Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

thuy trieu

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đức Việt
Ngày gửi: 14h:13' 17-12-2010
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 129
Số lượt thích: 0 người




Đề tài : sự thay đổi của thủy triều theo
chu kỳ năm và nhiều năm

Tổ : 3
Lớp : 09CDL
GVHD : Th.S Lê Thị Thanh Hương
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀ NẴNG
Khoa Địa Lý
THỦY TRIỀU
1.Phần mở đầu
2.Phần nội dung
3. Phần kết luận
1. Khái niệm
Thủy triều là hiện tượng dao động thường xuyên có chu kỳ của các khối nước, trong các biển và đại dương. Ở ven biển, của sông lên xuống theo quy luật xác định với chu kỳ 24h52’. Thời gian này đúng bằng thời khoảng 2 lần liên tiếp Mặt Trăng đi qua kinh tuyến tại một nơi nhất định
I. Phần mở đầu
Hình ảnh thủy triều lên xuống
2. Nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra thủy triều:
Do ảnh hưởng của Mặt Trăng và Mặt Trời
- Ngày “triều cường”:
+Mặt Trăng, Mặt Trời
và Trái đất nằm
thẳng hàng.
+Trên Trái đất đang
là ngày trăng tròn
hoặc không trăng.
- Ngày “triều kém”
+Mặt Trăng, Mặt Trời
và Trái đất ở vị trí
vuông góc.
+Trên Trái đất đang
là những ngày
trăng khuyết.
Vị trí của Mặt Trăng, Mặt Trời
và Trái đất
Lý thuyết tĩnh học: Newton đề xuất vào năm 1687. Cơ sở của học thuyết này là cân bằng tĩnh giữa lực hấp dẫn và lực ly tâm của các thiên thể nhất là Mặt Trăng và Mặt Trời.

Lý thuyết động học: Được la-plat đề xuất vào năm 1975 sau đó được các tác giả khác hoàn thiện thêm. Cơ sở của lý thuyết này là thủy động lực học, tức là coi thủy triều là một dao động sóng phắc tạp. Khi thiên thể đến kinh tuyến địa phương sẽ gây ra một lực hấp dẫn và tạo ra một sóng cưỡng bức và khi thiên thể đi qua rồi sóng đó vẫn còn dao động dưới dạng sóng tự do. Đặc điểm của sóng này là chiều dài bước sóng rất lớn bằng một phần hai vòng tròn vĩ tuyến của địa phương, trong khi đó độ sâu của biển trung bình khoảng 4000m đi dưới dạng sóng dài theo công thức:
C=
Trong đó: g là gia tốc trọng lực, h là độ sâu đáy biển.
Đồng thời cũng do chu kì của sóng triều lớn nên trong quá trình dao động, sóng triều lại chịu ảnh hưởng của lực koriolit và hình thành các điểm vô triều hay tâm truyền sóng.
Tóm lại lý thuyết tĩnh học về thủy triếu cuả Newton đã đạt tới trình đọ khoa học khá cao vì đã giải thích sự tuần hoàn của thủy triều và sự chênh lệch triều.Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn còn nhiều hạn chế vì khó giải thích được cấc biên độ triều lớn.Còn lý thuyết động học có nhiều ưu điểm đã nêu được bản chất của thủy triều và giải thích được một số vấn đề trong thực tiễn. Tuy nhiên, lý thuyết nay chỉ phù hợp với các vùng chế độ bán nhật triều đều, còn đối với vùng khác vẫn chưa được chính xác lắm.
Như đã trình bày, thủy triều là một dao động sóng. Trong quá trình này sóng triều cũng biến đổi theo nhiều chu kỳ khác nhau như tuần trăng, năm và nhiều năm….
Chu kì triều: chế độ triều được xác định bởi quá trình giao động của mực nước biển trong những chu kì nhất định.
Song quan trọng hơn cả lại là chu kỳ ngày. Chu kỳ ngày là cơ bản và cũng khá phức tạp. Để xác định thủy triều triều trong ngày, người ta có thể dựa vào quan trắc lâu ngày tại trạm, song sẽ đơn giản và chính xác nếu dựa vào các sóng chính. V.stoc ( năm 1897 ), dựa vào 4 sóng: 01, k1, M2,S2… đã thu được kết quả khả quan.
II. PHẦN NỘI DUNG

Song sẽ đơn giản và chính xác nếu dựa vào quan hệ giữa các sóng chính. Có các trường hợpnhư:
- Bán nhật triều đều: Trong ngày có 2 lần nước lên và nước xuống đều đặn, với chu kỳ là 12h 25’. Chế đọ này khá phổ biến ở trên các biển và đại dương trên thế giới. Điển hình là ở BALBOA (cửa kênh đào PANAMA phía Thái bình Dương)

Xét vị trí C nằm trên đường xích đạo, sau 12h C sẽ duy chuyển (quay) đến C` , độ cao của triều (khoảng cách từ C hay C` đến mực nước biển trung bình) là như nhau. Nếu tại C đang là lúc triều dâng thì sau 12 h (tại vị trí C`) triều cũng sẽ là lúc triều dâng và ngược lại. Như vậy ở C trong 1 ngày sẽ có 2 lần triều dâng và rút. Đó chính là hiện tượng Bán nhật triều.

- Bán nhật triều không đều: Trong ngày chủ yếu là chế độ bán nhật triều, song trong chu kỳ tuần trăng đã xuất hiện một số ngày nhật triều. Chế độ này đã xảy ra rất phổ biến trên các biển và đại dương trên thế giới. Điển hình là Vancovo (cửa sông Phraygio ở CANADA ).
- Nhật triều :
Tại vị trí A, giả sử tại A triều đang dâng (mực triều cao hơn mực nước biển) thì tại A` triều sẽ là lúc rút (mực triều thấp hơn mực nước biển).Khi A quay nữa vòng trái đất đến A` thì triều đang ở trong giai đoạn rút. Vậy ở đây chỉ có một lần triều dâng và rút trong một ngày. Đây là hiện tương Nhật triều.




 
- Nhật triều không đều : Trong ngày chế độ nhật triều là chủ yếu, tức là chu kỳ khoảng 24h50’.
Tuy nhiên trong chu kỳ tuần trăng vẫn còn một số ngày bán nhật triều. Chế độ triều này không phổ biến lắm và điển hình là ở Manila thuộc Philippin.
- Nhật triều đều: chế độ này rất hiếm trên thế giới. Trong 10000 trạm quan trắc chỉ có 17 nơi có chế độ này và đặc biệt trong vịnh Bắc bộ nước ta có 7 địa điểm. Điển hình chi chế độ này là Đồ Sơn.
Như vậy, chế độ bán nhật triều xảy ra là chủ yếu, song trên dọc bờ biển nước ta có đầy đủ các chế độ triều mà chủ yếu là nhật triều không đều và đặc biệt là nhật triều đều. Vì vậy đã có tác giả cho rằng Việt Nam là vương quốc của thủy triều
+ Chu kì năm : Trong thời gian một năm, thủy triều cũng thay đổi . Chế độ năm xảy ra do sự thay đổi biên độ triều bởi khoảng cách giữa cả trái đất và mặt trời và độ xích vĩ của thiên thể. Hiện tượng này thể hiện giữa ở các mùa trong năm và phụ thuộc các chế độ triều ngày ở các vùng cụ thể:
+ Vùng nhật triều thuần nhất : Trong năm thường có 2 lần nước cường lớn vào các ngày chí: đông và hạ chí, tức là khoảng các ngày 22/6 và 22/12. Ngược lại, độ lớn triều giảm vào các ngày phân: xuân và thu phân ,túc là khoản các ngày 21/3 và 23/9… đặc biệt là ở vùng đỉnh vịnh Bắc Bộ lại xuất hiện các kì nước lớn vào các ngày 20/9 và 05/10 và các kì nước lớn nhất( kì phúc) vào khoảng 3/1 trong năm…

+ vùng bán nhật triều đều: ở các vùng này, chế độ triều lại xảy ra ngược với các vùng trên ,tức là nhỏ vào các ngày chí và lớn vào các ngày phân .
+ vùng tạp triều : tính chất triều này xảy ra cũng phức tạp do tùy thuộc vaafo các loại triều cụ thể . Đối với vùng nhật triều không đều sẽ tương tự như vùng nhật triều đều ,trong khi đó ở vùng bán nhật triều không đều ,hiện tượng lại giống với vùng bán nhật triều đều .
Ngoài ra , số ngày thủy triều cực đại hàng năm cũng có sự khác biệt giữa các chế độ triều cơ bản. Đối với vùng nhật triều không đều có thể 80% xảy ra vào các triều ngày chí, còn trong những triều ngày phân chỉ vào khoảng 50%.
- Chu kì nhiều năm: Ngoài các chu kì trên , một chu kì nữa biểu hiện cũng khá rõ ràng. Đó chu kì dài , khoảng 18,61 năm do chênh lệch triều thị sai gây ra.
Chu kì này cũng có sự phân hóa giữa các vùng với chu kì triều cơ bản khác nhau. Ví dụ,trong vịnh Bắc Bộ từ những năm 1950 tới 2000, các kì nước cường xảy ra vào các năm 1968-1969-1970 và trong các năm 1986-1987-1988; ngược lại, các kì nước kém lại xảy ra vào các năm 1977-1978-1979 và các năm 1995-1996-1997.
Chu kì này đã được ghi nhận khá rõ ràng tại vách đá của các đảo trong vịnh Hạ Long ,cũng như ở sườn của các bãi san hô ở phía nam. Trong vịnh Hạ Long các dải hà tại Hòn Gai vẫn còn in đậm nét trên các sườn đảo . Căn cứ vào giao động này , diện tích mặt biển có thể chênh lệch so với kì nước kém tới 200km², kì nước trung bình đến kì nước cực đại là 600km², tức là khoảng 1 - 4‰ diện tích toàn vịnh.
III. PHẦN KẾT LUẬN
Có thể thấy rằng thủy triều với các quá trình biến đổi thiên nhiên liên quan làm cho chúng ta thấy rõ vai tò to lớn nhiều mặt của nó, nhất là trong những vùng cửa sông, nhận rõ điều đó trong những năm gần đây việc nghiên cứu, dự báo hiện tượng tự nhiên này đã được đặt ra có hiệu quả trong các chương trình điều tra, nghiên cứu biển và hiện nay việc dự báo đảm bảo độ chính xác cao và tin cậy phục vụ tốt cho các hoạt động kinh tế - xã hội trong vùng, an toàn, hạn chế tối đa mặt tiêu cực của thủy triều trong các vùng biển
Thank you !
No_avatarf

bài viết của bạn ngán quá ah

Hôn

mà mình ghét bạn nên mình cũng sẽ ghét bài viết nay lắm

bạn ah

 
Gửi ý kiến