Thơ Hai - cư

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Lê Tuyết Trinh
Ngày gửi: 12h:54' 26-03-2022
Dung lượng: 4.6 MB
Số lượt tải: 53
Nguồn:
Người gửi: Đặng Lê Tuyết Trinh
Ngày gửi: 12h:54' 26-03-2022
Dung lượng: 4.6 MB
Số lượt tải: 53
Số lượt thích:
0 người
THƠ HAI KU(俳句)
Những đặc điểm chính của văn học Nhật Bản
+ Thơ, truyện kể, thủ công, nghệ thuật trình diễn- những biểu hiện cụ thể luôn hiện diện trong đời sống hàng ngày của con người- mới là cốt lõi của văn hóa. Do vậy, văn học Nhật Bản cũng được biểu hiện bởi ba đặc tính chính: cụ thể, phi hệ thống và tình cảm.
+ Trong tiến trình phát triển, văn học Nhật Bản không có sự xung đột để dẫn đến thay thế giữa cái cũ và cái mới. Nói cách khác, những quan niệm thẩm mỹ của người Nhật kể từ thời khởi thủy, xét ở một khía cạnh nhất định, vẫn có thể hiện diện phù hợp trong thời kỳ hiện đại.
+ Văn học Nhật Bản có tính chất quy tụ về trung tâm: hoạt động văn học thường tập trung ở đô thị. Vì thế, đề tài của văn học Nhật đa phần xoay quanh khai thác cuộc sống tại những thành phố lớn, những đô thị sầm uất.
+ Vũ trụ quan trong văn học Nhật Bản chịu tác động chi phối bởi ba hệ thống tư tưởng: tư tưởng ngoại lai, tư tưởng bản địa và tư tưởng chiết trung.
NỘI DUNG
1. Quá trình hình thành thể thơ Hai-kư
2. Đặc điểm hình thức và nội dung của thơ Hai-kư
3. Nguyên lí của thơ Hai – kư
4. Thực hành phân tích và sáng tác thơ Hai-kư
Thể thơ quốc hồn quốc túy của thi ca cổ điển Nhật Bản, là thể loại :“Nghệ thuật ẩn tàng trong cái vẻ không nghệ thuật của Nhật Bản”
Haiku không còn là của riêng Nhật Bản mà trở thành “Haiku thế giới”(World Haiku)
Haiku được ví như “Một viên sỏi ném vào giữa cái đầm trí tuệ “
1. Quá trình hình thành thể thơ Hai-kư
Đàn nhạn bay về
Cây phong của ta ơi
Đến lượt em rồi đó
Đã sang mùa
Em hãy đổi màu đi.
Đoản ca
(Tan-ka)
(Bài số 2183 – Vạn diệp tập)
Phát cú
(Hok-kư)
(Bài số 2183 – Vạn diệp tập)
Xuất hiện vào tk XVI, XVII, hoàn chỉnh vào cuối Thế kỉ XIX
Người đặt nền móng và hoàn thiện thơ Haiku là M.Basho
Haiku là sự kết hợp của Hokku (Phát cú) và Haikai hài hước)
+ Hokku: 3 dòng 17 âm tiết, mở đầu cho bài Renga
+ Haikai: 3 dòng 17 âm tiết, gọi vắn tắt của thể thơ Haikai norenga, thơ của tầng lớp thị dân
Quá trình hình thành thể thơ Hai-kư
Tk XVII
Thời
Edo
(1603-1867)
Phần hok-kư dần mất đi sắc thái trào lộng mà mang âm hưởng cao nhã và triết lý sâu thẳm của Thiền tông.
Hai-kư ra đời
Hai-kai ra đời
Bài ren-ga mang mục đích châm chọc hài hước, trào lộng đời thường.
Hai-kư phát triển rực rỡ
Ren-ga ra đời
Tk XIV-XV
Tách thành hai phần 5-7-5 và 7-7 rõ rệt, số lượng câu nối tiếp nhau không hạn chế.
Tk XVI
Tan-ka ra đời
Tk V
Thể thơ gồm 5 câu 31 âm tiết, trở thành dòng thơ dành cho cung đình, giới quý tộc từ tk VIII-XIV.
Tk XIV-XV
Tk V
Tk XVI
Tk XIV-XV
Tk V
Tk XVII
Tk XVI
Tk XIV-XV
Tk V
1. Đoản ca (tan-ka): Bài thơ ngắn 5 dòng 31 âm tiết (5-7-5-7-7 âm tiết).
2. Phát cú (hok-kư): Ba câu đầu của Đoản ca, có chức năng ra đề trong lúc làm thơ xướng họa giữa nhiều người.
3. Liên ca (ren-ga): loại thơ xướng họa, do nhiều đoản ca nối tiếp nhau.
4. Bài hài (hai-kai): Đoản ca có nội dung trào phúng, cười cợt mua vui.
5. Bài cú (Hai-kư): Phát cú được cải tiến đến mức trang nghiêm, hàm súc, mang ý vị thiền tông.
Phân biệt các khái niệm: đoản ca (tan-ka), phát cú (hok-kư), liên ca (ren-ga), bài hài (hai-kai) và bài cú (hai-kư).
2. Đặc điểm hình thức và nội dung của thơ Hai-kư
Trong thơ Haiku bắt buộc phải có kigo (quý ngữ), được hiểu là từ miêu tả một mùa nào đó trong năm. Các hình ảnh về mùa cũng góp phần tạo ra thể thống nhất trong mối quan hệ thiên nhiên, trời đất, con người kiểu: không gian-thời gian-con người.
Thơ hai-kư thường chỉ "gợi" chứ không “bình", kết thúc thường không có gì rõ ràng.
Tuân thủ nguyên lý “Tính tương quan hai hình ảnh”: hình ảnh lớn, trừu tượng (vũ trụ) với hình ảnh nhỏ, cụ thể (đời thường) ghi dấu thời gian và nơi chốn.
Mỗi bài thơ có kết cấu 3 câu với số âm tiết tương ứng 5-7-5 (17 âm tiết)
2.1. Đặc điểm hình thức của thơ Hai-kư
Xác định quý ngữ, các sự vật hiện tượng được miêu tả trong các bài thơ Hai-kư sau:
1. Trên cành khô
Chim quạ đậu
Chiều thu.
(Phan Nhật Chiêu dịch)
2. Hoa đào như áng mây xa
Chuông đền U-ê-nô vang vọng
Hay đền A-sa-cư-sa.
(Phan Nhật Chiêu dịch)
3. Cây chuối trong gió thu
Tiếng mưa rơi tí tách vào chậu
Ta nghe tiếng đêm.
(Lưu Đức Trung dịch)
4. Vắng lặng u trầm
Thấm sâu vào đá
Tiếng ve ngâm.
(Đoàn Lê Giang dịch)
Đếm số âm tiết của hai bài thơ sau:
古池や
蛙飛び込む
水の音
(Fu-ru-i-ke-ya
Ka-wa-zu to-bi-ko-mu
Mi-zu no o-to)
(Ba-sho)
Ao cũ
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao.
(Nhật Chiêu dịch thơ)
穂すすきや
細き心
のさわがしき
(Ho-su-su-ki ya
ho-so-ki ko-ko-ro
no sa-wa-ga-shi-ki)
(Nhà thơ Is-sa)
Nhánh cỏ bạc nào
Chơ vơ run rẩy
Tâm hồn đìu hiu.
(Nhật Chiêu dịch thơ)
Chỉ ra những điểm giống và khác nhau về mặt hình thức giữa Hai-kư và Ngũ ngôn tuyệt cú
古池や
蛙飛び込む
水の音
(Fu-ru-i-ke-ya
Ka-wa-zu to-bi-ko-mu
Mi-zu no o-to)
(Ba-sho)
Ao cũ
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao.
(Nhật Chiêu dịch thơ)
松下問童子
言師採藥去
只在此山中
雲深不知處
(Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ)
(Tầm ẩn giả bất ngộ - Giả Đảo)
Gốc thông hỏi chú học trò,
Rằng: "Thầy hái thuốc lò mò đi xa.
Ở trong núi ấy đây mà,
Mây che mù mịt biết là nơi nao?"
(Tản Đà dịch thơ)
Điểm giống và khác nhau về mặt hình thức giữa Hai-kư và Ngũ ngôn tuyệt cú
2.2. Đặc điểm nội dung của thơ Hai-kư
a. Các quan niệm thẩm mĩ gắn liền với Hai-kư
1. Wa-bi: cái đẹp sâu lắng nằm trong vẻ nhỏ bé, đơn sơ, đạm bạc, vụng về, chất phác bề ngoài (con ốc nhỏ, một chiếc lá rơi, một giọt sương mai...).
2. Sa-bi: cái đẹp u nhàn, cao khiết, cô liêu, tịch lặng, cổ xưa của sự vật (Vắng lặng u trầm, thấm sâu vào đá, tiếng ve ngâm).
3. Yu-gen: u huyền, mờ ảo, sâu lắng, bí ẩn.
4. A-wa-re: cảm giác xao xuyến, buồn thương, bi cảm thâm trần trước vẻ đẹp não lòng của sự vật (Trên cành khô, quạ đậu, chiều thu).
5. Ka-ru-mi: cái đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát, thể hiện tâm thái bình yên, ung dung, tự tại (Từ phương trời xa, cánh hoa đào lả tả, gợn sóng hồ Bi-wa).
Ôi tiếng ve kêu
Thấu xuyên vào đá
Trong cõi quạnh hiu.
Mái lều êm
Một con chim gõ kiến
Gõ ngoài trụ hiên.
Mưa mù sương
Phù dung một đóa
Làm mùa lên hương.
Thực hành cảm nhận về quan điểm thẩm mĩ Nhật Bản
Các kiểu cảm thức chính thường bắt gặp trong thơ haiku
Thực hành cảm nhận về quan điểm thẩm mĩ Nhật Bản
Ngắm mặt trời lặn phía sau một ngọn đồi phủ đầy hoa.
Lang thang trong rừng mà không nghĩ đến việc quay lại.
Đứng trên bãi đá và nhìn theo một con thuyền khuất dáng phía sau những hòn đảo xa.
Ngắm nhìn đàn sâm cầm biến mất sau mây trắng.
Rặng tre với những chiếc bóng mờ nhạt lồng với nhau.
(Tác giả Zeami Motokiyo)
Nhánh cỏ bạc nào
chơ vơ run rẩy
tâm hồn đìu hiu.
(Ho-su-su-ki ya
ho-so-ki ko-ko-ro
no sa-wa-ga-shi-ki)
(Nhà thơ Is-sa)
Chỉ ra mối liên hệ về hình thức và nội dung giữa bài thơ Hai-kư và loại tranh minh họa Hai-ga
So sánh tranh Hai-ga và tranh Nam Tông, từ đó chỉ ra điểm giống và khác nhau về mặt nội dung giữa thơ Hai-kư và thơ Tuyệt cú
Bức tranh minh họa bài “con ếch” (Ba-sho) của phái họa Hai-ga Nhật Bản
Bức tranh minh họa bài “Tầm ẩn giả bất ngộ” (Giả Đảo) của phái họa Nam Tông - Trung Quốc
Điểm giống và khác nhau về mặt nội dung giữa thơ Hai-kư và thơ Tuyệt cú
b. Một số đặc điểm về mặt nội dung của Hai-kư
Con người hòa điệu làm một với không gian và cảnh vật, lặn sâu vào lòng sự vật để cảm nhận nó.
Chỉ miêu tả những sự vật ở thực tại và lặng thinh, đó là khoảng trống của “chân không” (Thiền).
Không mô tả cảm xúc, chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt theo bản chất tự nhiên của nó.
Tác giả bộc lộ một cách kín đáo tình cảm của mình trong tác phẩm: niềm vui sống, sự cô đơn, lòng yêu cảnh vật, nhớ người thân, bùi ngùi trước cảnh đời ngắn ngủi, phù du; sự hòa điệu vĩnh cửu với thiên nhiên...
Thơ thường đưa ra hai hình ảnh : một hình ảnh trừu tượng sống động và linh hoạt, một hình ảnh cụ thể ghi dấu thời gian và nơi chốn.
Một bài thơ Haiku hay là làm sống lại những gì đã chôn sâu trong ký ức và đưa ra những cảm giác sâu sắc, tế nhị, để tự nó khơi lại trí tưởng tượng và mơ ước của người đọc để người đọc tự suy diễn, cảm nhận.
Haiku là một loại thơ thiền, một cách tập nhìn sự vật đơn giản, thuần khiết. Ðây là một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động như một công án, một tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người.
Hãy vẽ trong đầu bạn bức tranh cảnh vật tương ứng với bài thơ hai-kư sau:
Một ngôi chùa núi
bức tranh nhập Niết bàn
không ai đến thăm
(Ya-ma-de-ra ya
ta-re mo ma-i-ra-nu
ne-han-zo)
(Chora)
3. Nguyên lí của thơ Haiku: 03 nguyên lí
3.1. Nguyên lí tương quan
Nguyên lí số một vĩ đại nhất của Haiku
Thiết lập mối tương quan giữa Tiểu ngã - Đại ngã; Vũ trụ - Chúng sinh
Quan niệm của Phật : “Nhất thiết bình đẳng” được lồng rất khéo trong Haiku -> So sánh với thuyết tôn ti trật tự của Trung Quốc.
Cách đọc để cảm nhận thơ Haiku: Cắt ngang bài thơ với h.ảnh 1 và h.ảnh 2
Tuyết tan mùa, (h.ảnh 1)
khắp thôn làng tràn ngập (h.ảnh 2)
một bầy trẻ thơ.
Sự hồi sinh của đại vũ trụ - tiểu vũ trụ
Sự khăng khít của vũ trụ và chúng sinh
3.2 Nguyên lí mùa (Quý ngữ)
- Mỗi bài thơ Haiku đều đặt trong mùa của 1năm - Mùa là cách miêu tả thiên nhiên cụ thể
- Mùa được thể hiện ở 2 dạng:
+ Trực tiếp (kigo)
+ Gián tiếp (kidai)
- Nguyên lí mùa được triển khai từ nguyên lí tương quan
Basho: “Kẻ nào nhìn cuộc đời mà không nghĩ tới hoa (thiên nhiên) thì đó là kẻ man rợ”
Kawabata: “Ca ngợi vẻ đẹp 4 mùa trong một năm cũng chính là Thiền”
Trên cành khô Quán bên đường
cánh quạ đậu, các du nữ ngủ,
Chiều thu trăng và đinh hương.
(Basho) (Basho)
3.3 Nguyên lí bình đẳng
Mọi sự vật trong vũ trụ tồn tại độc lập, đáng quí như nhau. Điều này xuất phát từ triết lí Phật giáo: mọi chúng sinh bình đẳng.
=> Thi pháp thơ Haikư biểu hiện mỹ học Thiền và tinh hoa mỹ học dân tộc Nhật Bản
Basho: “Nhà thơ lặn sâu vào lòng sự vật để nhận ra những ẩn kín đằng sau nó”
Tagore: “Nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài rồi bước tránh sang một bên… Lí do khiến nhà thơ rút lui nhanh chóng thế vì người Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tượng rất lớn”
Paul Valery (Pháp)
“ Tôi viết nửa bài thơ, người đọc viết nửa còn lại”
SO SÁNH
Ngọn lúa nào
trong bàn tay níu chặt,
khi từ biệt nhau
(Basho)
Bạn từ lầu hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói Dương Châu xuôi dòng
Bóng buồm đã khuất bầu không
Trông xa chỉ thấy dòng sông bên trời
(Lí Bạch)
KẾT LUẬN
Haiku mở ra những khoảng trống, khoảng không, những khoảng “Bất khả giải”
Haiku là khoảnh khắc linh diệu của một cảm nghiệm sống động
Haiku miêu tả, cảm nhận thiên nhiên để nói về một hành trình khám phá tâm linh, bản ngã
Haiku Tứ Trụ
Nhà thơ Haiku vĩ đại được gọi là Haijin
4 Haijin (tứ trụ) đại diện cho thơ Haiku
+ M. Basho – “Thiền sư thi sĩ”
+ K. Issa – “Nhà thơ của trái tim trần”
+ Y. Buson – “Nhà thơ tình mùa xuân”
+ M.Shiki – Nhà thơ Haiku hiện đại
M.Basho
Ao cũ
con ếch nhảy vào,
vang tiếng nước xao.
Trên cành khô
cánh quạ đậu,
Chiều thu.
K.Issa
Mưa mùa xuân
tờ thư ai ném,
bay vào rừng.
Đến đây nào với tôi
cùng vui đùa chim sẻ
không còn mẹ trên đời
Buson
Mưa xuân thầm thì
bên nhau đôi lứa
Ô và áo tơi đi.
Băng qua vũng nông
bàn chân cô gái,
vẩn bùn lên nước xuân trong.
M.Shiki
Trong cỏ xanh
nhành hoa không biết
nở ra trắng ngần.
Mưa tháng năm
cứ rơi như thể,
rơi vào cơn mơ.
Thơ hai- cư của Ba- sô
Ba- sô (1644-1694)
-Thiền sư, thi sĩ lỗi lạc của Nhật Bản.
Quê hương: tỉnh Mi- ê
- Gia đình : võ sĩ đạo sa-mu-rai
Khoảng năm hai mươi tám tuổi, ông chuyển đến Êđô (Tôkyô ngày nay) sinh sống và làm thơ hai- cư với bút hiệu Ba- sô.
Mười năm cuối đời , Ba- sô làm những cuộc du hành dài đi hầu khắp đất nước, vừa đi vừa viết du kí và sáng tác thơ hai- cư.
- Ông trút hơi thở cuối cùng ở Ô-sa-ka
-Tác phẩm: Du kí Phơi thân đồng nội (1685), Đoản văn trong đãy (1688) , Cánh đồng hoang (1689), Áo tơi cho khỉ (1691), Lối lên miền Ô-cư (1689).
3. Thực hành phân tích và sáng tác thơ Hai-kư
Bố cục thơ Hai-cư:
Dòng thứ nhất giới thiệu
Dòng thứ hai tiếp tục ý trên và mở rộng dòng thứ ba
Dòng thứ ba kết lại tứ thơ, mở ra những suy tư cảm xúc cho người đọc
1.
Trên cành khô
Cánh quạ đậu
Chiều thu
(Đoàn Lê Giang dịch)
2.
Chim đỗ quyên hót
ở Kinh đô
mà nhớ Kinh đô.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Ba-shô ở Kinh đô (Ky-ô-tô) thời trẻ (1666-1672), rồi chuyển đến Ê-đô. Hai mươi năm sau ông trở lại Ky-ô-tô, nghe tiếng chim đỗ quyên hót mà viết nên bài thơ này.
Bài 2
Từ Kinh đô hiện tại, trước mắt,nhà thơ nhớ Kinh đô xưa, đầy kỉ niệm đã qua
Quý ngữ gợi mùa hè
Nỗi buồn về sự vô thường, sự thương tiếc thời gian
- So sánh bài thơ với câu thơ của Nguyễn Bính: Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên.
- Tiếng chim đỗ quyên trong thơ Ba- sô và tiếng chim cuốc trong bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan?
Nét chung bài 1,2: dù viết trong những thời điểm khác nhau, nhưng đều thể hiện tình cảm sâu sắc của nhà thơ với những vùng đất nhà thơ đã dừng chân.
Chim đỗ quyên
3.
Lệ trào nóng hổi
Tan trên tay tóc mẹ
Làn sương thu.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Ba-shô về quê, mẹ đã mất. Người anh đưa cho ông di vật còn sót lại của mẹ là một mớ tóc bạc.
Bài 3
Mớ tóc bạc:
+ hình ảnh cuộc đời vất vả một nắng hai sương của người mẹ
+ sự mòn mỏi đợi chờ đứa con lãng du.
Tình cảm của nhà thơ với mẹ biểu hiện qua giọt lệ nóng hổi-> Sự đau đớn, xót xa, ân hận.
- Quý ngữ : sương thu- mùa thu
Hình ảnh mơ hồ:
+ làn tóc mẹ như sương?
+ lệ như sương?
+ làn tóc mẹ hòa giọt nước mắt người con thành sương thu?
+ cuộc đời ngắn ngủi, mong manh như sương ?
4.
Tiếng vượn hú não nề
Hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc
Gió mùa thu tái tê.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Ngày xưa, người nông dân Nhật Bản rất nghèo, vào những năm đói kém, có khi người ta phải bỏ con vào rừng vì không nuôi nổi.
Bài 4
- Quý ngữ : mùa thu-> mùa đói kém ở nước Nhật xưa
- Nhà thơ qua rừng nghe tiếng vượn kêu, liên tưởng đến tiếng trẻ em bị bỏ rơi than khóc ai oán, não nề-> tình thương của nhà thơ với những sinh linh bất hạnh.
- Hình ảnh mơ hồ: cuộc sống thật khắc nghiệt, u buồn hay là tiếng khóc than của gió, nỗi lòng nhà thơ?
+ Tiếng vượn thật hay tiếng khóc của trẻ bị bỏ rơi trong gió mùa thu thật?
+ Trong gió mùa thu, hay gió mùa thu đang than khóc cho con người?
- So sánh tấm lòng của Ba- sô trong bài thơ và tấm lòng của Nguyễn Du trong các câu thơ sau:
“Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,
Lỗi mùa sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế vào ra,
U ơ tiếng khóc thiết tha não lòng.” (Văn tế thập loại chúng sinh- Nguyễn Du)
5.
Mưa đông giăng đầy trời
Chú khỉ con thầm ước
Có một chiếc áo tơi.
(Đoàn Lê Giang dịch)
Bài 5
- Quý ngữ : mùa đông
Mùa đông lạnh mưa rơi, qua khu rừng nhà thơ thấy chú khỉ nhỏ run trong mưa và tưởng tượng chú khỉ đó cũng cần một chiếc áo tơi để chắn gió, che mưa.
+ Hình ảnh đó gợi những đứa trẻ nghèo đang co ro trong mưa lạnh trên khắp nước Nhật.
+ mơ ước của nhà thơ: những sinh linh bé nhỏ có nhà, có áo ấm che gió rét.
Nét độc đáo: Từ hình ảnh ngẫu nhiên bắt gặp trên đường, trong khoảng khắc bất chợt, thức tỉnh một nhận thức mới trong tâm hồn và ý nghĩa cuộc sống xuất hiện : sống để thương yêu.
Bài 4, 5,6 : Tình yêu thương của nhà thơ đối với con người, với những sinh linh bé nhỏ, bất hạnh, -> đây chính là sự tu thiền, nhà thơ không thoát đời mà gắn bó, chiêm nghiệm về cuộc đời.
6.
Từ bốn phương trời xa
Cánh hoa đào lả tả
Gợn sóng hồ Bi-oa.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Hồ Bi-oa (Tỳ Bà hồ): hồ lớn nhất Nhật Bản, trông giống như hình cây đàn Tỳ Bà, rất đẹp, nằm ở trung tâm tỉnh Si-ga, gần quê của Ba-shô.
- Hồ Bi- oa : cảnh đẹp, thơ mộng .Hoa anh đào nở về mùa xuân, biểu tượng cho đất nước Nhật Bản.
- Hoa rơi nhẹ nhàng khẽ khàng lắm mà mặt hồ lại xao động
+ Cảnh tượng giản dị nhưng thể hiện một triết lí sâu sắc theo quan niệm thiền tông:sự đồng cảm, tương giao, chuyển hóa giữa các sự vật, hiện tượng.
+ Cảm thức thẩm mỹ nhẹ nhàng, giản dị, khinh thanh.
Bài 6
7.
Vắng lặng u trầm
Thấm sâu vào đá
Tiếng ve ngâm.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Bài thơ có liên tưởng kì lạ, thể hiện sự tương giao mầu nhiệm giữa cảm giác, âm thanh và vật thể.
- Tiếng ve là thanh, đá là vật nhưng tiếng ve trong cảnh u tịch lại như thấm vào đá-> sự giao cảm giữa một thực thể nhỏ bé và một vật vô tri.
- Cảm thức thẩm mĩ vắng lặng, cô tịch, u huyền.
*Quý ngữ trong hai bài thơ là: hoa đào mùa xuân, tiếng ve mùa hạ.
Hai bài thơ là cảm hứng về sự tương giao các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ.
Bài 7
Sự giống nhau về diễn tả mối tương giao giữa các sự vật hiện tượng trong vũ trụ ở hai bài thơ 6,7 của Ba sô với những câu thơ sau của Nguyễn Trãi:
“Ngư ca tam xướng yên hồ khoái,
Mục địch nhất thanh thiên nguyệt cao”.
(Ông chài hát lên ba lần làm cho mặt hồ phủ khói mở rộng ra,
Trẻ mục đồng thổi một tiếng sáo làm cho trăng trên trời cao hơn.)
(Chu trung ngẫu thành)
8.
Nằm bệnh giữa cuộc lãng du
Mộng hồn còn phiêu bạt
Những cánh đồng hoang vu.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Đây là bài thơ Ba-sô làm trước khi mất.
- Quý ngữ của bài thơ: cánh đồng hoang vu -> mùa đông
- Lãng du: cuộc đời lang thang phiêu bồng
lòng yêu đời, khát vọng sống mãnh liệt và ước mơ phiêu du khám phá cái đẹp của nhà thơ.
Bài 8
9.
Đất khách mười mùa sương
về thăm quê ngoảnh lại
Ê-đô là cố hương.
Tình cảm lưu luyến, nhớ nhung của nhà thơ với vùng đất Ê- đô, nơi nhà thơ đã từng gắn bó lâu dài, đầy kỉ niệm, đầy tình nghĩa.
- Quý ngữ: mùa sương -> mùa thu
Tình cảm đối với Mi-ê sau mười năm xa quê.
Trở về Mi-ê lại nhớ Ê-đô: Ê-đô thân thiết như quê hương mình. Bài thơ thể hiện tình cảm thân thiết gắn bó với mảnh đất mình ở. Bài thơ thể hiện quy luật tình cảm đối với quê hương thứ hai.
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở.
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” ( Chế Lan Viên)
So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa hai bài thơ :
Đất khách mười mùa sương
về thăm quê ngoảnh lại
Ê- đô là cố hương.
Tinh Châu đất khách đã mười hè,
Hôm sớm Hàm Dương bụng nhớ quê.
Qua bến Tăng Càn, Vô Tích nữa,
Tinh Châu ngoảnh lại đã thành quê.
(Qua bến Tăng Càn- Giả Đảo)
Một địa danh
Chỉ là khoảng khắc ngoảnh lại, bừng ngộ một chân lí đơn giản, sâu xa chợt thấy đất khách là quê hương
Bốn địa danh
Hành động, tâm trạng mười năm đất khách.
Kể, tả , giãi bày
+ Giống nhau: nội dung, cảm xúc
+ Khác nhau:
10.
Mùa xuân ra đi
Tiếng chim thổn thức
Mắt cá lệ đầy
=> Qua bức tranh thiên nhiên tuy đơn sơ mà sống động đó, cảm xúc của Ba-sô hiện lên thật rõ rệt. Tác giả quan sát cuộc sống của cá và chim, hóa thân mình vào các sinh vật nhỏ bé đó để cảm nhận vòng quay của tạo hóa. Nhà thơ có một tâm hồn rung động nhạy cảm, một đời sống nội tâm phong phú, một sự tồn tại hòa điệu mãnh liệt với thiên nhiên và cuộc sống.
11.
Mưa tháng năm
Đứng dầm trong nước
Chân hạc ngắn dần.
Tính tương quan hai hình ảnh:
+ Mưa tháng năm: là hình ảnh lớn, mang tầm vóc vũ trụ, thể hiện cho vòng quay của thời gian
+ Hạc đứng trong nước tìm cá, chân hạc ngắn dần: là hình ảnh nhỏ, diễn ra một cách cụ thể trước mắt=> cách miêu tả ”mượn a nói b” lý thú. Nước lên cao, tôm cá nhiều, hạc sẽ dễ dàng kiếm ăn hơn.
=> Bao trùm lên bài thơ là một âm hưởng vui. Nhà thơ không chỉ vui khi mùa sang, mưa về trên ruộng đồng mà còn vui vì thấy hạc sẽ kiếm được nhiều cá hơn, sẽ có cuộc sống đầy đủ hơn, và nhất là sẽ bớt đi lo âu cực nhọc vì cuộc sống mưu sinh.
12.
Gần xa đâu đây
nghe tiếng thác chảy
lá non tràn đầy
(Thơ Buson-Thanh Châu dịch)
Trên cành khô
một chim quạ
chiều thu
Nhánh cỏ bạc nào
chơ vơ run rẩy
tâm hồn đìu hiu
(Issa)
(Hosusuki ya
hosoki kokoro
no sawagashiki)
Cỏ bạc - Kikakudô Kiich
Mây giữa trưa - Ogawa Senô
Mây trôi
xuống chân trời ấy
một hàng biển khơi
(Shiki)
(Kumo no mine
narabete hikushi
umi no hate)
- Thơ hai- cư là thể thơ độc đáo thể hiện đặc trưng triết lí và nghệ thuật phương Đông.
-Thơ của cái đẹp trong thiên nhiên và cái đẹp trong tâm hồn con người.
Con đường tiếp cận thơ Hai-cư:
- Bước 1: Tìm quý ngữ, xác định mùa.
Xâu chuỗi, liên kết các hình ảnh có trong bài thơ.
- Bước 2: Từ chuỗi hình ảnh mở rộng liên tưởng, tưởng tượng để khám phá các lớp nghĩa có trong bài thơ.
Theo tinh thần đổi mới trong việc dạy và học hiện nay, tiếp cận thơ hai-kư cũng theo các hướng chung:
– Tích hợp văn hóa
– Tiếp cận văn bản
– So sánh – đối chiếu
– Vận dụng – thực hành
Những đặc điểm chính của văn học Nhật Bản
+ Thơ, truyện kể, thủ công, nghệ thuật trình diễn- những biểu hiện cụ thể luôn hiện diện trong đời sống hàng ngày của con người- mới là cốt lõi của văn hóa. Do vậy, văn học Nhật Bản cũng được biểu hiện bởi ba đặc tính chính: cụ thể, phi hệ thống và tình cảm.
+ Trong tiến trình phát triển, văn học Nhật Bản không có sự xung đột để dẫn đến thay thế giữa cái cũ và cái mới. Nói cách khác, những quan niệm thẩm mỹ của người Nhật kể từ thời khởi thủy, xét ở một khía cạnh nhất định, vẫn có thể hiện diện phù hợp trong thời kỳ hiện đại.
+ Văn học Nhật Bản có tính chất quy tụ về trung tâm: hoạt động văn học thường tập trung ở đô thị. Vì thế, đề tài của văn học Nhật đa phần xoay quanh khai thác cuộc sống tại những thành phố lớn, những đô thị sầm uất.
+ Vũ trụ quan trong văn học Nhật Bản chịu tác động chi phối bởi ba hệ thống tư tưởng: tư tưởng ngoại lai, tư tưởng bản địa và tư tưởng chiết trung.
NỘI DUNG
1. Quá trình hình thành thể thơ Hai-kư
2. Đặc điểm hình thức và nội dung của thơ Hai-kư
3. Nguyên lí của thơ Hai – kư
4. Thực hành phân tích và sáng tác thơ Hai-kư
Thể thơ quốc hồn quốc túy của thi ca cổ điển Nhật Bản, là thể loại :“Nghệ thuật ẩn tàng trong cái vẻ không nghệ thuật của Nhật Bản”
Haiku không còn là của riêng Nhật Bản mà trở thành “Haiku thế giới”(World Haiku)
Haiku được ví như “Một viên sỏi ném vào giữa cái đầm trí tuệ “
1. Quá trình hình thành thể thơ Hai-kư
Đàn nhạn bay về
Cây phong của ta ơi
Đến lượt em rồi đó
Đã sang mùa
Em hãy đổi màu đi.
Đoản ca
(Tan-ka)
(Bài số 2183 – Vạn diệp tập)
Phát cú
(Hok-kư)
(Bài số 2183 – Vạn diệp tập)
Xuất hiện vào tk XVI, XVII, hoàn chỉnh vào cuối Thế kỉ XIX
Người đặt nền móng và hoàn thiện thơ Haiku là M.Basho
Haiku là sự kết hợp của Hokku (Phát cú) và Haikai hài hước)
+ Hokku: 3 dòng 17 âm tiết, mở đầu cho bài Renga
+ Haikai: 3 dòng 17 âm tiết, gọi vắn tắt của thể thơ Haikai norenga, thơ của tầng lớp thị dân
Quá trình hình thành thể thơ Hai-kư
Tk XVII
Thời
Edo
(1603-1867)
Phần hok-kư dần mất đi sắc thái trào lộng mà mang âm hưởng cao nhã và triết lý sâu thẳm của Thiền tông.
Hai-kư ra đời
Hai-kai ra đời
Bài ren-ga mang mục đích châm chọc hài hước, trào lộng đời thường.
Hai-kư phát triển rực rỡ
Ren-ga ra đời
Tk XIV-XV
Tách thành hai phần 5-7-5 và 7-7 rõ rệt, số lượng câu nối tiếp nhau không hạn chế.
Tk XVI
Tan-ka ra đời
Tk V
Thể thơ gồm 5 câu 31 âm tiết, trở thành dòng thơ dành cho cung đình, giới quý tộc từ tk VIII-XIV.
Tk XIV-XV
Tk V
Tk XVI
Tk XIV-XV
Tk V
Tk XVII
Tk XVI
Tk XIV-XV
Tk V
1. Đoản ca (tan-ka): Bài thơ ngắn 5 dòng 31 âm tiết (5-7-5-7-7 âm tiết).
2. Phát cú (hok-kư): Ba câu đầu của Đoản ca, có chức năng ra đề trong lúc làm thơ xướng họa giữa nhiều người.
3. Liên ca (ren-ga): loại thơ xướng họa, do nhiều đoản ca nối tiếp nhau.
4. Bài hài (hai-kai): Đoản ca có nội dung trào phúng, cười cợt mua vui.
5. Bài cú (Hai-kư): Phát cú được cải tiến đến mức trang nghiêm, hàm súc, mang ý vị thiền tông.
Phân biệt các khái niệm: đoản ca (tan-ka), phát cú (hok-kư), liên ca (ren-ga), bài hài (hai-kai) và bài cú (hai-kư).
2. Đặc điểm hình thức và nội dung của thơ Hai-kư
Trong thơ Haiku bắt buộc phải có kigo (quý ngữ), được hiểu là từ miêu tả một mùa nào đó trong năm. Các hình ảnh về mùa cũng góp phần tạo ra thể thống nhất trong mối quan hệ thiên nhiên, trời đất, con người kiểu: không gian-thời gian-con người.
Thơ hai-kư thường chỉ "gợi" chứ không “bình", kết thúc thường không có gì rõ ràng.
Tuân thủ nguyên lý “Tính tương quan hai hình ảnh”: hình ảnh lớn, trừu tượng (vũ trụ) với hình ảnh nhỏ, cụ thể (đời thường) ghi dấu thời gian và nơi chốn.
Mỗi bài thơ có kết cấu 3 câu với số âm tiết tương ứng 5-7-5 (17 âm tiết)
2.1. Đặc điểm hình thức của thơ Hai-kư
Xác định quý ngữ, các sự vật hiện tượng được miêu tả trong các bài thơ Hai-kư sau:
1. Trên cành khô
Chim quạ đậu
Chiều thu.
(Phan Nhật Chiêu dịch)
2. Hoa đào như áng mây xa
Chuông đền U-ê-nô vang vọng
Hay đền A-sa-cư-sa.
(Phan Nhật Chiêu dịch)
3. Cây chuối trong gió thu
Tiếng mưa rơi tí tách vào chậu
Ta nghe tiếng đêm.
(Lưu Đức Trung dịch)
4. Vắng lặng u trầm
Thấm sâu vào đá
Tiếng ve ngâm.
(Đoàn Lê Giang dịch)
Đếm số âm tiết của hai bài thơ sau:
古池や
蛙飛び込む
水の音
(Fu-ru-i-ke-ya
Ka-wa-zu to-bi-ko-mu
Mi-zu no o-to)
(Ba-sho)
Ao cũ
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao.
(Nhật Chiêu dịch thơ)
穂すすきや
細き心
のさわがしき
(Ho-su-su-ki ya
ho-so-ki ko-ko-ro
no sa-wa-ga-shi-ki)
(Nhà thơ Is-sa)
Nhánh cỏ bạc nào
Chơ vơ run rẩy
Tâm hồn đìu hiu.
(Nhật Chiêu dịch thơ)
Chỉ ra những điểm giống và khác nhau về mặt hình thức giữa Hai-kư và Ngũ ngôn tuyệt cú
古池や
蛙飛び込む
水の音
(Fu-ru-i-ke-ya
Ka-wa-zu to-bi-ko-mu
Mi-zu no o-to)
(Ba-sho)
Ao cũ
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao.
(Nhật Chiêu dịch thơ)
松下問童子
言師採藥去
只在此山中
雲深不知處
(Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ)
(Tầm ẩn giả bất ngộ - Giả Đảo)
Gốc thông hỏi chú học trò,
Rằng: "Thầy hái thuốc lò mò đi xa.
Ở trong núi ấy đây mà,
Mây che mù mịt biết là nơi nao?"
(Tản Đà dịch thơ)
Điểm giống và khác nhau về mặt hình thức giữa Hai-kư và Ngũ ngôn tuyệt cú
2.2. Đặc điểm nội dung của thơ Hai-kư
a. Các quan niệm thẩm mĩ gắn liền với Hai-kư
1. Wa-bi: cái đẹp sâu lắng nằm trong vẻ nhỏ bé, đơn sơ, đạm bạc, vụng về, chất phác bề ngoài (con ốc nhỏ, một chiếc lá rơi, một giọt sương mai...).
2. Sa-bi: cái đẹp u nhàn, cao khiết, cô liêu, tịch lặng, cổ xưa của sự vật (Vắng lặng u trầm, thấm sâu vào đá, tiếng ve ngâm).
3. Yu-gen: u huyền, mờ ảo, sâu lắng, bí ẩn.
4. A-wa-re: cảm giác xao xuyến, buồn thương, bi cảm thâm trần trước vẻ đẹp não lòng của sự vật (Trên cành khô, quạ đậu, chiều thu).
5. Ka-ru-mi: cái đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát, thể hiện tâm thái bình yên, ung dung, tự tại (Từ phương trời xa, cánh hoa đào lả tả, gợn sóng hồ Bi-wa).
Ôi tiếng ve kêu
Thấu xuyên vào đá
Trong cõi quạnh hiu.
Mái lều êm
Một con chim gõ kiến
Gõ ngoài trụ hiên.
Mưa mù sương
Phù dung một đóa
Làm mùa lên hương.
Thực hành cảm nhận về quan điểm thẩm mĩ Nhật Bản
Các kiểu cảm thức chính thường bắt gặp trong thơ haiku
Thực hành cảm nhận về quan điểm thẩm mĩ Nhật Bản
Ngắm mặt trời lặn phía sau một ngọn đồi phủ đầy hoa.
Lang thang trong rừng mà không nghĩ đến việc quay lại.
Đứng trên bãi đá và nhìn theo một con thuyền khuất dáng phía sau những hòn đảo xa.
Ngắm nhìn đàn sâm cầm biến mất sau mây trắng.
Rặng tre với những chiếc bóng mờ nhạt lồng với nhau.
(Tác giả Zeami Motokiyo)
Nhánh cỏ bạc nào
chơ vơ run rẩy
tâm hồn đìu hiu.
(Ho-su-su-ki ya
ho-so-ki ko-ko-ro
no sa-wa-ga-shi-ki)
(Nhà thơ Is-sa)
Chỉ ra mối liên hệ về hình thức và nội dung giữa bài thơ Hai-kư và loại tranh minh họa Hai-ga
So sánh tranh Hai-ga và tranh Nam Tông, từ đó chỉ ra điểm giống và khác nhau về mặt nội dung giữa thơ Hai-kư và thơ Tuyệt cú
Bức tranh minh họa bài “con ếch” (Ba-sho) của phái họa Hai-ga Nhật Bản
Bức tranh minh họa bài “Tầm ẩn giả bất ngộ” (Giả Đảo) của phái họa Nam Tông - Trung Quốc
Điểm giống và khác nhau về mặt nội dung giữa thơ Hai-kư và thơ Tuyệt cú
b. Một số đặc điểm về mặt nội dung của Hai-kư
Con người hòa điệu làm một với không gian và cảnh vật, lặn sâu vào lòng sự vật để cảm nhận nó.
Chỉ miêu tả những sự vật ở thực tại và lặng thinh, đó là khoảng trống của “chân không” (Thiền).
Không mô tả cảm xúc, chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt theo bản chất tự nhiên của nó.
Tác giả bộc lộ một cách kín đáo tình cảm của mình trong tác phẩm: niềm vui sống, sự cô đơn, lòng yêu cảnh vật, nhớ người thân, bùi ngùi trước cảnh đời ngắn ngủi, phù du; sự hòa điệu vĩnh cửu với thiên nhiên...
Thơ thường đưa ra hai hình ảnh : một hình ảnh trừu tượng sống động và linh hoạt, một hình ảnh cụ thể ghi dấu thời gian và nơi chốn.
Một bài thơ Haiku hay là làm sống lại những gì đã chôn sâu trong ký ức và đưa ra những cảm giác sâu sắc, tế nhị, để tự nó khơi lại trí tưởng tượng và mơ ước của người đọc để người đọc tự suy diễn, cảm nhận.
Haiku là một loại thơ thiền, một cách tập nhìn sự vật đơn giản, thuần khiết. Ðây là một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động như một công án, một tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người.
Hãy vẽ trong đầu bạn bức tranh cảnh vật tương ứng với bài thơ hai-kư sau:
Một ngôi chùa núi
bức tranh nhập Niết bàn
không ai đến thăm
(Ya-ma-de-ra ya
ta-re mo ma-i-ra-nu
ne-han-zo)
(Chora)
3. Nguyên lí của thơ Haiku: 03 nguyên lí
3.1. Nguyên lí tương quan
Nguyên lí số một vĩ đại nhất của Haiku
Thiết lập mối tương quan giữa Tiểu ngã - Đại ngã; Vũ trụ - Chúng sinh
Quan niệm của Phật : “Nhất thiết bình đẳng” được lồng rất khéo trong Haiku -> So sánh với thuyết tôn ti trật tự của Trung Quốc.
Cách đọc để cảm nhận thơ Haiku: Cắt ngang bài thơ với h.ảnh 1 và h.ảnh 2
Tuyết tan mùa, (h.ảnh 1)
khắp thôn làng tràn ngập (h.ảnh 2)
một bầy trẻ thơ.
Sự hồi sinh của đại vũ trụ - tiểu vũ trụ
Sự khăng khít của vũ trụ và chúng sinh
3.2 Nguyên lí mùa (Quý ngữ)
- Mỗi bài thơ Haiku đều đặt trong mùa của 1năm - Mùa là cách miêu tả thiên nhiên cụ thể
- Mùa được thể hiện ở 2 dạng:
+ Trực tiếp (kigo)
+ Gián tiếp (kidai)
- Nguyên lí mùa được triển khai từ nguyên lí tương quan
Basho: “Kẻ nào nhìn cuộc đời mà không nghĩ tới hoa (thiên nhiên) thì đó là kẻ man rợ”
Kawabata: “Ca ngợi vẻ đẹp 4 mùa trong một năm cũng chính là Thiền”
Trên cành khô Quán bên đường
cánh quạ đậu, các du nữ ngủ,
Chiều thu trăng và đinh hương.
(Basho) (Basho)
3.3 Nguyên lí bình đẳng
Mọi sự vật trong vũ trụ tồn tại độc lập, đáng quí như nhau. Điều này xuất phát từ triết lí Phật giáo: mọi chúng sinh bình đẳng.
=> Thi pháp thơ Haikư biểu hiện mỹ học Thiền và tinh hoa mỹ học dân tộc Nhật Bản
Basho: “Nhà thơ lặn sâu vào lòng sự vật để nhận ra những ẩn kín đằng sau nó”
Tagore: “Nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài rồi bước tránh sang một bên… Lí do khiến nhà thơ rút lui nhanh chóng thế vì người Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tượng rất lớn”
Paul Valery (Pháp)
“ Tôi viết nửa bài thơ, người đọc viết nửa còn lại”
SO SÁNH
Ngọn lúa nào
trong bàn tay níu chặt,
khi từ biệt nhau
(Basho)
Bạn từ lầu hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói Dương Châu xuôi dòng
Bóng buồm đã khuất bầu không
Trông xa chỉ thấy dòng sông bên trời
(Lí Bạch)
KẾT LUẬN
Haiku mở ra những khoảng trống, khoảng không, những khoảng “Bất khả giải”
Haiku là khoảnh khắc linh diệu của một cảm nghiệm sống động
Haiku miêu tả, cảm nhận thiên nhiên để nói về một hành trình khám phá tâm linh, bản ngã
Haiku Tứ Trụ
Nhà thơ Haiku vĩ đại được gọi là Haijin
4 Haijin (tứ trụ) đại diện cho thơ Haiku
+ M. Basho – “Thiền sư thi sĩ”
+ K. Issa – “Nhà thơ của trái tim trần”
+ Y. Buson – “Nhà thơ tình mùa xuân”
+ M.Shiki – Nhà thơ Haiku hiện đại
M.Basho
Ao cũ
con ếch nhảy vào,
vang tiếng nước xao.
Trên cành khô
cánh quạ đậu,
Chiều thu.
K.Issa
Mưa mùa xuân
tờ thư ai ném,
bay vào rừng.
Đến đây nào với tôi
cùng vui đùa chim sẻ
không còn mẹ trên đời
Buson
Mưa xuân thầm thì
bên nhau đôi lứa
Ô và áo tơi đi.
Băng qua vũng nông
bàn chân cô gái,
vẩn bùn lên nước xuân trong.
M.Shiki
Trong cỏ xanh
nhành hoa không biết
nở ra trắng ngần.
Mưa tháng năm
cứ rơi như thể,
rơi vào cơn mơ.
Thơ hai- cư của Ba- sô
Ba- sô (1644-1694)
-Thiền sư, thi sĩ lỗi lạc của Nhật Bản.
Quê hương: tỉnh Mi- ê
- Gia đình : võ sĩ đạo sa-mu-rai
Khoảng năm hai mươi tám tuổi, ông chuyển đến Êđô (Tôkyô ngày nay) sinh sống và làm thơ hai- cư với bút hiệu Ba- sô.
Mười năm cuối đời , Ba- sô làm những cuộc du hành dài đi hầu khắp đất nước, vừa đi vừa viết du kí và sáng tác thơ hai- cư.
- Ông trút hơi thở cuối cùng ở Ô-sa-ka
-Tác phẩm: Du kí Phơi thân đồng nội (1685), Đoản văn trong đãy (1688) , Cánh đồng hoang (1689), Áo tơi cho khỉ (1691), Lối lên miền Ô-cư (1689).
3. Thực hành phân tích và sáng tác thơ Hai-kư
Bố cục thơ Hai-cư:
Dòng thứ nhất giới thiệu
Dòng thứ hai tiếp tục ý trên và mở rộng dòng thứ ba
Dòng thứ ba kết lại tứ thơ, mở ra những suy tư cảm xúc cho người đọc
1.
Trên cành khô
Cánh quạ đậu
Chiều thu
(Đoàn Lê Giang dịch)
2.
Chim đỗ quyên hót
ở Kinh đô
mà nhớ Kinh đô.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Ba-shô ở Kinh đô (Ky-ô-tô) thời trẻ (1666-1672), rồi chuyển đến Ê-đô. Hai mươi năm sau ông trở lại Ky-ô-tô, nghe tiếng chim đỗ quyên hót mà viết nên bài thơ này.
Bài 2
Từ Kinh đô hiện tại, trước mắt,nhà thơ nhớ Kinh đô xưa, đầy kỉ niệm đã qua
Quý ngữ gợi mùa hè
Nỗi buồn về sự vô thường, sự thương tiếc thời gian
- So sánh bài thơ với câu thơ của Nguyễn Bính: Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên.
- Tiếng chim đỗ quyên trong thơ Ba- sô và tiếng chim cuốc trong bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan?
Nét chung bài 1,2: dù viết trong những thời điểm khác nhau, nhưng đều thể hiện tình cảm sâu sắc của nhà thơ với những vùng đất nhà thơ đã dừng chân.
Chim đỗ quyên
3.
Lệ trào nóng hổi
Tan trên tay tóc mẹ
Làn sương thu.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Ba-shô về quê, mẹ đã mất. Người anh đưa cho ông di vật còn sót lại của mẹ là một mớ tóc bạc.
Bài 3
Mớ tóc bạc:
+ hình ảnh cuộc đời vất vả một nắng hai sương của người mẹ
+ sự mòn mỏi đợi chờ đứa con lãng du.
Tình cảm của nhà thơ với mẹ biểu hiện qua giọt lệ nóng hổi-> Sự đau đớn, xót xa, ân hận.
- Quý ngữ : sương thu- mùa thu
Hình ảnh mơ hồ:
+ làn tóc mẹ như sương?
+ lệ như sương?
+ làn tóc mẹ hòa giọt nước mắt người con thành sương thu?
+ cuộc đời ngắn ngủi, mong manh như sương ?
4.
Tiếng vượn hú não nề
Hay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc
Gió mùa thu tái tê.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Ngày xưa, người nông dân Nhật Bản rất nghèo, vào những năm đói kém, có khi người ta phải bỏ con vào rừng vì không nuôi nổi.
Bài 4
- Quý ngữ : mùa thu-> mùa đói kém ở nước Nhật xưa
- Nhà thơ qua rừng nghe tiếng vượn kêu, liên tưởng đến tiếng trẻ em bị bỏ rơi than khóc ai oán, não nề-> tình thương của nhà thơ với những sinh linh bất hạnh.
- Hình ảnh mơ hồ: cuộc sống thật khắc nghiệt, u buồn hay là tiếng khóc than của gió, nỗi lòng nhà thơ?
+ Tiếng vượn thật hay tiếng khóc của trẻ bị bỏ rơi trong gió mùa thu thật?
+ Trong gió mùa thu, hay gió mùa thu đang than khóc cho con người?
- So sánh tấm lòng của Ba- sô trong bài thơ và tấm lòng của Nguyễn Du trong các câu thơ sau:
“Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,
Lỗi mùa sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế vào ra,
U ơ tiếng khóc thiết tha não lòng.” (Văn tế thập loại chúng sinh- Nguyễn Du)
5.
Mưa đông giăng đầy trời
Chú khỉ con thầm ước
Có một chiếc áo tơi.
(Đoàn Lê Giang dịch)
Bài 5
- Quý ngữ : mùa đông
Mùa đông lạnh mưa rơi, qua khu rừng nhà thơ thấy chú khỉ nhỏ run trong mưa và tưởng tượng chú khỉ đó cũng cần một chiếc áo tơi để chắn gió, che mưa.
+ Hình ảnh đó gợi những đứa trẻ nghèo đang co ro trong mưa lạnh trên khắp nước Nhật.
+ mơ ước của nhà thơ: những sinh linh bé nhỏ có nhà, có áo ấm che gió rét.
Nét độc đáo: Từ hình ảnh ngẫu nhiên bắt gặp trên đường, trong khoảng khắc bất chợt, thức tỉnh một nhận thức mới trong tâm hồn và ý nghĩa cuộc sống xuất hiện : sống để thương yêu.
Bài 4, 5,6 : Tình yêu thương của nhà thơ đối với con người, với những sinh linh bé nhỏ, bất hạnh, -> đây chính là sự tu thiền, nhà thơ không thoát đời mà gắn bó, chiêm nghiệm về cuộc đời.
6.
Từ bốn phương trời xa
Cánh hoa đào lả tả
Gợn sóng hồ Bi-oa.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Hồ Bi-oa (Tỳ Bà hồ): hồ lớn nhất Nhật Bản, trông giống như hình cây đàn Tỳ Bà, rất đẹp, nằm ở trung tâm tỉnh Si-ga, gần quê của Ba-shô.
- Hồ Bi- oa : cảnh đẹp, thơ mộng .Hoa anh đào nở về mùa xuân, biểu tượng cho đất nước Nhật Bản.
- Hoa rơi nhẹ nhàng khẽ khàng lắm mà mặt hồ lại xao động
+ Cảnh tượng giản dị nhưng thể hiện một triết lí sâu sắc theo quan niệm thiền tông:sự đồng cảm, tương giao, chuyển hóa giữa các sự vật, hiện tượng.
+ Cảm thức thẩm mỹ nhẹ nhàng, giản dị, khinh thanh.
Bài 6
7.
Vắng lặng u trầm
Thấm sâu vào đá
Tiếng ve ngâm.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Bài thơ có liên tưởng kì lạ, thể hiện sự tương giao mầu nhiệm giữa cảm giác, âm thanh và vật thể.
- Tiếng ve là thanh, đá là vật nhưng tiếng ve trong cảnh u tịch lại như thấm vào đá-> sự giao cảm giữa một thực thể nhỏ bé và một vật vô tri.
- Cảm thức thẩm mĩ vắng lặng, cô tịch, u huyền.
*Quý ngữ trong hai bài thơ là: hoa đào mùa xuân, tiếng ve mùa hạ.
Hai bài thơ là cảm hứng về sự tương giao các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ.
Bài 7
Sự giống nhau về diễn tả mối tương giao giữa các sự vật hiện tượng trong vũ trụ ở hai bài thơ 6,7 của Ba sô với những câu thơ sau của Nguyễn Trãi:
“Ngư ca tam xướng yên hồ khoái,
Mục địch nhất thanh thiên nguyệt cao”.
(Ông chài hát lên ba lần làm cho mặt hồ phủ khói mở rộng ra,
Trẻ mục đồng thổi một tiếng sáo làm cho trăng trên trời cao hơn.)
(Chu trung ngẫu thành)
8.
Nằm bệnh giữa cuộc lãng du
Mộng hồn còn phiêu bạt
Những cánh đồng hoang vu.
(Đoàn Lê Giang dịch)
* Chú thích: Đây là bài thơ Ba-sô làm trước khi mất.
- Quý ngữ của bài thơ: cánh đồng hoang vu -> mùa đông
- Lãng du: cuộc đời lang thang phiêu bồng
lòng yêu đời, khát vọng sống mãnh liệt và ước mơ phiêu du khám phá cái đẹp của nhà thơ.
Bài 8
9.
Đất khách mười mùa sương
về thăm quê ngoảnh lại
Ê-đô là cố hương.
Tình cảm lưu luyến, nhớ nhung của nhà thơ với vùng đất Ê- đô, nơi nhà thơ đã từng gắn bó lâu dài, đầy kỉ niệm, đầy tình nghĩa.
- Quý ngữ: mùa sương -> mùa thu
Tình cảm đối với Mi-ê sau mười năm xa quê.
Trở về Mi-ê lại nhớ Ê-đô: Ê-đô thân thiết như quê hương mình. Bài thơ thể hiện tình cảm thân thiết gắn bó với mảnh đất mình ở. Bài thơ thể hiện quy luật tình cảm đối với quê hương thứ hai.
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở.
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” ( Chế Lan Viên)
So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa hai bài thơ :
Đất khách mười mùa sương
về thăm quê ngoảnh lại
Ê- đô là cố hương.
Tinh Châu đất khách đã mười hè,
Hôm sớm Hàm Dương bụng nhớ quê.
Qua bến Tăng Càn, Vô Tích nữa,
Tinh Châu ngoảnh lại đã thành quê.
(Qua bến Tăng Càn- Giả Đảo)
Một địa danh
Chỉ là khoảng khắc ngoảnh lại, bừng ngộ một chân lí đơn giản, sâu xa chợt thấy đất khách là quê hương
Bốn địa danh
Hành động, tâm trạng mười năm đất khách.
Kể, tả , giãi bày
+ Giống nhau: nội dung, cảm xúc
+ Khác nhau:
10.
Mùa xuân ra đi
Tiếng chim thổn thức
Mắt cá lệ đầy
=> Qua bức tranh thiên nhiên tuy đơn sơ mà sống động đó, cảm xúc của Ba-sô hiện lên thật rõ rệt. Tác giả quan sát cuộc sống của cá và chim, hóa thân mình vào các sinh vật nhỏ bé đó để cảm nhận vòng quay của tạo hóa. Nhà thơ có một tâm hồn rung động nhạy cảm, một đời sống nội tâm phong phú, một sự tồn tại hòa điệu mãnh liệt với thiên nhiên và cuộc sống.
11.
Mưa tháng năm
Đứng dầm trong nước
Chân hạc ngắn dần.
Tính tương quan hai hình ảnh:
+ Mưa tháng năm: là hình ảnh lớn, mang tầm vóc vũ trụ, thể hiện cho vòng quay của thời gian
+ Hạc đứng trong nước tìm cá, chân hạc ngắn dần: là hình ảnh nhỏ, diễn ra một cách cụ thể trước mắt=> cách miêu tả ”mượn a nói b” lý thú. Nước lên cao, tôm cá nhiều, hạc sẽ dễ dàng kiếm ăn hơn.
=> Bao trùm lên bài thơ là một âm hưởng vui. Nhà thơ không chỉ vui khi mùa sang, mưa về trên ruộng đồng mà còn vui vì thấy hạc sẽ kiếm được nhiều cá hơn, sẽ có cuộc sống đầy đủ hơn, và nhất là sẽ bớt đi lo âu cực nhọc vì cuộc sống mưu sinh.
12.
Gần xa đâu đây
nghe tiếng thác chảy
lá non tràn đầy
(Thơ Buson-Thanh Châu dịch)
Trên cành khô
một chim quạ
chiều thu
Nhánh cỏ bạc nào
chơ vơ run rẩy
tâm hồn đìu hiu
(Issa)
(Hosusuki ya
hosoki kokoro
no sawagashiki)
Cỏ bạc - Kikakudô Kiich
Mây giữa trưa - Ogawa Senô
Mây trôi
xuống chân trời ấy
một hàng biển khơi
(Shiki)
(Kumo no mine
narabete hikushi
umi no hate)
- Thơ hai- cư là thể thơ độc đáo thể hiện đặc trưng triết lí và nghệ thuật phương Đông.
-Thơ của cái đẹp trong thiên nhiên và cái đẹp trong tâm hồn con người.
Con đường tiếp cận thơ Hai-cư:
- Bước 1: Tìm quý ngữ, xác định mùa.
Xâu chuỗi, liên kết các hình ảnh có trong bài thơ.
- Bước 2: Từ chuỗi hình ảnh mở rộng liên tưởng, tưởng tượng để khám phá các lớp nghĩa có trong bài thơ.
Theo tinh thần đổi mới trong việc dạy và học hiện nay, tiếp cận thơ hai-kư cũng theo các hướng chung:
– Tích hợp văn hóa
– Tiếp cận văn bản
– So sánh – đối chiếu
– Vận dụng – thực hành
 







Các ý kiến mới nhất