếng gọi tù nhân, Viếng mồ tử sĩ.....
Trong kháng chiến chống Pháp, với một ngôn ngữ âm nhạc độc đáo chiếm vị trí đặt biệt trong nền âm nhạc Việt Nam.
Ông là nhạc sĩ duy nhất trong thế hệ đầu của tân nhạc đi tu nghiệp đại học tại nhạc viện Tchaikovsky( Liên Xô cũ, từ năm 1960 - 1963), ông đã đi sâu vào nhạc kịch.
Đổ nhuận là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên bước tới opera với Cô Sao hoành tráng trong những ngày đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Bên cạnh những thành tựu về nhạc kịch, Đỗ Nhuận còn có những tác phẩm khí nhạc đi vào kinh điển như Vũ Khúc Tây Nguyên cho Violon và dàn nhạc....Nhưng tên tuổi ông vẫn gắn bó với những ca khúc đầy bản sắc dân tộc.
Những năm thống nhất đất nước, do tình trạng sức khỏe, ông sáng tác thưa dần. Dù vậy, ông vẫn cố gắng truyền lại những kinh nghiệm, những tâm quuyết cho thế hệ tương lai, trong đó có nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân( con trai đầu của ông), cho đến khi mất.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Áo mùa đông
Chiến thắng Điện Biên
Giải phóng Điện Biên
Hành quân xa
Trồng cây lại nhớ tới người
Việt Nam quê hương tôi
7. Nhạc sĩ Hoàng Vân (1930):
Tên khai sinh của ông là Lê Văn Ngọ, còn bút danh là Y- Na,
sinh ngày 24/7/1930. Quê ở Hà Nội. Năm 1946, ông tham gia
Ðội Thiếu niên cứu quốc Mai Hắc Ðế, là liên lạc viên tự vệ khu
Ðông Kinh Nghĩa Thục (Liên khu I) Hà Nội, rồi làm phụ trách
Thiếu sinh quân Trung đoàn 165, Sư đoàn 312, tham gia Ðội
Tuyên truyền võ trang Lao Hà, làm báo và công tác địch vận
của trung đoàn, sư đoàn, sau đó phụ trách nghệ thuật Văn công
Sư đoàn 312. Hòa bình lập lại, ông về chỉ huy dàn nhạc Ðoàn
Ca Nhạc Ðài Tiếng nói VN kiêm chỉ đạo nghệ thuật, tham gia
giảng dạy môn Sáng tác và Phối khí tại Nhạc viện Hà Nội (cho
đến năm 1989). Từ năm 1963 đến năm 1989, ông là Ủy viên
Ban chấp hành Hội nhạc sĩ VN, là Trưởng ban Sáng tác thanh
nhạc và công tác tại Hội cho đến năm 1996.
Sau hòa bình lập lại, ông được cử đi học tại Nhạc viện Bắc
Kinh (Trung Quốc). Tốt nghiệp, ông về công tác tại Ðài tiếng
nói VN, Nhạc trưởng Ðoàn ca nhạc kiêm Chỉ đạo nghệ thuật,
đồng thời đi thực tế, nắm bắt nhanh các loại đề tài trong cuộc
sống lao động và chiến đấu nên đã sáng tác hàng loạt ca khúc,
hợp xướng lớn, nhỏ, được công chúng hâm mộ.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Hò kéo pháo (1954)
Những cánh buồm (Thơ: Hoàng Trung Thông)
Nhớ (Thơ: Nguyễn Ðình Thi)
Hà Nội- Huế- Sài Gòn
Quảng Bình quê ta ơi
Nổi trống lên rừng núi ơi
Không cho chúng nó thoát
Chào anh Giải phóng quân- chào mùa xuân đại thắng
Hai chị em
Người chiến sĩ ấy
Nhạc sỹ Hoàng Vân là người sáng tác nhiều bài
hát về các ngành nhất, và trong đó bài nào cũng
được coi là truyền thống, Tôi là người thợ lò
(Ngành khai thác than), Bài ca xây dựng
(Ngành xây dựng), Bài ca người giáo viên nhân
dân (Ngành giáo dục), Hát về cây lúa hôm nay
(Ngành nông nghiệp), Vì nhân dân quên mình
(Ngành Quân đội) ... Các ca khúc khác: Bảy
sắc cầu vồng, Chim vành khuyên, Quảng bình
quê ta ơi, Tình ca Tây Nguyên, Tình yêu Hà
Nội, Tình ca vũng Tàu...
6. Nhạc sĩ Hoàng Hiệp (1931):
Ông sinh năm 1931, tên thật là Lưu Trần Nghiệp, quê quán ở An Giang.
Bắt đầu sáng tác năm 17 tuổi. Không có tác phẩm nào tiêu biểu trong thời
gian này. Phải đến gần 10 năm sau, năm 26 tuổi, khi tập kết ra Bắc, học
trường Âm Nhạc Việt Nam, mới có bài hát đánh dấu sự nghiệp sáng tác
chuyên nghiệp: "Câu hò bên bờ Hiền Lương" (Sáng tác chung với Đằng
Giao, năm 1957).
Từ năm 1955 đến 1975, sống ở Hà Nội. Hơn 100 ca khúc sáng tác cho
dòng nhạc cách mạng ra đời. Một số ca khúc có tiếng vang ngoài Câu hò
bên bờ Hiền Lương, có Cô gái vót chông, Ngọn đèn đứng gác, Đất quê ta
mênh mông, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Lá Đỏ.
Sau năm 1975, Nhạc sĩ Hoàng Hiệp vào thành phố Hồ Chí Minh, đây là
thời kỳ viết nhiều của ông. Lúc này tư duy sáng tác đang độ chín, đa
dạng, ngoài ca khúc nhạc phim, sân khấu, múa, nói chung là khí nhạc,
khoảng trên 100 tác phẩm, còn ca khúc con số lên tới vài ba trăm. Ca
khúc giai đoạn này chia làm hai hướng. Hướng kế thừa truyền thống cách
mạng 20 năm trước như: Viếng Lăng Bác, Nhớ về Hà Nội, Sao anh
không kể, Tổ Quốc mà không có, Đồng Nội, Khúc thơ tình cho người
lính biển, Thành phố tôi yêu, Hoa Hồng, Trở về dòng sông tuổi thơ... Đó
là những bài hát về quê hương, đất nước, đây cũng là một trong hai đề tài
chủ đạo của ông. Chủ đề thứ hai trong thời gian này là chủ đề lãng mạn,
nói về tình yêu đôi lứa với Con đường có lá me bay sáng tác năm 1977,
sau đó là Mùa chim én bay, Em vẫn đợi anh về, Nơi anh gặp em, Về phía
ấy tình yêu, rồi sau nữa có Đánh mất, Chiều ấy...
Ông có tài phổ thơ. Thơ
với nhạc của ông là một cuộc hôn nhân rất thành công. Hơn 70% lời nhạc
trở thành nổi tiếng được phổ từ thơ. "Ông có thể làm lời rất hay, như Nhớ
về Hà Nội?", Ông nói:"Tôi đã gặp những bài thơ khi đang nuôi nguồn
cảm xúc về đề tài nào đó", sự gặp gỡ đó là định mệnh cho hôn nhân thơ
và nhạc. Ông không nghĩ gì nữa và phổ ngay, những Trường Sơn Đông-
Trường Sơn Tây, Lá Đỏ là như thế. Những cuộc hôn nhân không vụ lợi.
Chính vì thế mà ông có một Trở về dòng sông tuổi thơ gần đây, xao
xuyến đánh thức tình yêu quê hương và tuổi thơ của bao thế hệ.
8. Nhạc sĩ Huy Du:
Nhạc sĩ Huy Du đã ngoài 70 nhưng vẫn còn sức sáng tác, nhạc Huy Du sẽ còn
đi mãi trên dặm dài đất nước. Âm nhạc - nhất là ca khúc - của ông có một vị trí
lớn trong lịch sử âm nhạc cách mạng VN, rất xứng đáng được trao tặng giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. GS -TS Huỳnh Khái Vinh đã viết về
những kỷ niệm với Huy Du không chỉ với tư cách bè bạn mà với cảm nhận của
một khán giả, thính giả yêu mến âm nhạc của người nhạc sĩ tài danh này.
Tôi là người ít hiểu biết về âm nhạc, nhưng rất thích nghe những bài hát chiến đấu của các nhạc sĩ viết về hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc.Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi làm biên tập viên Báo Văn Nghệ, sau đó có nhiều năm ở nước ngoài, và tất nhiên có điều kiện đi nhiều, có phương tiện để nghe nhạc. Lúc bấy giờ nhạc Huy Du đến với tôi một cách sâu sắc, đậm đà tình cảm yêu nước. Tôi chưa một lần gặp Huy Du, nhưng nghe những bài hát như:
"Trên đỉnh Trường Sơn ta hát", "Nổi lửa lên em", "Việt Nam trên đường chúng ta đi", "Anh vẫn hành quân"... của anh, tôi thấy lòng mình cứ hừng hực một khí thế của một người công dân có trách nhiệm với đất nước.
Từ đó, tôi có một mong ước là tìm gặp Huy Du. Rồi một buổi chiều vào cuối năm 1983, chúng tôi gồm: Các anh Vũ Cận, Phan Kế An, Hồ Ngọc Đại, Trung Sơn, Ngô Mạnh Lân,Hoàng Ước và tôi đang ngồi quanh một chiếc bàn tròn trong CLB Ba Đình,bỗng thấy một người tầm thước, tóc bạc, mặt sáng, có đôi mắt rất tươi dường
như lúc nào cũng cười, bước vào khu vực chúng tôi. Cả bàn đều đứng dậy bắt tay thân thiết đầy thiện cảm, và tôi có cảm giác mọi người ngồi đây rất yêu mến, rất quý trọng anh. Nhiều người không biết hát, nhưng đều dễ thuộc nhạc Huy Du, có người thuộc dăm ba câu, có người thuộc cả bài, có người thuộc nhiều bài. Điều đó sau này tôi đã bắt gặp ở nhiều nơi.
Dần dần tôi khám phá ra, người nhạc sĩ này ngoài tính tình rất đáng yêu, trung thực, dễ gần, nhạc của Huy Du vừa có tính cao sang vừa có tính quần chúng rất cao. Đó là cảm nhận của tôi. Có lần, GS -TS Đình Quang đi tắcxi xuống đón anh Huy Du, tôi và sau đó đón nhà văn Tô Hoài đến cửa hàng Sinh Châu ở phố Lý Thường Kiệt để ăn cá hồi. Cố nhiên được ăn cá hồi, uống rượu, thì rất thích,điều đó không quan trọng mà chính không khí tối hôm đó làm tôi vừa ngạc nhiên, vừa khó quên. Đó là không khí có một không hai.
Chúng tôi đang vào cuộc nghe nhau những chuyện mới thì thấy một đoàn người, có nhà thơ Nguyễn Duy, nhà báo Đỗ Quang Hạnh và nhiều kỹ sư, bác sĩ, nghệ sĩ ở các bàn khác ở trong phòng ăn đó và các phòng bên cạnh sang cắt ngang câu chuyện của chúng tôi. Họ chào anh Huy Du trước và bảo ở chỗ này thì chỉ có âm nhạc là hợp, vậy nên trước tiên chúc mừng sức khoẻ anh Huy Du và các anh, sau đó sẽ hát một số bài của Huy Du. Tôi hết sức ngạc nhiên, bởi vì tôi biết rõ, các anh không
phải là ca sĩ, làm các nghề khác nhau, nhưng rất nhiều người đã thuộc và đã hát được nhiều bài hát của Huy Du kể cả những bài nổi tiếng đầu tiên của anh thời chống Pháp... Chứng tỏ nhạc Huy Du đã thấm sâu vào họ đến mức mà họ luôn muốn hát, muốn bộc bạch, muốn phô diễn. Và cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên này
thành cuộc liên hoan đặc biệt hát những bài hát Huy Du kéo dài đến một giờ khuya.
Một lần khác, anh Phan Hồng Giang, lúc đó (1999) là Viện trưởng Viện Văn hoá nghệ thuật có mời các anh: Tô Hoài, Huy Du, Hồ Bắc, Đình Quang, Xuân Sách, Từ Sơn và tôi đến ăn ở quán Pacific cạnh hồ Ngọc Khánh. Câu chuyện đang rôm rả, bỗng nhiên ông chủ quán tiến thẳng đến bàn ăn chúng tôi, lễ phép nói: "Nhân viên em vừa báo cho em biết, trong bàn này có nhạc sĩ Huy Du, đến hôm nay mới được trực tiếp gặp mặt, vì vậy buổi tiệc hôm nay em xin phép được chiêu đãi". Lúc ấy tôi liếc mắt nhìn sang Huy Du và thấy anh rất xúc động. Mà không xúc động sao được.
Ở gần Huy Du hơn 8 năm tôi khám phá ra nhiều điều hay khác nữa, có những chuyện như huyền thoại về người nhạc sĩ này. Nhưng tôi muốn xin kể thêm một chuyện nữa mà hoạ sĩ Đào Đức đã nhiều lần kể cho tôi nghe. Có một buổi chiều Huy Du và Đào Đức đi dạo phố Thái Hà, có hai chị ở tuổi trung niên ngồi nướng ngô để bán. Huy Du và Đào Đức có dáng tầm tầm như nhau về chiều cao và khổ người nên nhìn từ xa dễ lẫn lộn.Hai cô bán ngô nướng đố nhau: Trong hai ông này ông nào là ông Huy Du. Một
cô thì chỉ ông đi bên trái (HD), một cô thì chỉ ông đi bên phải (ĐĐ). Nhưng khi hai ông đến gần, một cô mạnh dạn hỏi: "Chúng tôi biết một trong hai bác là nhạc sĩ Huy Du, vì thường xem trên tivi, chưa gặp mặt bao giờ, vì vậy xin hỏi ai là bác Huy Du?".
Khi Đào Đức chỉ Huy Du nói: "Đây chính là Huy Du". Cô đoán đúng đã cười đầy vẻ viên mãn, và bắt chặt lấy tay nhạc sĩ. Vài câu chuyện mà tôi được biết càng khẳng định sự nhận định của tôi: Huy Du là một nhạc sĩ tài ba, nhạc của ông không chỉ đi sâu vào nhiều đối tượng khán, thính giả rất
rộng, rất sâu mà còn mang tính chất cao sang, rất trang trọng, đầy sức hấp dẫn.
Tôi nghĩ rằng, nhạc Huy Du sẽ còn sống mãi trong lòng hàng triệu người hôm
nay và kể cả sau này.
9. Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện ( 1951) :
Ông sinh ngày: 20/11/1951. Quê quán: Sài Gòn. Tốt nghiệp Khoa Sáng tác hệ Ðại học 5 năm, Nhạc viện TP.HCM, năm 1989. Hiện là bác sĩ khoa Răng Hàm Mặt, Viện Răng Hàm Mặt.
Ông sáng tác âm nhạc từ thời sinh viên, nhưng sau giải phóng
năm 1975, tên tuổi ông mới được biết đến rộng rãi trong giới trẻ
hâm mộ nhạc. Những ca khúc Nguyễn Ngọc Thiện trữ tình và trẻ trung, thiên về đề tài tình yêu và tuổi trẻ.
Ông đã xuất bản hai tập ca khúc và một số bài hát được phát hành trong băng âm thanh và băng video. Nguyễn Ngọc Thiện là thành viên nhóm "Những người bạn". Ðã xuất bản Tập nhạc Nguyễn
Ngọc Thiện và kèm băng cassete tác giả (DIHAVINA và Hội nhạc sĩ VN).
Tác phẩm đầu tay: Ơi cuộc sống mến thương (1979).Các tác phẩm được yêu thích: Này người yêu nhỏ xinh (1989); Ngọn lửa trái tim (1981); Như khúc tình ca (1982); Người mẹ (1984); Chia tay tình đầu (1987); Kỷ niệm mùa hè (1989); Cô bé dỗi hờn
(1991); Nếu em là người tình (1992); Tìm đâu
(1993); Thôi anh hãy về (1994); Cơn mưa lao xao...
10. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý
Ông sinh ngày 5 tháng 3 năm 1925 tại Vinh, Nghệ An, Quê ở Vĩnh Phúc.
Ông nguyên công tác tại Viện nghiên cứu âm nhạc tại cơ sở II tại TP.HCM. Hiện về hưu ở quận 1, TP HCM. Ông là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Năm 1944, ông đi hát trong phòng trà ở Vinh.
Năm 1945 Sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên cứu quốc Nghệ An.Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý hoạt động âm nhạc bắt đầu cũng ở Liên Khu IV.
Tiểu sử:
Năm 1948, ông ở đoàn văn hóa tiền tuyến thuộc Quân huấn cục.
Năm 1950, Ông nhận nhiệm vụ đi xây dựng đoàn văn công của sư đoàn 304 và làm Trưởng đoàn .
Năm 1951, ông giải ngũ và chuyển về công tác ở chi hội văn nghệ liên khu IV.
Năm 1967, ông về hội nhạc sĩ Việt Nam. Và từ năm 1975, ông chuyển về viện nghiên cứu Âm nhạc, Bộ văn hóa, cơ sở II tại TP HCM.
Các giải thưởng nghệ thuật: Giải nhì tổng kết 9 năm Văn nghệ toàn quốc, bài ca Vượt trùng dương(1952); Giải nhất cuộc vận động sáng tác về đề tài phụ nữ, bài Tiễn anh lên đường (1964); Giải nhất sáng tác về đề tài nông nghiệp, bài Bài ca năm tấn (1967); Giải nhất sáng tác cho ngân hàng, bài Em đi làm tín dụng (1971).
Ông đã nhận được Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương kháng chiến chống Mĩ hạng nhất, Huân chương lao động hạng nhì (1984).
Các tác phẩm tiêu biểu:
Pha màu luống cày Mùa hoa nở
Dư âm Vượt trùng dương
Mẹ yêu con Tiển anh lên đường
Bài ca năm tấn Em đi làm tín dụng
Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa Một khúc tâm tình của người Hà tĩnh Người đi xây hồ kẻ gổ Cô nuôi dạy trẻ
Dáng đứng bến tre
11. Nhạc sĩ Phạm Tuyên:
Tiểu sử:
Ông sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, quê ở xã Lương Ngọc, huyện Bình Giang, Hải Dương, hiện cư trú tại Hà Nội. Nguyên công tác tại Bộ văn hóa - thông tin. Đã nghỉ hưu.
Năm 1949, ông công tác tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa V.
Năm 1950, Là đại đội trưởng tại Trường Thiếu sinh quân Việt Nam.
Năm 1954, là các bộ phụ trách Văn - Thể - Mỹ tại khu học xá Trung ương.
Năm 1958, ông về công tác tại đài tiếng nóiViệt Nam, đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ đạo về biên tập âm nhạc.
Ông có mặt từ cuộc kháng chiến chống Pháp với chùm ca khúc về Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn về Thiếu sinh quân Việt Nam.
Năm 1975, Ông cũng có nhiều ca khúc được nhiều người biết đến như: Gửi nắng cho em, Con kênh ta đào, Màu cờ tôi yêu, Thành phố mười mùa hoa......
Ông cũng sáng tác nhiều ca khúc cho giới trẻ, nhiều thế hệ thiếu nhi đã và hát và trở thành bài hát truyền thống của nhiều lứa tuổi như: Tiến lên đoàn viên, Chiếc đèn ông sao, Hành khúc đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh........
Các tác phẩm tiêu biểu:
Chiếc gậy Trường Sơn
Con kênh ta đào
Gởi nắng cho em
Lời ru của đêm
Màu cờ tôi yêu
Như có Bác trong ngày vui đại thắng
Từ một ngã tư đường phố
12. Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu:
Tiểu sử:
Sinh ngày 25 tháng 12 năm 1933, tại Soài Riêng, Camppuchia, trong một gia đình công chức yêu nước người Nghệ An.
Tháng 4 năm 1950 ông tham gia kháng chiến chống Pháp ở tiểu đoàn 308, Tam Bình, Vĩnh Long. Trong một trận ác liệt, ông bị thương và mất chân phải..
1962 - 1968: Học trường Quốc gia âm nhạc Paris
Tháng 2 năm 1969: dạy ở trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn
Tháng 2 năm 1972: Bị tù ở tổng nha Cảnh sát Sài Gòn, rồ Tân Hiệp vì những hoạt động trong phong trào sinh viên yêu nước.
Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đột ngột ra đi vào lúc 21h30phút ngày 26/5/1998 vì bệnh nhồi máu cơ tim.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Trường làng tôi
Mùa thu không trở lại
Đêm lạnh
Tàn đêm
Quê hương ( phổ thơ Giangg Nam)
Một trái tim, một quê hương
Cho con
Lời đất nước gọi ta
Một mai tôi ra đời ( sáng tác cuối cùng)
13. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương:
Ông sinh ngày 22/5/1919, quê ở Thừa Thiên Huế. Nguyên là cố vấn Đoàn ca múa Nhạc nhẹ Sài Gòn, Giáo sư cấp II,Nghệ sĩ nhân dân, Huân chương Độc lập hạng III, cư trú tại quận Bình Thạnh.
Ông là một trong những nhạc sĩ thế hệ đầu tiên về tân nhạc ở nước ta.
Năm 1936, sau khi tốt nghiệp Trung học tại quốc học Huế đã viết trên sông Hương là một trong những tác phẩm tân nhạc đầu tiên ở Việt Nam.
Năm 1939, khi du học ở Hà Nội ông viết Đêm đông nổi tiếng.
Năm 1942, khi làm việc ở trung trâm Bưu điện Sài Gòn, ông viết Bướm hoa. Nguyễn Văn Thương là một trong những tác giả nổi tiếng thời tiền chiến.
Từ thời kì kháng chiến chống Pháp đến hòa bình lập lại ông đã có rất nhiều ca khúc xuất sắc như: Bình Trị Thiên khói lửa và các diệu múa chuyên nghệp.
Ngoài ra còn có những tác phẩm khí nhạc: Lý hoài nam, Buôn làng vào hội, Quê hương.
Ông nguyên là Giám đốc Nhạc viện Hà Nội, đưa hệ trung cấp âm nhạc cổ truyền lên hệ đại học.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Bình Trị Thiên khói lửa
Bướm hoa
Đêm đông
Trên sông hương
14. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu:
Tiểu sử:
Ông sinh 11/11/1924, quê ở Đà Nẵng, hiện cư trú tại TP HCM. Ông có bút danh là Huy Quang.Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc từ những năm 40, trong nhóm tân nhạc.
Sau Trầu cau, sáng tác của ông được biết rộng rãi là bài hát Đoàn Giải phóng quân viết cuối năm 1945.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông gia nhập quân đội, công tác ở liên khu V.
Năm 1955, sau khi tạp kết ra Bắc, ông công tác ở ban Nhạc Vũ, hội văn nghệ Việt Nam.
Năm 1957, khi thành lập Hội nhạc sĩ Việt Nam, ông được cử vào Ban chấp hành, là ủy viên thường vụ và công tác tại hội.
Âm nhạc của ông có giai điệu trau chuốt, trữ tình, ngay cả khi trong thể loại hành khúc.Ông có nhiều thành công khi viết về đề tài tình yêu đôi lứa trong tình cảm chung của dân tộc.
Ông là một trong những nhạc sĩ đàn anh, có rất nhiều đóng góp xứng đáng.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Những ánh sao đêm
Sợi nhớ sợi thương
Hành khúc ngày và đêm
Cuộc đời vẫn đẹp sao
Thuyền và biển
15. Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát:
Tiểu sử:
Ông sinh ngày 11/2/1910, quê ở Hà Nội. Là vi Chủ tịch đầu tiên và duy nhất của hội nhạc sĩ Việt Nam.
Ông là "người anh cả", "Con chim đầu đàn" của nền âm nhạc mới Việt Nam.
Ông là một trong số hiếm hoi các nhạc sĩ hiếm hoi các học viên của Viễn Đông nhạc viện mở ở Hà Nội thập niên 30.
Năm 1942, ông tham gia nhóm " xuân thu Nhã tập" cùng với tiêu chí trên và đã thực hiện phổ nhạc một cách độc đáo bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ (một nhà thơ thành viên của nhóm).
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông có Tay súng sẵn sàng, tay lúa vững chắc như cùng nhạc sĩ cả nước thúc dục chiến đấu.
Ông đã truyền được nhọn lửa gìn giữ bản sắc dân tộc sang các thế hệ nhạc sĩ lớp sau bằng bài viết, bằng tác phẩm, bằng cả những cuộc trò chuyện.
Nguyễn Xuân Khoát để lại một dấu ấn không phai mờ trong lịch sử tân nhạc Việt Nam, trong lịch sử Hội nhạc sĩ Việt Nam.
Các tác phẩm tiêu biểu:
Bình minh
Màu thời gian
Con voi
Hát mừng bộ đội chiến thắng
Tay súng sẵn sàng, tay lúa vững chắc
Theo lời Bác gọi
16. Nhạc sĩ Phan Nhân:
Tên khai sinh của ông là Liêu Nguyễn Phan Nhân, Sinh ngày 15/5/1930, quê ở Bình Đức, Lonh Xuyên, An Giang. Công tác ở đài tiếng nói VN TP HCM. Đã nghĩ hưu, cư trú tại TP HCM.
Tiểu sử:
Ông tham gia quân đội từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp.
Trong sáng tác của Phan Nhân, cái "tôi" trữ tình hòa quyện với cảm xúc về tình yêu quê hương đất nước.
Những tác phẩm: Hà Nội - niềm tin và hy vọng, Tình ca đất nước, Cây đàn ghi-ta của Victor Hara...và những bài hát viết cho trẻ em: Em là con gái má Út Tịch, Chú ếch con, Chú cừu Mộc Châu, Em là bông lúa Điện Biên, Hàng cây ơn Bác..
Các tác phẩm tiêu biểu:
Hà Nội - niềm tin và hy vọng
Chú ếch con
Hàng cây ơn Bác
Em là con gái má Út Tịch
17. Nhạc sĩ Trần Long Ẩn:
Tiểu sử:
Trần Long Ẩn còn có bút danh là Ðoàn Công Nhân, sinh ngày
29/9/1943, quê ở Bình Ðịnh. Tốt nghiệp Đại học Văn khoa Sài
Gòn, ông tham gia phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe" và nổi
lên với bài "Người mẹ bàn cờ" và một số ca khúc khác. Sau đó,
ông ra Bắc và tu nghiệp sáng tác tại Nhạc viện Hà Nội.
Ca khúc của Trần Long Ẩn vừa da diết tình cảm vửa phảng phất
tính triết học. Ông đã tự giới thiệu rất thành công những ca khúc
của riêng ông trên sân khấu cho sinh viên và cho các thính giả trẻ.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Trên mảnh đất tình người, Ði qua
vùng cỏ non, Một đời người một rừng cây, Ðàn sáo Hậu Giang,
Ðêm thành phố đầy sao, Xin làm người hát rong, Tiếng hát từ ánh
lửa mặt trời...
18. Nhạc sĩ Trần Hoàn:
Tên khai sinh của ông là Nguyễn Tăng Hích, còn có bút danh là Hồ Thuận An, sinh 1928, quê ở Hải Lăng,Quảng Trị, nguyên Bộ trưởng Bộ văn Hóa thông tin, hiện là phó ban Văn hóa tư tưởng tại quận Ba Đình - Hà Nội.
Trần Hoàn tham gia hoạt động âm nhạc trong kháng chiến chống Pháp.
Sau ngày hòa bình lập lại 1954, Trần Hoàn về làm giám đốc Sở văn hóa Hải Phòng và ông vẫn tiếp tục sáng tác.
Một điều đặt biệt càng về giai đoạn sau tác phẩm càng dồi dào và càng gây sự chú ý của đông đảo thính giả.
Tiểu sử:
Các tác phẩm tiêu biểu:
Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm
Khúc hát người Hà Nội
Lời người ra đi
Lời Bác dặn trước lúc đi xa
Lời ru trên nương
Sơn nữ ca
Một mùa xuân nho nhỏ
Tình ca mùa xuân
19.Nhạc sĩ Trương Quang Lục:
Tiểu sử:
Ông sinh ngày 25/2/1933, quê tại xã Tịnh Khê(Sơn Mỹ), huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quãng Ngãi.
Là hội viên hội nhạc sĩ Việt Nam, đồng thời là hội viên hội Nhà báo Việt Nam. Hiện công tác tại báo "Sài Gòn giải phóng". Cư trú tại quận Tân Bình, TP HCM.
Trong kháng chiến chống Pháp, Trương Quang Lục đã có một số bài hát được phổ biến như: Chuyến tàu trăng, Bảo vệ hòa bình, Đố cờ, Hoa bên suối.
Sau hòa bình, ông chuyển ra miền Bắc vừa làm kỷ sư hóa chất ở nhà máy Super-phosphate Lâm Thao, ông vừa sáng tác ca khúc và nhiều tác phẩm ra đời ở đó.
Trương Quang Lục cũng tham gia viết nhiều nhạc phim, nhạc sân khấu, múa rối, một số bài nghiên cứu dân ca, một số bài giới thiệu những ca khúc nổi tiếng của nhiều tác giả trên báo Sài Gòn giải phóng Chủ nhật.
Các tác phẩm tiêu biểu
Vàm cỏ đông
Trái đất này là của chúng em
Tuổi mười lăm
Màu mực tím
Hoa sen tháp mười
20.Nhạc sĩ Vũ Hoàng:
Nhạc sĩ Vũ Hoàng tên thật là Vũ Bảo Hoàng, sinh ngày 23/04/1956 tại Biên Hòa. Ông tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm TP.HCM (1976 - 1979), tốt nghiệp Khoa Sáng tác - lý luận - chỉ huy bậc Ðại học Nhạc viện TP.HCM (1984 - 1989)
Tiểu sử:
Những sáng tác ca khúc tiêu biểu:
- Gửi lại em (1978).
- Hương tràm (thơ Đỗ Trung Quân - 1978).
- Nói với em (1982).
- Bụi phấn (viết cùng Lê Văn Lộc - 1982).
- Hương thầm (thơ Phan thị Thanh Nhàn - 1984).
- Phượng hồng (thơ Đỗ Trung Quân - 1988).
- Cung đàn xanh (1990).
- Hương quê (1994).
- Khát vọng tuổi trẻ (1996).
- Mùa hè xanh (1998).
21. Nhạc sĩ Văn Chung:
Văn Chung tên thật là Mai Văn Chung, sinh ngày 20 tháng 6 1914, quê quán ở Phù Tiên, Hải Hưng, nay thuộc tỉnh Hưng Yên.
Tiểu sử:
Năm 1935 ông viết bản nhạc đầu tay Tiếng sáo chăn trâu. Sau đó cũng các thành viên của Tricéa, ông tiếp tục sáng tác những bản như Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937), Hồ xuân và thiếu nữ (1939).
Sau Cách mạng tháng Tám, ông về làm việc tại Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam.Và khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Văn Chung cùng các văn nghệ sĩ lên chiến khu, phụ trách văn nghệ trong một số đơn vị quân đội và sau đó chuyển về Đoàn văn công Tổng cục Chính trị.
Hòa bình lập lại, ông về công tác tại Bộ Văn hóa, từ 1964 ông là giám đốc Nhà hát Giao hưởng - Hợp xướng Nhạc vũ kịch Việt Nam. Ông còn là uỷ viên thường vụ Ban chấp hành Hội nhạc sĩ Việt Nam khoá II.
Giai đoạn sau 1954, ông lại sáng tác mạnh mẽ. Ca khúc của ông đề cập đến nhiều đề tài, nhưng về đề tài nông thôn kháng chiến, ông có nhiều ca khúc thành công như: Hò dân cày (1954), Gái thôn Đoài, trai thôn Thượng (1956), Tính hẹn cùng tình (1959), Ba cô gái đảm (1963), Lúa cấy thẳng hàng (1966)...
Văn Chung cũng có nhiều ca khúc viết cho thiếu nhi thành công như Lỳ và Sáo, Lượn tròn lượn khéo, Đếm sao, Trăng theo em rước đèn, Trăng xinh ngoan... và một vài kịch hát Sói xám ăn gì?, Miu vàng của mẹ, Những đoá hoa xuân...
Văn Chung mất ngày 27 tháng 8 năm 1984 tại Hà Nội. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007
Văn Chung cũng có nhiều ca khúc viết cho thiếu nhi thành công như Lỳ và Sáo, Lượn tròn lượn khéo, Đếm sao, Trăng theo em rước đèn, Trăng xinh ngoan... và một vài kịch hát Sói xám ăn gì?, Miu vàng của mẹ, Những đoá hoa xuân...
B/ PHAÀN II:
TÀI LIỆU NHẠC SĨ NƯỚC NGOÀI
1. Nhạc sĩ
Wolfgang Amadeus Mozart:
Tiểu sử:
Wolfgang Amadeus Mozart sinh ngày 27 tháng giêng, 1756, tại Salzburg, Thánh chế La Mã (nay Áo). Leopold Mozart, một nhạc sĩ vĩ cầm và cũng là một giáo viên, đã đích thân giáo dục con trai của ông.
Cậu bắt đầu soạn nhạc cho đàn phím từ lúc năm tuổi, viết những bản nhạc hòa tấu khi cậu lên sáu.
Những bản sônat cho đàn vĩ cầm được xuất bản khi cậu
lên tám. Thật ra có thể nói rằng Mozart đã khởi đầu sự nghiệp âm nhạc trước thời
gian cậu lên năm và theo đuổi cho đến ngày qua đời, ngót ba mươi năm âm nhạc.
Mozart có ký ức chi tiết âm nhạc phi thường, ông có thể hợp nhất tinh hoa âm nhạc khác nhau của quốc gia này với quốc gia khác vào trong tác phẩm của mình. Tại
Luân Đôn, Mozart gặp Johann Christian Bach, con trai của nhạc gia vĩ đại Johann Sebastian Bach, Christian bị gây ấn tượng, đã trở thành người dẫn dắt nhạc sĩ Mozart trẻ và quan tâm theo dõi sự nghiệp của cậu. Trở về nước, Mozart nghiên cứu tổng phổ âm nhạc của J. C. Bach, và ảnh hưởng của Bach được thể hiện trong tác phẩm của Mozart vào thời gian ấy.
Sự nghiệp:
Khoảng cuối năm 1769, năng khiếu âm nhạc sớm phát triển của Mozart đã bắt đầu nở rộ, tuy mới chỉ lên mười ba, cậu bắt đầu sự nghiệp sáng tác một cách nghiêm túc. Đức Tổng giám mục tại Salzburg đã chấp nhận Mozart như một nhạc trưởng, bằng cách cấp một khoản thu nhập cho cậu.
Tại Milano Mozart được ủy nhiệm viết opera, vở Mitridate. Vở này sau đó, do chính Mozart chỉ huy, đã được tán thưởng nồng nhiệt. Trở về Salzburg, Mozart biên soạn một loạt symphony và nhạc phụng sự cho Giáo hội.
Việc trở về Salzburg của Wolfgang vào 1773 là một trong những cột mốc, lúc ấy có một sự bùng nổ sáng tác khác thường, và một sự chuyển tiếp ra khỏi ảnh hưởng âm nhạc Ý để thiên về phong cách âm nhạc Đức, được đại diện bởi Joseph Haydn.
Tháng 8 năm 1777, ở tuổi hai mươi mốt, Wolfgang xin từ nhiệm, và Bá tước Colloredo đã đồng ý. Thời gian này, Leopold quyết định rằng ông phải còn ở lại phục vụ nhà thờ. Cho nên Wolfgang cùng mẹ đã chuyển đi München, rồi đến Mannheim.
Tại Paris, Mozart biên soạn giáo trình âm nhạc, tiếp xúc các nhà xuất bản, viết bất cứ cái gì anh có thể bán hoặc trình diễn - những bản sônat cho đàn violin và đàn phím, một concero cho sáo và thụ cầm, những bản biến tấu đàn phím, và symphony Paris của anh. công vang dội sau vở opera Le nozze di Figaro (Đám cưới Figaro), Mozart du
Vào 1781 anh tới München để diễn opera, vở
Idomeneo, một thành công rực rỡ.
Năm 1782, kết hôn với tiểu thư Constanze, em gái của Aloysia,
mặc dù gặp sự phản đối mạnh mẽ của cha ruột.
Năm 1787, Mozart hoàn thành vở Don Giovanni. Đa số mọi người khen ngợi, nhưng có nhiều ý kiến cho rằng âm nhạc của ông ngày càng khó tiếp cận hơn. Phong thái âm nhạc nhẹ nhàng trước đây của ông đang biến mất dần; nhạc công và thính giả có nhiều lời than phiền là ngày càng khó cảm thụ hơn.
Mười năm cuối đời của Mozart là một thời kỳ dài của cả sự đau khổ do tài chính kiệt quệ, lẫn sức mạnh sáng tạo khác thường.
Năm 1788 đã không bao giờ được trình tấu lúc sinh thời của ông. Tổng cộng, những năm này ông đã sáng tác những hơn hai trăm tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau.
Năm 1791 Mozart gặp khó khăn trong việc soạn nhạc cho vở opera Die Zauberfloete (Cây sáo thần), khi hợp tác với văn hào Emanuel Schikaneder.
Công việc bị gián đoạn trong tháng 7 vì một chuyến viếng thăm của nhân vật lạ mặt huyền bí đã đưa ra đề nghị hậu hĩnh cho tác phẩm Requiem.
Ông mất ngày 4 tháng 12 năm 1791. Hôm sau, bạn bè đến tham dự tang lễ ngoài trời;
Gia đình Mozart vì khó khăn đã đưa thi hài chôn trong một nghĩa trang công cộng của người nghèo để Mozart yên giấc ngàn thu. Ở đó, mộ chôn chi chít và cho đến ngày nay người ta vẫn chưa xác định được mộ ông chôn ở chỗ nào.
2. Nhạc sĩ
Ludwig van Beethoven:
Ludwig van Beethoven (17 tháng 12 năm 1770 – 26 tháng 3 năm 1827) là một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Phần lớn thời gian ông sống ở Wien, Áo. Ông là một hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn.
Cuộc đời:
Beethoven sinh tại Bonn, Đức, cha là Johann van Beethoven (1740-1792), người gốc Vlaanderen, và mẹ là Magdalena Keverich van Beethoven (1744-1787). Cho đến tận thời gian gần đây, nhiều công trình tham khảo coi ngày 16 tháng 12 là "ngày sinh" của Beethoven, với lý do là ông được rửa tội vào ngày 17 tháng 12 và trẻ con vào thời đó thường đ
 









Các ý kiến mới nhất