Tuần 5. Tố Hữu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Hoàng Linh Ngọc
Ngày gửi: 19h:30' 26-06-2024
Dung lượng: 1'023.3 KB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Hoàng Linh Ngọc
Ngày gửi: 19h:30' 26-06-2024
Dung lượng: 1'023.3 KB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG
MỘT VÀI
TÁC GIẢ
TRONG
NƯỚC
Tổ 2
Nhà thơ - Chính trị gia
Tố Hữu
Tiểu sử
Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (4/10/1920–9/12/2002), quê gốc
ở làng Phù Lai (nay thuộc xã Quảng Thọ), huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên-Huế.
Ông là một nhà thơ tiêu biểu của thơ cách mạng Việt Nam, đồng thời là
một chính trị gia. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống
chính trị của Việt Nam như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ
trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Một số hình ảnh về Tố Hữu
Chân dung củaTố Hữu
Tố Hữu cùng vợ ông
xã Quảng Thọ huyện Quảng
Điền tỉnh Thừa Thiên Huế
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Từ ấy” (1937 – 1946): Gồm 71
bài, sáng tác trong 10 năm, được chia làm
ba phần Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng,
tương ứng với ba chặng đường trong
mười năm hoạt động cách mạng của nhà
thơ.
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Việt Bắc” (1947 – 1945):
Sáng tác chủ yếu trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp, gồm tổng
cộng 24 bài (trong đó có 06 bài dịch,
03 bài sáng tác sau 1954).
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Gió lộng” (1955-1961): Gồm 25
bài, sáng tác trong 06 năm, bước vào giai
đoạn này cách mạng Việt Nam có hai nhiệm
vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và giải phóng niềm Nam tiến tới
thống nhất nước nhà
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Ra trận” (1962 – 1971): Gồm
31 bài, sáng tác trong 10 năm chống
Mỹ, dành hẳn một trường ca theo chân
Bác để tái hiện hình ảnh Bác trên
những chặng đường lịch sử trong hơn
nửa thế kỉ.
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Máu và hoa” (1972- 1977):
Gồm 13 bài, sáng tác trong 06 năm, là
những suy ngẫm của nhà thơ về những hi
sinh to lớn của dân tộc (máu) để tạo nên
những chiến công (hoa) chói lọi của lịch
sử.
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta
với ta” (1999): Trải qua những thăng
trầm, những trải nghiệm trước cuộc đời,
nhà thơ muốn bày tỏ những suy tư về
cuộc sống, về lẽ đời, hướng tới những quy
luật phổ quát và tìm kiếm những giá trị
bền vững
Nhà thơ
Tô Hoài
Tiểu sử
• Tô Hoài sinh ra tại quê nội ở thôn Cát Động, Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà
Đông cũ trong một gia đình thợ thủ công. Tuy nhiên, ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa
Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu
Giấy, Hà Nội, Việt Nam). Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài
Đức.
• Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán
hàng, kế toán hiệu buôn,... nhưng có những lúc thất nghiệp. Khi đến với văn chương, ông
nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Năm 1943, Tô
Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc. Trong chiến tranh Đông Dương, ông chủ yếu hoạt
động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây
Bắc.
• Từ năm 1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác. Tính đến nay, sau hơn sáu
mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác
nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.
• Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014 tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi.
Một số hình ảnh về Tô Hoài
Một số tác phẩm tiêu biểu
Truyện dài Dế Mèn phiêu lưu ký
được ông viết xong vào tháng
12 năm 1941 tại Nghĩa Đô,
ngoại ô Hà Nội khi đó. Đây là tác
phẩm rất nổi tiếng của ông dành
cho thiếu nhi.
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tác phẩm gần đây nhất của ông
là Ba người khác. Sách được
viết xong năm 1992 nhưng đến
2006 mới được phép in, nội
dung viết về thời kỳ cải cách
ruộng đất tại miền Bắc Việt
Nam, đã gây tiếng vang lớn và
có thể so sánh với Dế Mèn
phiêu lưu ký, "đã mở ra diện
mạo mới cho văn chương Việt
Nam" trong nền văn học hiện
thực.
Một số tác phẩm khác
O chuột (1942)
Nhà nghèo (1944)
Truyện Tây Bắc (1953)
Miền Tây (1967)
Cát bụi chân ai (1992)
MỘT VÀI
TÁC GIẢ
TRONG
NƯỚC
Tổ 2
Nhà thơ - Chính trị gia
Tố Hữu
Tiểu sử
Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (4/10/1920–9/12/2002), quê gốc
ở làng Phù Lai (nay thuộc xã Quảng Thọ), huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên-Huế.
Ông là một nhà thơ tiêu biểu của thơ cách mạng Việt Nam, đồng thời là
một chính trị gia. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống
chính trị của Việt Nam như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ
trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Một số hình ảnh về Tố Hữu
Chân dung củaTố Hữu
Tố Hữu cùng vợ ông
xã Quảng Thọ huyện Quảng
Điền tỉnh Thừa Thiên Huế
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Từ ấy” (1937 – 1946): Gồm 71
bài, sáng tác trong 10 năm, được chia làm
ba phần Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng,
tương ứng với ba chặng đường trong
mười năm hoạt động cách mạng của nhà
thơ.
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Việt Bắc” (1947 – 1945):
Sáng tác chủ yếu trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp, gồm tổng
cộng 24 bài (trong đó có 06 bài dịch,
03 bài sáng tác sau 1954).
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Gió lộng” (1955-1961): Gồm 25
bài, sáng tác trong 06 năm, bước vào giai
đoạn này cách mạng Việt Nam có hai nhiệm
vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và giải phóng niềm Nam tiến tới
thống nhất nước nhà
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Ra trận” (1962 – 1971): Gồm
31 bài, sáng tác trong 10 năm chống
Mỹ, dành hẳn một trường ca theo chân
Bác để tái hiện hình ảnh Bác trên
những chặng đường lịch sử trong hơn
nửa thế kỉ.
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Máu và hoa” (1972- 1977):
Gồm 13 bài, sáng tác trong 06 năm, là
những suy ngẫm của nhà thơ về những hi
sinh to lớn của dân tộc (máu) để tạo nên
những chiến công (hoa) chói lọi của lịch
sử.
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tập thơ “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta
với ta” (1999): Trải qua những thăng
trầm, những trải nghiệm trước cuộc đời,
nhà thơ muốn bày tỏ những suy tư về
cuộc sống, về lẽ đời, hướng tới những quy
luật phổ quát và tìm kiếm những giá trị
bền vững
Nhà thơ
Tô Hoài
Tiểu sử
• Tô Hoài sinh ra tại quê nội ở thôn Cát Động, Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà
Đông cũ trong một gia đình thợ thủ công. Tuy nhiên, ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa
Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu
Giấy, Hà Nội, Việt Nam). Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài
Đức.
• Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán
hàng, kế toán hiệu buôn,... nhưng có những lúc thất nghiệp. Khi đến với văn chương, ông
nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Năm 1943, Tô
Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc. Trong chiến tranh Đông Dương, ông chủ yếu hoạt
động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây
Bắc.
• Từ năm 1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác. Tính đến nay, sau hơn sáu
mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác
nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.
• Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014 tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi.
Một số hình ảnh về Tô Hoài
Một số tác phẩm tiêu biểu
Truyện dài Dế Mèn phiêu lưu ký
được ông viết xong vào tháng
12 năm 1941 tại Nghĩa Đô,
ngoại ô Hà Nội khi đó. Đây là tác
phẩm rất nổi tiếng của ông dành
cho thiếu nhi.
Một số tác phẩm tiêu biểu
Tác phẩm gần đây nhất của ông
là Ba người khác. Sách được
viết xong năm 1992 nhưng đến
2006 mới được phép in, nội
dung viết về thời kỳ cải cách
ruộng đất tại miền Bắc Việt
Nam, đã gây tiếng vang lớn và
có thể so sánh với Dế Mèn
phiêu lưu ký, "đã mở ra diện
mạo mới cho văn chương Việt
Nam" trong nền văn học hiện
thực.
Một số tác phẩm khác
O chuột (1942)
Nhà nghèo (1944)
Truyện Tây Bắc (1953)
Miền Tây (1967)
Cát bụi chân ai (1992)
 







Các ý kiến mới nhất