Tìm kiếm Bài giảng
Tập huấn hoạt động GDNGLL 12

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Hà Công Chính (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:28' 25-02-2009
Dung lượng: 277.5 KB
Số lượt tải: 15
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Hà Công Chính (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:28' 25-02-2009
Dung lượng: 277.5 KB
Số lượt tải: 15
Số lượt thích:
0 người
PHÁP LUẬT VÀ SỰ BÌNH ĐẲNG
Nghệ An, tháng 6 năm 2008
Ths. Phạm Kim Dung
PHÁP LUẬT VÀ SỰ BÌNH ĐẲNG
Bài 3 – CÔNG DÂN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT (1 tiết )
Bài 4 - QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI (3 tiết )
Bài 5 - BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO (2 tiết )
Nội dung
* BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
* QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG XÃ HỘI
* TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN
I. BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
1. Một số thuật ngữ
2. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
3. Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
1. Khái niệm
* BÌNH ĐẲNG
* QUYỀN BÌNH ĐẲNG
* QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
BÌNH ĐẲNG
BÌNH ĐẲNG
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
(Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791)
BÌNH ĐẲNG
Bình đẳng
Là sự ngang hàng nhau về một mặt nào đó trong xã hội.
Ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi. (Từ điển Tiếng Việt)
Là việc được đối xử như nhau và ngang về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá... không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội.
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ khẳng định :
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền (Điều 1) ;
Mọi người sinh ra đều được hưởng các quyền tự do được nêu trong Tuyên ngôn này, không phân biệt dân tộc, chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, chính kiến, tài sản, thành phần xã hội (Điều 2);
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
Không được phân biệt đối xử với con người căn cứ vào địa vị chính trị - pháp lý hoặc địa vị quốc tế của quốc gia hay vùng lãnh thổ mà người đó đang lệ thuộc, dù đó là vùng lãnh thổ độc lập, quản thác, không có chủ quyền hoặc bị hạn chế về chủ quyền (Điều 2);
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và tuyên bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/ 1948)
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
QUYỀN BÌNH ĐẲNG Là quyền được đối xử như nhau và ngang nhau giữa các cá nhân trong xã hội, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội.
Quyền bình đẳng xuất phát từ quyền con người và quyền cơ bản nhất của quyền con người.
Trong quan hệ pháp luật quyền bình đẳng được hiểu là quyền của các chủ thể (các tổ chức, cá nhân) được Nhà nước đối xử như nhau và ngang nhau (thông qua các quy định của pháp luật) trong các lĩnh vực của đời sống XH .
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
Hiến pháp 1946
Điều thứ 6
Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá.
Điều thứ 18
Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền.
Điều thứ 9
Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Hiến pháp năm 1992
Điều 52.
“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Là một trong những nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ.
Là sự ghi nhận bằng pháp luật quyền bình đẳng của công dân trong nhà nước và xã hội.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Bình đẳng trước pháp luật được hiểu là:
Mọi công dân đều có quyền lợi, nghĩa vụ như nhau và ngang nhau đối với Nhà nước;
Bất kỳ một công dân nào có hành vi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bị xử lý theo quy định của pháp luật mà không bị phân biệt bởi lý do giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, vị trí, chức vụ, địa vị và thành phần xã hội.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.(Điều 63 Hiến pháp 1992)
Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. (khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự)
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Bình đẳng trước pháp luật gồm:
- Bình đẳng về quyền lợi
- Bình đẳng về nghĩa vụ
- Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
giữa các công dân và các chủ thể trong quan hệ pháp luật.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Quyền bình đẳng
- Căn cứ hình thành
- Chủ thể
- Nội hàm
- Chế tài áp dụng khi vi phạm
Quyền bình đẳng trước pháp luật
2.Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Điều 54 Hiến pháp năm 1992
Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Mọi công dân đều có quyền như nhau và ngang nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mọi công dân đều có nghĩa vụ như nhau đối với nhà nước, xã hội.
Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh như nhau (như quy định của pháp luật), mọi công dân đều được hưởng quyền và phải làm nghĩa vụ như nhau.
3. Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý
Là nghĩa vụ mà chủ thể vi phạm pháp luật phải thực hiện (gánh chịu) những biện pháp cưỡng chế do Nhà nước áp dụng.
Mục đích việc áp dụng chế độTNPL là để trừng phạt người có hành vi vi phạm pháp luật, buộc họ phải chấm dứt hành vi phạm, khắc phục hậu quả của hành vi đó.
TNPL chỉ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng theo thủ tục PL quy định.
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
Bất kỳ ai vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý, đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.
Việc xét xử những người vi phạm pháp luật chỉ căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm và tuân theo các quy định của pháp luật.
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
Nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự
Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.
(Điều 3 – BLHS)
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
Nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự là: Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.
Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. (Điều 4 – BLTTHS)
Bài tập 1
Hãy chọn đáp án đúng trong bài tập sau.
Công dân bình đẳng trước pháp luật được hiểu là:
A.Mọi công dân đều được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
B.Mọi công dân vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định.
C.Mọi công dân có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý giống nhau.
D. Mọi công dân đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật.
Bài tập 2
Hãy lựa chon đáp án đúng trong bài tập sau
Công dân bình đẳng trước pháp luật được hiểu là:
A. Mọi công dân có quyền và nghĩa vụ giống nhau.
B. Mọi công dân đều được hưởng quyền và làm nghĩa vụ trước nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật.
C. Mọi công dân vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý.
D. Mọi công dân vi phạm pháp luật đều bị xử lý.
E. Công dân nào cũng được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội
G. Công dân nào cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình.
Bài tập 3
Công dân bình đẳng vê trách nhiệm pháp lý được hiểu là:
A. Công dân nào vi phạm pháp luật cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.
B. Công dân nào vi phạm pháp luật cũng bị xử lý theo quy định của pháp luật.
C. Công dân nào vi phạm pháp luật cũng bị truy tố và xét xử trước Toà án.
D. Bất kỳ công dân nào vi phạm hành chính cũng phải chịu trách nhiệm hành chính.
E. Công dân ở bất kỳ độ tuổi nào vi phạm pháp luật cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý như nhau.
G. Công dân nào do thiếu hiểu biết màvi phạm pháp luật thì không bị xử lý theo quy định của pháp luật.
II.QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1. Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình
2. Bình đẳng trong lao động
3. Bình đẳng trong kinh doanh
Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình
Bình đẳng giữa vợ, chồng
Bình đẳng giữa cha, mẹ và con
Bình đẳng giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình
Bình đẳng giữa vợ, chồng
Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ, chồng bình đẳng. (Điều 64 Hiến pháp 1992)
“Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”. (Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình)
Bình đẳng giữa vợ, chồng
Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.
Về nhân thân
Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, uy tín cho nhau, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.
Vợ chồng giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.
Bình đẳng giữa vợ, chồng
Về tài sản
Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, định đoạt và sử dụng tài sản chung của gia đình.
Vợ, chồng có quyền đại diện cho nhau, thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật.
- Vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện đáp ứng nhu cầu của gia đình.
- Vợ, chồng cùng có trách nhiệm nuôi dạy con và xây dựng gia đình hạnh phúc.
Bình đẳng giữa cha, mẹ và con
Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con
Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con. (Điều 64 HP1992)
Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú”. (Điều 2.Luật HNGĐ)
Cha mẹ có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ lợi ích hợp pháp của con
Bình đẳng giữa cha, mẹ và con
Con trai, con gái đều có quyền được cha, mẹ chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ.
Con có quyền có tài sản riêng.
Bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình
Anh, chị em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau.
Các thành viên cùng sống trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo cuộc sống chung của gia đình, đóng góp công sức, tiền và tài sản để duy trì đời sống chung, cùng nhau chia sẻ công việc gia đình
Bình đẳng trong lao động
Bình đẳng trong thực hiện quyền lao động;
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động trong quan hệ lao động;
Bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ
Bình đẳng trong thực hiện
quyền lao động
Người lao động được tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc, nơi học nghề phù hợp với nhu cầu của mình.
Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm.
Mọi công dân có quyền tạo ra việc làm theo quy định của pháp luật, phù hợp với khả năng và nhu cầu của bản thân mà không bị phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, giới tính….
Bình đẳng trong thực hiện
quyền lao động
“Cá nhân có quyền lao động.
Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo” (Bộ luật dân sự - Điều 49. Quyền lao động).
“Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ” (Điều 5 Bộ luật lao động).
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết.
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm.
Người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn lao động, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh;
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Hợp đồng lao động là “sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.
Đặc điểm của hợp đồng lao động là sự bình đẳng trong quan hệ song phương (giữa người lao động và người sử dụng lao động) và được thể hiện bằng sự thoả thuận.
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Việc giao kết hợp đồng lao động được tiến hành theo phương thức thương lượng, thoả thuận trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng, hợp tác tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau và không trái với pháp luật.
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Sự thoả thuận trong giao kết hợp đồng lao động thể hiện tính tự nguyện và quyền bình đẳng trong lao động của công dân.
Một hợp đồng nếu vi phạm nguyên tắc này bị coi là vô hiệu.
Các bên tham gia quan hệ pháp luật phải trực tiếp giao kết và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng đã thoả thuận.
Bình đẳng giữa lao động nam
và lao động nữ
Bình đẳng về cơ hội tiếp cận việc làm; về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng;
Được đối xử bình đẳng về tiền công, tiền thưởng, nâng bậc lương bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác;
Bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng và đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.
Bình đẳng giữa lao động nam
và lao động nữ
Bộ luật lao động Điều 111*
1- Nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ.
Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động.
2- Người sử dụng lao động phải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc khi người đó đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ mà doanh nghiệp đang cần.
3- Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.
Bình đẳng trong kinh doanh
Bình đẳng trong kinh doanh thể hiện thông qua:
quyền tự do kinh doanh, quyền tự chủ trong đăng ký kinh doanh
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh trong hoạt động đầu tư, kinh doanh.
bình đẳng giữa các chủ thể (thuộc các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường) trong hoạt động kinh doanh
Bình đẳng trong kinh doanh
“Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. (Điều 5 - Luật doanh nghiệp)
III. TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC
Bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng của công dân
Ghi nhận trong Hiến pháp, cụ thể hoá trong luật.
Tuyên truyền phổ biến trên phương tiện thông tin đại chúng
Ban hành, công bố công khai về trình tự, thủ tục và cách thức, thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân.
Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền công dân.
TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC
hoạt động tố tụng bảo đảm nguyên tắc
- Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.
- Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
- Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án.
- Việc xét xử được tiến hành công khai.
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng.
IV. BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO
1. Bình đẳng giữa các dân tộc
2. Bình đẳng giữa các tôn giáo
Bình đẳng giữa các dân tộc
Nhà nước CHXHCN Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.
Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.(Điều 5 Hiến pháp 1992)
Bình đẳng giữa các dân tộc
Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước ta.
QH : Hội đồng dân tộc
CP: Uỷ ban Dân tộc
Nguyên tắc cơ bản của Đảng về chính sách dân tộc là: “các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển…”
Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.
Bình đẳng giữa các dân tộc
Tỷ lệ người dân tộc tham gia cơ quan đại biểu nhân dân :
Quốc hội 2002-2007 - Tổng đại biểu : 498 - Đại biểu người dân tộc: 86, tỷ lệ: 17.27%
HĐND 1999-2004
- Cấp tỉnh tổng số đại biểu : 3.462
- Đại biểu người dân tộc : 489, tỷ lệ : 14%
- Cấp huyện tổng số đại biểu : 18.748
- Đại biểu người dân tộc : 3.192 , chiếm tỷ lệ : 17%
- Cấp xã tổng số đại biểu : 219.438
- Đại biểu người dân tộc : 42.500 , chiếm tỷ lệ : 19%
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.
(Điều 70 Hiến pháp 1992)
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Là nguyên tắc cơ bản trong chính sách tôn giáo của Nhà nước ta.
Thể hiện trên ba mặt đó là :
- Bình đẳng về mặt tín ngưỡng;
- Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ (tôn giáo và công dân);
- Bình đẳng về pháp luật.
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Bình đẳng về tín ngưỡng:
Mọi công dân đều có quyền tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tôn giáo nào
Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ :
Người theo tôn giáo, người không theo tôn giáo hoặc người theo các tôn giáo khác nhau đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật, không có sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo.
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Bình đẳng về pháp luật:
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không có sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo.
Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được pháp luật bảo hộ; mọi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật.
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Chính sách của Nhà nước
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của nhân dân.
Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm quyền tự do tôn giáo lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây rối trật tự công cộng, làm tổn hại đến an ninh quốc gia.
Xin chân thành cảm ơn
Nghệ An, tháng 6 năm 2008
Ths. Phạm Kim Dung
PHÁP LUẬT VÀ SỰ BÌNH ĐẲNG
Bài 3 – CÔNG DÂN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT (1 tiết )
Bài 4 - QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI (3 tiết )
Bài 5 - BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO (2 tiết )
Nội dung
* BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
* QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG XÃ HỘI
* TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN
I. BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
1. Một số thuật ngữ
2. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
3. Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
1. Khái niệm
* BÌNH ĐẲNG
* QUYỀN BÌNH ĐẲNG
* QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
BÌNH ĐẲNG
BÌNH ĐẲNG
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
(Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791)
BÌNH ĐẲNG
Bình đẳng
Là sự ngang hàng nhau về một mặt nào đó trong xã hội.
Ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi. (Từ điển Tiếng Việt)
Là việc được đối xử như nhau và ngang về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá... không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội.
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ khẳng định :
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền (Điều 1) ;
Mọi người sinh ra đều được hưởng các quyền tự do được nêu trong Tuyên ngôn này, không phân biệt dân tộc, chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, chính kiến, tài sản, thành phần xã hội (Điều 2);
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
Không được phân biệt đối xử với con người căn cứ vào địa vị chính trị - pháp lý hoặc địa vị quốc tế của quốc gia hay vùng lãnh thổ mà người đó đang lệ thuộc, dù đó là vùng lãnh thổ độc lập, quản thác, không có chủ quyền hoặc bị hạn chế về chủ quyền (Điều 2);
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và tuyên bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/ 1948)
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
QUYỀN BÌNH ĐẲNG Là quyền được đối xử như nhau và ngang nhau giữa các cá nhân trong xã hội, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội.
Quyền bình đẳng xuất phát từ quyền con người và quyền cơ bản nhất của quyền con người.
Trong quan hệ pháp luật quyền bình đẳng được hiểu là quyền của các chủ thể (các tổ chức, cá nhân) được Nhà nước đối xử như nhau và ngang nhau (thông qua các quy định của pháp luật) trong các lĩnh vực của đời sống XH .
QUYỀN BÌNH ĐẲNG
Hiến pháp 1946
Điều thứ 6
Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá.
Điều thứ 18
Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền.
Điều thứ 9
Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Hiến pháp năm 1992
Điều 52.
“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Là một trong những nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ.
Là sự ghi nhận bằng pháp luật quyền bình đẳng của công dân trong nhà nước và xã hội.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Bình đẳng trước pháp luật được hiểu là:
Mọi công dân đều có quyền lợi, nghĩa vụ như nhau và ngang nhau đối với Nhà nước;
Bất kỳ một công dân nào có hành vi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bị xử lý theo quy định của pháp luật mà không bị phân biệt bởi lý do giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, vị trí, chức vụ, địa vị và thành phần xã hội.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.(Điều 63 Hiến pháp 1992)
Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. (khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự)
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Bình đẳng trước pháp luật gồm:
- Bình đẳng về quyền lợi
- Bình đẳng về nghĩa vụ
- Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
giữa các công dân và các chủ thể trong quan hệ pháp luật.
BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT
Quyền bình đẳng
- Căn cứ hình thành
- Chủ thể
- Nội hàm
- Chế tài áp dụng khi vi phạm
Quyền bình đẳng trước pháp luật
2.Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Điều 54 Hiến pháp năm 1992
Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Mọi công dân đều có quyền như nhau và ngang nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mọi công dân đều có nghĩa vụ như nhau đối với nhà nước, xã hội.
Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh như nhau (như quy định của pháp luật), mọi công dân đều được hưởng quyền và phải làm nghĩa vụ như nhau.
3. Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý
Là nghĩa vụ mà chủ thể vi phạm pháp luật phải thực hiện (gánh chịu) những biện pháp cưỡng chế do Nhà nước áp dụng.
Mục đích việc áp dụng chế độTNPL là để trừng phạt người có hành vi vi phạm pháp luật, buộc họ phải chấm dứt hành vi phạm, khắc phục hậu quả của hành vi đó.
TNPL chỉ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng theo thủ tục PL quy định.
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
Bất kỳ ai vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý, đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.
Việc xét xử những người vi phạm pháp luật chỉ căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm và tuân theo các quy định của pháp luật.
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
Nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự
Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.
(Điều 3 – BLHS)
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý
Nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự là: Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.
Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. (Điều 4 – BLTTHS)
Bài tập 1
Hãy chọn đáp án đúng trong bài tập sau.
Công dân bình đẳng trước pháp luật được hiểu là:
A.Mọi công dân đều được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
B.Mọi công dân vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định.
C.Mọi công dân có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý giống nhau.
D. Mọi công dân đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật.
Bài tập 2
Hãy lựa chon đáp án đúng trong bài tập sau
Công dân bình đẳng trước pháp luật được hiểu là:
A. Mọi công dân có quyền và nghĩa vụ giống nhau.
B. Mọi công dân đều được hưởng quyền và làm nghĩa vụ trước nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật.
C. Mọi công dân vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý.
D. Mọi công dân vi phạm pháp luật đều bị xử lý.
E. Công dân nào cũng được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội
G. Công dân nào cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình.
Bài tập 3
Công dân bình đẳng vê trách nhiệm pháp lý được hiểu là:
A. Công dân nào vi phạm pháp luật cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.
B. Công dân nào vi phạm pháp luật cũng bị xử lý theo quy định của pháp luật.
C. Công dân nào vi phạm pháp luật cũng bị truy tố và xét xử trước Toà án.
D. Bất kỳ công dân nào vi phạm hành chính cũng phải chịu trách nhiệm hành chính.
E. Công dân ở bất kỳ độ tuổi nào vi phạm pháp luật cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý như nhau.
G. Công dân nào do thiếu hiểu biết màvi phạm pháp luật thì không bị xử lý theo quy định của pháp luật.
II.QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1. Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình
2. Bình đẳng trong lao động
3. Bình đẳng trong kinh doanh
Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình
Bình đẳng giữa vợ, chồng
Bình đẳng giữa cha, mẹ và con
Bình đẳng giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình
Bình đẳng giữa vợ, chồng
Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ, chồng bình đẳng. (Điều 64 Hiến pháp 1992)
“Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”. (Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình)
Bình đẳng giữa vợ, chồng
Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.
Về nhân thân
Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, uy tín cho nhau, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.
Vợ chồng giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.
Bình đẳng giữa vợ, chồng
Về tài sản
Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, định đoạt và sử dụng tài sản chung của gia đình.
Vợ, chồng có quyền đại diện cho nhau, thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật.
- Vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện đáp ứng nhu cầu của gia đình.
- Vợ, chồng cùng có trách nhiệm nuôi dạy con và xây dựng gia đình hạnh phúc.
Bình đẳng giữa cha, mẹ và con
Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con
Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con. (Điều 64 HP1992)
Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú”. (Điều 2.Luật HNGĐ)
Cha mẹ có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ lợi ích hợp pháp của con
Bình đẳng giữa cha, mẹ và con
Con trai, con gái đều có quyền được cha, mẹ chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ.
Con có quyền có tài sản riêng.
Bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình
Anh, chị em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau.
Các thành viên cùng sống trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo cuộc sống chung của gia đình, đóng góp công sức, tiền và tài sản để duy trì đời sống chung, cùng nhau chia sẻ công việc gia đình
Bình đẳng trong lao động
Bình đẳng trong thực hiện quyền lao động;
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động trong quan hệ lao động;
Bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ
Bình đẳng trong thực hiện
quyền lao động
Người lao động được tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc, nơi học nghề phù hợp với nhu cầu của mình.
Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm.
Mọi công dân có quyền tạo ra việc làm theo quy định của pháp luật, phù hợp với khả năng và nhu cầu của bản thân mà không bị phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, giới tính….
Bình đẳng trong thực hiện
quyền lao động
“Cá nhân có quyền lao động.
Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo” (Bộ luật dân sự - Điều 49. Quyền lao động).
“Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ” (Điều 5 Bộ luật lao động).
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết.
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm.
Người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn lao động, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh;
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Hợp đồng lao động là “sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.
Đặc điểm của hợp đồng lao động là sự bình đẳng trong quan hệ song phương (giữa người lao động và người sử dụng lao động) và được thể hiện bằng sự thoả thuận.
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Việc giao kết hợp đồng lao động được tiến hành theo phương thức thương lượng, thoả thuận trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng, hợp tác tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau và không trái với pháp luật.
Bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động
Sự thoả thuận trong giao kết hợp đồng lao động thể hiện tính tự nguyện và quyền bình đẳng trong lao động của công dân.
Một hợp đồng nếu vi phạm nguyên tắc này bị coi là vô hiệu.
Các bên tham gia quan hệ pháp luật phải trực tiếp giao kết và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng đã thoả thuận.
Bình đẳng giữa lao động nam
và lao động nữ
Bình đẳng về cơ hội tiếp cận việc làm; về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng;
Được đối xử bình đẳng về tiền công, tiền thưởng, nâng bậc lương bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác;
Bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng và đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.
Bình đẳng giữa lao động nam
và lao động nữ
Bộ luật lao động Điều 111*
1- Nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ.
Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động.
2- Người sử dụng lao động phải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc khi người đó đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ mà doanh nghiệp đang cần.
3- Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.
Bình đẳng trong kinh doanh
Bình đẳng trong kinh doanh thể hiện thông qua:
quyền tự do kinh doanh, quyền tự chủ trong đăng ký kinh doanh
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh trong hoạt động đầu tư, kinh doanh.
bình đẳng giữa các chủ thể (thuộc các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường) trong hoạt động kinh doanh
Bình đẳng trong kinh doanh
“Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. (Điều 5 - Luật doanh nghiệp)
III. TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC
Bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng của công dân
Ghi nhận trong Hiến pháp, cụ thể hoá trong luật.
Tuyên truyền phổ biến trên phương tiện thông tin đại chúng
Ban hành, công bố công khai về trình tự, thủ tục và cách thức, thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân.
Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền công dân.
TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC
hoạt động tố tụng bảo đảm nguyên tắc
- Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.
- Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
- Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án.
- Việc xét xử được tiến hành công khai.
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng.
IV. BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO
1. Bình đẳng giữa các dân tộc
2. Bình đẳng giữa các tôn giáo
Bình đẳng giữa các dân tộc
Nhà nước CHXHCN Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.
Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.(Điều 5 Hiến pháp 1992)
Bình đẳng giữa các dân tộc
Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước ta.
QH : Hội đồng dân tộc
CP: Uỷ ban Dân tộc
Nguyên tắc cơ bản của Đảng về chính sách dân tộc là: “các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển…”
Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.
Bình đẳng giữa các dân tộc
Tỷ lệ người dân tộc tham gia cơ quan đại biểu nhân dân :
Quốc hội 2002-2007 - Tổng đại biểu : 498 - Đại biểu người dân tộc: 86, tỷ lệ: 17.27%
HĐND 1999-2004
- Cấp tỉnh tổng số đại biểu : 3.462
- Đại biểu người dân tộc : 489, tỷ lệ : 14%
- Cấp huyện tổng số đại biểu : 18.748
- Đại biểu người dân tộc : 3.192 , chiếm tỷ lệ : 17%
- Cấp xã tổng số đại biểu : 219.438
- Đại biểu người dân tộc : 42.500 , chiếm tỷ lệ : 19%
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.
(Điều 70 Hiến pháp 1992)
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Là nguyên tắc cơ bản trong chính sách tôn giáo của Nhà nước ta.
Thể hiện trên ba mặt đó là :
- Bình đẳng về mặt tín ngưỡng;
- Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ (tôn giáo và công dân);
- Bình đẳng về pháp luật.
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Bình đẳng về tín ngưỡng:
Mọi công dân đều có quyền tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tôn giáo nào
Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ :
Người theo tôn giáo, người không theo tôn giáo hoặc người theo các tôn giáo khác nhau đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật, không có sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo.
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Bình đẳng về pháp luật:
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không có sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo.
Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được pháp luật bảo hộ; mọi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật.
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Chính sách của Nhà nước
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của nhân dân.
Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Bình đẳng giữa các tôn giáo
Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm quyền tự do tôn giáo lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây rối trật tự công cộng, làm tổn hại đến an ninh quốc gia.
Xin chân thành cảm ơn
 








Các ý kiến mới nhất