tiếng việt lớp 3

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Quốc Văn
Ngày gửi: 13h:44' 30-09-2022
Dung lượng: 11.8 MB
Số lượt tải: 22
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Quốc Văn
Ngày gửi: 13h:44' 30-09-2022
Dung lượng: 11.8 MB
Số lượt tải: 22
Số lượt thích:
0 người
*Chaøo möøng quyù thaày coâ veà döï
*HOÄI THI GIAÙO VIEÂN GIOÛI
*Năm học: 2020- 2021
*GV: NGUYEÃN QUOÁC VAÊN *Ñôn vò: Phöông Phuù 2
*NHỮNG BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NÓI – VIẾT TRONG MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 3
* - Họ tên: Nguyễn Quốc Văn *- Sinh ngày: 01/10/1979 Giới tính: Nam *- Đơn vị công tác: Trường TH Phương Phú 2 *- Trình độ chuyện môn: Đại học
* I.Thực trạng: . *Năm học 2020- 2021 tôi được phân công dạy lớp 3C2 . *Lớp có: 21 em. Nữ: 09 em. *Thuận lợi: *-Bản thân luôn được tạo điều kiện học hỏi, cải tiến phương pháp dạy học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn. . *- Ban Giám hiệu, Tổ chuyên môn hàng năm thường xuyên tổ chức dự giờ rút kinh nghiệm nên bản thân học hỏi được nhiều. - Học sinh lớp ba, các em rất ham tìm tòi học hỏi. .
*- Một số học sinh trong lớp có kỹ năng nghe- nói- đọc- viết khá tốt. . *_ _2.Khó khăn: *Học sinh lớp 3C2 tôi chủ nhiệm thuộc vùng sâu, nằm giáp bờ bao Lâm trường Phương Ninh, nên vốn sống, hiểu biết, giao tiếp các em còn hạn chế. . * Trình độ diễn đạt chưa phong phú nói chung và khả năng nói- viết thành câu nói riêng còn hạn chế. .
* - Môn tập làm văn đòi hỏi học sinh có nhiều kiến thức, hiểu biết phong phú nói về quê hương, gia đình, người lao động, kể về lễ hội, trận thi đấu thể thao, bảo vệ môi trường… (có tham gia, chứng kiến, ... lễ hội, trận đấu thể thao, ....) thì mới học tốt môn tập làm văn. * - Khả năng tìm ý của học sinh chưa đủ, thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, còn sử dụng từ địa phương nhiều chưa có tính trườu tượng nhân hóa, so sánh. . * - Khả năng diễn đạt câu văn chưa được hoàn chỉnh, nghĩ gì viết đó không theo trình tự. .
*Đấy là vấn đề đòi hỏi giáo viên phải có biện pháp thích hợp để từng bước giảng dạy đạt kết quả. Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện: “Những biện pháp rèn kĩ năng nói – viết trong môn Tập làm văn lớp 3”. . *II.Giải pháp thực hiện: . *Biện pháp 1: Tìm hiểu khả năng diễn đạt (nói, viết) của học sinh: . *Ngay từ đầu năm qua thăm hỏi giáo viên chủ nhiệm cũ và qua thực tế học tập của học sinh ở lớp. Từ đó phân loại khả năng nói viết của học sinh trong lớp. .
*Biện pháp 2: Thực hiện tốt khẩu hiệu “ Nói viết phải thành câu” . * Để thực hiện tốt vấn đề này, tôi luôn yêu cầu các em khi giao tiếp (vui chơi, học tập, lao động, …) đều phải diễn đạt thành câu. Ngoài ra, để khắc phục những hạn chế trên, giáo viên cần thực hiện tích hợp kiến thức trong tất cả các môn học. Nhất là môn Tiếng Việt. Để từ đó góp phần thực hiện tốt kỹ năng nghe- nói- đọc- viết trong giao tiếp. .
*Biện Pháp 3. Tạo điều kiện để các em được chứng kiến, tham gia các hoạt động cần thiết. *Ví dụ: Để học sinh hoàn thành bài tập làm văn theo câu hỏi gợi ý về một trận thi đấu thể thao. Do học sinh vốn tri thức về thế giới xung quanh hạn chế, nếu học sinh không chứng kiến tận mắt thì không thể làm được. Vì vậy giáo viên có thể phối hợp cùng PHHS tạo điều kiện cho các xem trên tivi. Ngoài ra nếu nhiều em chưa xem thì giáo viên có thể trình chiếu cho các em cùng xem. Sau đó, mới hoàn thành bài tập. .
*Biện pháp 4: Hình thành kiến thức *Trong việc cung cấp kiến thức cho học sinh, giáo viên không nên áp đặt các em vào một khuôn mẫu nhất định như chỉ định học sinh phải quan sát một bức tranh, một sự vật, con người hay một công việc cụ thể như thế sẽ hạn chế năng lực sáng tạo của các em. Vì vậy, với bất cứ một đề tài nào của một tiết Tập làm văn, giáo viên cần cho học sinh liên hệ mở rộng để các em phát huy được năng lực sáng tạo trong bài văn của mình. .
*Giáo viên cần cho học sinh đọc toàn bộ các câu gợi ý để hiểu rõ và nắm vững nội dung từng câu; từ đó giúp các em trình bày đoạn văn rõ ràng, mạch lạc đủ ý, đúng từ, đúng ngữ pháp. Giúp học sinh nắm vững nội dung từng câu hỏi gợi ý sẽ hạn chế được việc trình bày ý trùng lặp, chồng chéo, không có sự liên kết giữa các ý với nhau trong đoạn văn. . * Trong một tiết Tập làm văn với một đề tài nào đó, học sinh có thể quên một số hình ảnh, sự việc… mà các em đã quan sát hoặc tìm hiểu qua thực tế. .
*Giáo viên khơi gợi cho học sinh nhớ lại bằng những câu hỏi nhỏ có liên quan đến yêu cầu bài tập, phù hợp thực tế và trình độ học sinh để các em dễ dàng diễn đạt. . *Ví dụ: Kể về trận đấu thể thao, giáo viên gợi ý: đó là môn thể thao nào? Do hai đội nào thi đấu? Trận đấu diễn ra vào lúc nào? ở đâu?... . hoặc Kể về người lao động trí óc, giáo viên gợi ý: Người em kể là ai? Làm nghề gì? Người ấy độ bao nhiêu tuổi?... .
*Biện pháp 5:_ _Giúp học sinh tìm ý thông qua tưởng tượng: . * Nếu trong một bài Tập làm văn, học sinh chỉ biết diễn đạt nội dung bằng những gì đã quan sát; hoặc thực hành một cách chính xác theo các gợi ý; bài làm như thế tuy đủ ý nhưng không có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe. Vì vậy, với từng đề bài giáo viên nên có những câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh liên tưởng, tưởng tượng thêm những chi tiết một cách tự nhiên, chân thật và hợp lí qua việc sử dụng các biện pháp so sánh,
*nhân hoá, để từ đó học sinh biết trình bày bài văn giàu hình ảnh, sinh động, sáng tạo. Ví dụ: khi giới thiệu về tổ em, học sinh nói: 'Tổ em bạn nào cũng chăm ngoan, riêng bạn Lan học giỏi Toán lại hát hay như chim Sơn ca”. *Trí tưởng tượng, liên tưởng ở học sinh lứa tuổi này rất hồn nhiên ngây thơ và ngộ nghĩnh, cho nên để rèn luyện kĩ năng này cho học sinh, giáo viên có thể chuẩn bị những câu, đoạn văn hay cho học sinh tham khảo, học hỏi làm phong phú thêm vốn kiến thức cho các em
*Biện pháp 6:_ _Hướng dẫn diễn đạt: . * Như đã nói, do tâm lí lứa tuổi nên bài văn thực hành của học sinh lớp 3 tuy có ý tưởng, nhưng vẫn còn nhiều sai sót về diễn đạt như: Dùng từ chưa chính xác, ý trùng lắp, các ý trong đoạn văn chưa liên kết nhau nên trình bày chưa rõ ràng mạch lạc. Vì vậy, khi học sinh trình bày, giáo viên phải hết sức chú ý lắng nghe, ghi nhận những ý tưởng hay, ý có sáng tạo của học sinh để khen ngợi; đồng thời phát hiện những sai sót để sửa chữa. .
* a.Hướng dẫn sửa chữa từ: . *Trường hợp học sinh dùng từ chưa chính xác như các từ ngữ chưa phù hợp, nghĩa từ chưa hay hoặc từ thông dụng địa phương… ví dụ: 'thầy em rất chăm chỉ trong giảng dạy”, “cô em thường bận đồ xanh”… khi học sinh phát hiện sai sót đó, giáo viên giúp các em sửa chữa thay đổi từ phù hợp. Đối với từ học sinh dùng trùng lặp nhiều lần trong một câu, Ví dụ: “Bác ba là người hàng xóm của em, bác ba rất tốt với em, bác ba luôn giúp em học bài…”, giáo viên hướng dẫn học sinh lượt bớt từ hoặc dùng từ phù hợp để thay thế. .
*Trong trình bày bài văn, học sinh vẫn thường dùng từ ngôn ngữ nói, giáo viên nên hướng dẫn học sinh thay thế bằng từ ngôn ngữ viết trong sáng hơn. . *b.Hướng dẫn sửa chữa đặt câu: . *Học sinh nói viết câu chưa hay chưa đủ ý, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sửa chữa bổ sung ý vào cho đúng; câu dài dòng ý chưa rõ ràng mạch lạc cần cho học sinh sửa sai lượt bỏ ý dư ý trùng lắp. Giáo viên khuyến khích học sinh tự sửa câu văn chưa hay của mình bằng những câu văn hay của bạn. .
*c.Hướng dẫn sửa chữa đoạn văn: *Khi kể về một việc làm một hoạt động nào đó, giáo viên cần khuyến khích học sinh sử dụng những từ liên kết câu thể hiện trình tự diễn biến của sự việc như: “đầu tiên”; “kế tiếp”; “sau đó”; “cuối cùng”… để đoạn văn gắn kết chặt chẽ liên tục từng ý với nhau. Do đặc điểm lứa tuổi và trình độ từng đối tượng học sinh không đồng đều nhau nên các em chưa hiểu nhiều về từ, câu liên kết trong đoạn văn viết;
*vì vậy giáo viên cần hướng dẫn bằng những gợi ý giản đơn dễ hiểu, có thể cho học sinh khá giỏi làm mẫu để giúp các em trình bày tốt hơn đoạn văn viết của mình. . *III. Kết quả thực hiện: *Đầu năm: 2019 – 2020 * * * * *Cuối năm
*SS
*Hoàn thành tốt
*Hoàn thành
*Chưa hoàn thành
*21
*05 em
*23,80%
*10 em
*47,61%
*06 *em
*28,57%
*SS
*Hoàn thành tốt
*Hoàn thành
*Chưa hoàn thành
*21
*15 em
*71,42%
*6em
*28,57%
*
*Sau khi thực hiện các em đã mạnh dạn, diễn đạt câu, ý rõ ràng. Tự tin khi trao đổi để tìm ý khi làm văn. Vì vậy đề tài có khả năng ứng dụng và triển khai cho tất cả giáo viên trong đơn vị cùng thực hiện để việc dạy học môn Tập làm văn lớp 3 đạt hiệu quả cao. Đây là cơ sở làm nền tảng cho các em học tốt phân môn Tập làm văn ở các lớp cuối bậc Tiểu học. * * Người thực hiện * Nguyễn Quốc Văn .
*_Xin chân thành cám ơn quý thầy cô!_
*_Kính chúc quý thầy cô mạnh khỏe, hạnh phúc!_
*HOÄI THI GIAÙO VIEÂN GIOÛI
*Năm học: 2020- 2021
*GV: NGUYEÃN QUOÁC VAÊN *Ñôn vò: Phöông Phuù 2
*NHỮNG BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NÓI – VIẾT TRONG MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 3
* - Họ tên: Nguyễn Quốc Văn *- Sinh ngày: 01/10/1979 Giới tính: Nam *- Đơn vị công tác: Trường TH Phương Phú 2 *- Trình độ chuyện môn: Đại học
* I.Thực trạng: . *Năm học 2020- 2021 tôi được phân công dạy lớp 3C2 . *Lớp có: 21 em. Nữ: 09 em. *Thuận lợi: *-Bản thân luôn được tạo điều kiện học hỏi, cải tiến phương pháp dạy học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn. . *- Ban Giám hiệu, Tổ chuyên môn hàng năm thường xuyên tổ chức dự giờ rút kinh nghiệm nên bản thân học hỏi được nhiều. - Học sinh lớp ba, các em rất ham tìm tòi học hỏi. .
*- Một số học sinh trong lớp có kỹ năng nghe- nói- đọc- viết khá tốt. . *_ _2.Khó khăn: *Học sinh lớp 3C2 tôi chủ nhiệm thuộc vùng sâu, nằm giáp bờ bao Lâm trường Phương Ninh, nên vốn sống, hiểu biết, giao tiếp các em còn hạn chế. . * Trình độ diễn đạt chưa phong phú nói chung và khả năng nói- viết thành câu nói riêng còn hạn chế. .
* - Môn tập làm văn đòi hỏi học sinh có nhiều kiến thức, hiểu biết phong phú nói về quê hương, gia đình, người lao động, kể về lễ hội, trận thi đấu thể thao, bảo vệ môi trường… (có tham gia, chứng kiến, ... lễ hội, trận đấu thể thao, ....) thì mới học tốt môn tập làm văn. * - Khả năng tìm ý của học sinh chưa đủ, thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, còn sử dụng từ địa phương nhiều chưa có tính trườu tượng nhân hóa, so sánh. . * - Khả năng diễn đạt câu văn chưa được hoàn chỉnh, nghĩ gì viết đó không theo trình tự. .
*Đấy là vấn đề đòi hỏi giáo viên phải có biện pháp thích hợp để từng bước giảng dạy đạt kết quả. Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện: “Những biện pháp rèn kĩ năng nói – viết trong môn Tập làm văn lớp 3”. . *II.Giải pháp thực hiện: . *Biện pháp 1: Tìm hiểu khả năng diễn đạt (nói, viết) của học sinh: . *Ngay từ đầu năm qua thăm hỏi giáo viên chủ nhiệm cũ và qua thực tế học tập của học sinh ở lớp. Từ đó phân loại khả năng nói viết của học sinh trong lớp. .
*Biện pháp 2: Thực hiện tốt khẩu hiệu “ Nói viết phải thành câu” . * Để thực hiện tốt vấn đề này, tôi luôn yêu cầu các em khi giao tiếp (vui chơi, học tập, lao động, …) đều phải diễn đạt thành câu. Ngoài ra, để khắc phục những hạn chế trên, giáo viên cần thực hiện tích hợp kiến thức trong tất cả các môn học. Nhất là môn Tiếng Việt. Để từ đó góp phần thực hiện tốt kỹ năng nghe- nói- đọc- viết trong giao tiếp. .
*Biện Pháp 3. Tạo điều kiện để các em được chứng kiến, tham gia các hoạt động cần thiết. *Ví dụ: Để học sinh hoàn thành bài tập làm văn theo câu hỏi gợi ý về một trận thi đấu thể thao. Do học sinh vốn tri thức về thế giới xung quanh hạn chế, nếu học sinh không chứng kiến tận mắt thì không thể làm được. Vì vậy giáo viên có thể phối hợp cùng PHHS tạo điều kiện cho các xem trên tivi. Ngoài ra nếu nhiều em chưa xem thì giáo viên có thể trình chiếu cho các em cùng xem. Sau đó, mới hoàn thành bài tập. .
*Biện pháp 4: Hình thành kiến thức *Trong việc cung cấp kiến thức cho học sinh, giáo viên không nên áp đặt các em vào một khuôn mẫu nhất định như chỉ định học sinh phải quan sát một bức tranh, một sự vật, con người hay một công việc cụ thể như thế sẽ hạn chế năng lực sáng tạo của các em. Vì vậy, với bất cứ một đề tài nào của một tiết Tập làm văn, giáo viên cần cho học sinh liên hệ mở rộng để các em phát huy được năng lực sáng tạo trong bài văn của mình. .
*Giáo viên cần cho học sinh đọc toàn bộ các câu gợi ý để hiểu rõ và nắm vững nội dung từng câu; từ đó giúp các em trình bày đoạn văn rõ ràng, mạch lạc đủ ý, đúng từ, đúng ngữ pháp. Giúp học sinh nắm vững nội dung từng câu hỏi gợi ý sẽ hạn chế được việc trình bày ý trùng lặp, chồng chéo, không có sự liên kết giữa các ý với nhau trong đoạn văn. . * Trong một tiết Tập làm văn với một đề tài nào đó, học sinh có thể quên một số hình ảnh, sự việc… mà các em đã quan sát hoặc tìm hiểu qua thực tế. .
*Giáo viên khơi gợi cho học sinh nhớ lại bằng những câu hỏi nhỏ có liên quan đến yêu cầu bài tập, phù hợp thực tế và trình độ học sinh để các em dễ dàng diễn đạt. . *Ví dụ: Kể về trận đấu thể thao, giáo viên gợi ý: đó là môn thể thao nào? Do hai đội nào thi đấu? Trận đấu diễn ra vào lúc nào? ở đâu?... . hoặc Kể về người lao động trí óc, giáo viên gợi ý: Người em kể là ai? Làm nghề gì? Người ấy độ bao nhiêu tuổi?... .
*Biện pháp 5:_ _Giúp học sinh tìm ý thông qua tưởng tượng: . * Nếu trong một bài Tập làm văn, học sinh chỉ biết diễn đạt nội dung bằng những gì đã quan sát; hoặc thực hành một cách chính xác theo các gợi ý; bài làm như thế tuy đủ ý nhưng không có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe. Vì vậy, với từng đề bài giáo viên nên có những câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh liên tưởng, tưởng tượng thêm những chi tiết một cách tự nhiên, chân thật và hợp lí qua việc sử dụng các biện pháp so sánh,
*nhân hoá, để từ đó học sinh biết trình bày bài văn giàu hình ảnh, sinh động, sáng tạo. Ví dụ: khi giới thiệu về tổ em, học sinh nói: 'Tổ em bạn nào cũng chăm ngoan, riêng bạn Lan học giỏi Toán lại hát hay như chim Sơn ca”. *Trí tưởng tượng, liên tưởng ở học sinh lứa tuổi này rất hồn nhiên ngây thơ và ngộ nghĩnh, cho nên để rèn luyện kĩ năng này cho học sinh, giáo viên có thể chuẩn bị những câu, đoạn văn hay cho học sinh tham khảo, học hỏi làm phong phú thêm vốn kiến thức cho các em
*Biện pháp 6:_ _Hướng dẫn diễn đạt: . * Như đã nói, do tâm lí lứa tuổi nên bài văn thực hành của học sinh lớp 3 tuy có ý tưởng, nhưng vẫn còn nhiều sai sót về diễn đạt như: Dùng từ chưa chính xác, ý trùng lắp, các ý trong đoạn văn chưa liên kết nhau nên trình bày chưa rõ ràng mạch lạc. Vì vậy, khi học sinh trình bày, giáo viên phải hết sức chú ý lắng nghe, ghi nhận những ý tưởng hay, ý có sáng tạo của học sinh để khen ngợi; đồng thời phát hiện những sai sót để sửa chữa. .
* a.Hướng dẫn sửa chữa từ: . *Trường hợp học sinh dùng từ chưa chính xác như các từ ngữ chưa phù hợp, nghĩa từ chưa hay hoặc từ thông dụng địa phương… ví dụ: 'thầy em rất chăm chỉ trong giảng dạy”, “cô em thường bận đồ xanh”… khi học sinh phát hiện sai sót đó, giáo viên giúp các em sửa chữa thay đổi từ phù hợp. Đối với từ học sinh dùng trùng lặp nhiều lần trong một câu, Ví dụ: “Bác ba là người hàng xóm của em, bác ba rất tốt với em, bác ba luôn giúp em học bài…”, giáo viên hướng dẫn học sinh lượt bớt từ hoặc dùng từ phù hợp để thay thế. .
*Trong trình bày bài văn, học sinh vẫn thường dùng từ ngôn ngữ nói, giáo viên nên hướng dẫn học sinh thay thế bằng từ ngôn ngữ viết trong sáng hơn. . *b.Hướng dẫn sửa chữa đặt câu: . *Học sinh nói viết câu chưa hay chưa đủ ý, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sửa chữa bổ sung ý vào cho đúng; câu dài dòng ý chưa rõ ràng mạch lạc cần cho học sinh sửa sai lượt bỏ ý dư ý trùng lắp. Giáo viên khuyến khích học sinh tự sửa câu văn chưa hay của mình bằng những câu văn hay của bạn. .
*c.Hướng dẫn sửa chữa đoạn văn: *Khi kể về một việc làm một hoạt động nào đó, giáo viên cần khuyến khích học sinh sử dụng những từ liên kết câu thể hiện trình tự diễn biến của sự việc như: “đầu tiên”; “kế tiếp”; “sau đó”; “cuối cùng”… để đoạn văn gắn kết chặt chẽ liên tục từng ý với nhau. Do đặc điểm lứa tuổi và trình độ từng đối tượng học sinh không đồng đều nhau nên các em chưa hiểu nhiều về từ, câu liên kết trong đoạn văn viết;
*vì vậy giáo viên cần hướng dẫn bằng những gợi ý giản đơn dễ hiểu, có thể cho học sinh khá giỏi làm mẫu để giúp các em trình bày tốt hơn đoạn văn viết của mình. . *III. Kết quả thực hiện: *Đầu năm: 2019 – 2020 * * * * *Cuối năm
*SS
*Hoàn thành tốt
*Hoàn thành
*Chưa hoàn thành
*21
*05 em
*23,80%
*10 em
*47,61%
*06 *em
*28,57%
*SS
*Hoàn thành tốt
*Hoàn thành
*Chưa hoàn thành
*21
*15 em
*71,42%
*6em
*28,57%
*
*Sau khi thực hiện các em đã mạnh dạn, diễn đạt câu, ý rõ ràng. Tự tin khi trao đổi để tìm ý khi làm văn. Vì vậy đề tài có khả năng ứng dụng và triển khai cho tất cả giáo viên trong đơn vị cùng thực hiện để việc dạy học môn Tập làm văn lớp 3 đạt hiệu quả cao. Đây là cơ sở làm nền tảng cho các em học tốt phân môn Tập làm văn ở các lớp cuối bậc Tiểu học. * * Người thực hiện * Nguyễn Quốc Văn .
*_Xin chân thành cám ơn quý thầy cô!_
*_Kính chúc quý thầy cô mạnh khỏe, hạnh phúc!_
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Các ý kiến mới nhất