Trần Đăng Khoa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tôn Huyền
Ngày gửi: 16h:00' 26-07-2013
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 559
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tôn Huyền
Ngày gửi: 16h:00' 26-07-2013
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 559
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Tôn Huyền)
Lớp : TW.K4
Bài thuyết trình:
NHÀ VĂN TRẦN ĐĂNG KHOA
Nhóm : 5
Trường cao đẳng sư phạm trung ương TP.HCM
Vài nét tiểu sử:
Trần Đăng Khoa sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958 quê ở làng Trực Trì, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viên tạp chí văn nghệ quân đội, hội viên của Hội nhà văn Việt Nam.
Từ nhỏ, ông đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn. Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo. Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ông Từ góc sân nhà em và tiếp theo là Góc sân và khoảng trời được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản.
Có lẽ tác phẩm nhiều người biết đến nhất của ông là bài thơ "Hạt gạo làng ta", sáng tác năm 1968, được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc (1971).
Ông cũng được biết đến nhiều với câu truyện khi mới hơn 10 tuổi đã đề nghị đổi câu thơ "Đường ta đi rộng thênh thang tám thước" thành "Đường ta rộng thênh thang ta bước" trong bài thơ Ta đi tới của nhà thơ nổi tiếng thời bấy giờ là Tố Hữu.
Sự nghiệp:
Năm 1975 ông nhập ngũ, sau khi thống nhất ông được bổ sung về quân chủng hải quân. Tháng 6/2004 khi đã mang quân hàm thượng tá Quân đội nhân dân VN ông chuyển sang công tác tại Đài tiếng nói VN và giữ chức trưởng ban văn học nghệ thuật Đài tiếng nói VN.
Năm 2008, khi Đài tiếng nói Việt Nam thành lập Hệ phát thanh có hình VOVTV, ông được phân công làm Giám đốc đầu tiên của hệ này. Hiện nay, ông là Phó Bí thư Đảng Ủy Đài Tiếng nói Việt Nam VOV.
Ông ba lần được tặng giải thưởng thơ của báo Thiếu niên Tiền phong (các năm 1968, 1969, 1971), Giải nhất báo Văn nghệ (1982) và Giải thưởng Nhà nước (năm 2000).
Các tác phẩm chính:
Từ góc sân nhà em, 1968.
Góc sân và khoảng trời, tập thơ, 1968, tái bản khoảng 30 lần, được dịch và xuất bản tại nhiều nước trên toàn thế giới
Khúc hát người anh hùng, trường ca, 1974.
Bên cửa sổ máy bay, tập thơ, 1986.
Chân dung và đối thoại, tiểu luận phê bình, Hà Nội: Nhà xuất bản Thanh niên, 1998, tái bản nhiều lần. Tác giả cho biết ban đầu đã dự kiến phát hành tập II của tác phẩm này, nhưng hiện đã gộp bản thảo vào phần I để tái bản.
Bài "Thơ tình người lính biển" đã được Hoàng Hiệp phổ nhạc.
Đảo chìm, tập truyện - ký, đến đầu năm 2009 đã tái bản 25 lần.
Trần Đăng Khoa không có nhiều tác phẩm, và danh hiệu "thần đồng thơ trẻ" của nhà thơ thời thơ ấu không hề liên quan hay được nối tiếp đến quãng đời về sau khi nhà thơ tham gia nhập ngũ, theo học ở Nga, khi về nước làm biên tập viên, làm báo. Thi hứng một thời không là động lực cho xúc cảm khi tác giả đã cao tuổi. Những tác phẩm nổi bật của Trần Đăng Khoa:
Đặc trưng về nội dung phong cách nghệ thuật:
Giọng điệu hồn nhiên, trong sáng, thiết tha nhưng không kém phần triết lí, suy tư.
Trí tưởng tượng, liên tưởng phong phú.
Ngôn ngữ chính xác, sáng tạo, biểu cảm và giàu nhạc điệu.
Sử dụng các biện pháp tu từ: nhân hóa, so sánh, ….
Sử dụng yếu tố thi pháp của đồng dao như :kết cấu, thể thơ và ngôn ngữ. Kết cấu : Trùng điệp, hỏi đáp. Thể thơ : thơ 4 chữ, thơ lục bát. Ngôn ngữ : Tính chất kể của ngôn ngữ thơ, hiện tượng mượn lời và cãi lời.
Sử dụng 1 số hình ảnh gần gũi, thân quen: con cò, con nghé, con trâu, trăng và sao, ….
Ảnh hưởng tới trẻ MN:
Thơ văn của Trần Đăng Khoa mang tính thi pháp đồng dao: gần gũi, giản dị mà sâu sắc.
Thơ ông thể hiện rõ cái hay, cái đẹp của cuộc sống từ đó dẫn dắt trẻ đi sâu vào các tác phẩm thiếu nhi để có cách nhìn tốt hơn về nội dung và cảm thụ được cuộc sống thiên nhiên và con người.
Thơ ông bồi dưỡng tâm hồn cho trẻ và giáo dục tình cảm cao đẹp cho các thiếu nhi.
Giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu:
Góc sân và khoảng trời
Những bài thơ của Trần Đăng Khoa thưởnhỏ đã được tập hợp để in thành một tập thơ dày dặn cũng đã rất nổi tiếng.Tập thơ có tên Góc sân và Khoảng trời.
Năm 1968, khi Trần Đăng Khoa tròn 10 tuổi, Góc sân và Khoảng trời được in lần đầu, gồm 52 bài với số lượng 10.000 cuốn; năm 1973, Góc sân và Khoảng trời được bổ sung thành 66 bài, in với số lượng lên tới 50.000 bản. Thế là từ đấy, tập thơ này mỗi năm đều được bổ sung thêm và in lại nhiều lần ở nhiều nhà xuất bản khác nhau. Cho đến lần in năm 2002 là lần thứ 50, một con số có lẽ là kỷ lục cho những cuốn sách được tái bản nhiều lần ở nước ta.
Đọc Góc sân và Khoảng trời, chúng ta sẽ thấy hiện lên cả một thế giới con người và sự vật mà trong đó con người nào cũng đều để lại một dấu ấn tốt đẹp trong con mắt của thi sĩ tí hon Trần Đăng Khoa; còn sự vật thì hầu như tất cả đều đã được nhân cách hóa, trở thành những bạn bè thân thiết, không thể xa rời, và điều đặc biệt là tất cả đều nằm trong tầm nhìn của tác giả, tầm nhìn của đôi mắt trẻ thơ.
Đó là con bướm vàng, cái sân, dòng sông Kinh Thầy, con chim, con gà, vườn cải, cây đa, con trâu, cây trầu... và nhất là ánh trăng của làng quê. Với tuổi thơ trong Góc sân và Khoảng trời của Trần Đăng Khoa, ông trăng cũng ngây thơ như trẻ con, cũng thích khoe khuôn mặt tròn, cũng nhoẻn miệng cười thích thú khi nhìn thấy chuối, thấy xôi; và thú vị nhất là cũng biết thập thò ngoài cửa khi rủ bạn đi chơi. Chúng ta hãy đọc những câu thơ như thế trong bài Trông Trăng:
Trăng như cái mâm con
Ai treo ông cao thế
Ông nhìn đàn em bé
Muốn khoe có mặt tròn
...
Nải chuối tiêu thơm mát
Ông trăng nhìn thấy xôi
Là ông nhoẻn miệng cười
Áng chừng ông thích lắm
...
Khuya không trông trăng nữa
Trăng thập thò ngoài cửa
Muốn rủ em đi chơi...
Thơ trong Góc sân và Khoảng trời là thơ của tuổi thơ viết về tuổi thơ. Nhưng đó là tuổi thơ của một thời mà đất nước ta đang trong chiến tranh chống xâm lăng, lửa đạn nổ ngút trời.
Đó là cái thời mà từ những anh trai làng đến các sinh viên đại học, và cả những người thầy của tác giả Trần Đăng Khoa cũng đều lên đường ra trận. Trong bài Con chim hay hót, tác giả đã miêu tả hình ảnh những chú chim non nhìn dãy phi lao các anh bộ đội trồng ngày ra đi đánh Mỹ mà nhớ đến các anh và mong mỏi có ngày các anh sẽ trở về:
Con chim nó đỗ cành tre
Bay ra cành chè nó hót hay hay
Hót rằng cây phi lao này
Mấy anh bộ đội trồng ngày ra đi
Phi lao mới nói rầm rì
Rằng anh bộ đội mai kia lại về.
Trong Góc sân và Khoảng trời của Trần Đăng Khoa, có hẳn một mảng thơ về người thầy giáo, nhưng đều là những người thầy - người lính - người thương binh.
Bàn chân thầy giáo là một bài thơ thật cảm động về tình thầy trò và lòng yêu nước ngút ngàn trong chiến tranh.Bom Mỹ dội xuống trường học.Phượng đổ, trường sập, mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi. Thầy cầm súng đi ra trận. Trong chiến đấu, thầy bị thương mất đi một bàn chân.Và thầy lại quay về trường làm một người thầy giáo thương binh.Câu chuyện về người thầy của Trần Đăng Khoa trong bài Bàn chân thầy giáo có thể viết thành một truyện ngắn, hơn thế, có thể viết thành một cuốn tiểu thuyết đẫm chất bi hùng. Nhưng với tuổi 15 của Trần Đăng Khoa, trước hết, đó phải là những câu thơ cảm động:
Thầy ngồi ghế giảng bài
Xếp cạnh bàn đôi nạng gỗ
Một bàn chân đâu rồi
Chúng em không rõ...
Bàn chân thầy gửi lại Khe Sanh
Hay Tây Ninh, Đồng Tháp
Bàn chân đạp xuống đầu lũ giặc...
Em lắng nghe thầy giảng từng lời
Rung động bao điều suy nghĩ...
Đọc lại Góc sân và khoảng trời, thấy thơ Trần Đăng Khoa thuở tuổi lên 10 thật là trẻ con nhưng cũng thật là người lớn.
Nếu lấy con mắt của người đọc là trẻ em hôm nay để nói thì đấy là tập thơ của một chú bé già trước tuổi. Hay nói cách khác là Trần Đăng Khoa đã thành người lớn từ khi còn là trẻ con. Nhưng vấn đề là chúng ta phải đặt tập thơ khi nó ra đời vào hoàn cảnh lịch sử xã hội bấy giờ của đất nước, một đất nước đang chiến tranh, người người đi ra trận, đến cả chú chó vàng thân yêu của tác giả cũng bị chết vì bom Mỹ thì sự ra đời của những bài thơ như trong Góc sân và khoảng trời là điều tất yếu.
Chính những bài thơ được tập hợp lại trong Góc sân và khoảng trời đã làm nên một thần đồng thơ Trần Đăng Khoa ngày nào. Năm 2002, Góc sân và khoảng trời là một trong ba tập thơ của Trần Đăng Khoa được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Hạt gạo làng ta
Bài thơ Hạt gạo làng ta được chọn giảng dạy ở trường mầm non và tiểu học. Xung quanh bài thơ này có nhiều lời bình của các nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học. Chúng tôi chọn giới thiệu dưới đây lời bình của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi – một lời bình gọn, nhiều phát hiện, nêu lên được cá tính trẻ con của tác giả qua bài thơ, đồng thời cho thấy hoàn cảnh lịch sử đã tác động vào người sáng tác như thế nào, dù đó là cây bút thiếu nhi...
Lời bình của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi:
Khi làm bài thơ này, Trần Đăng Khoa đang học cấp một nhưng bằng sự hiểu biết đời sống nông thôn và nhờ tài năng đặc biệt, bài thơ được viết ra một cách sâu sắc và rung động, giầu ý nghĩa nhưng lại rất trẻ con:
Ở lứa tuổi ấy mà biết nghĩ như thế là sâu sắc lắm. Từ một thực tế có tính khoa học là cây lúa hút chất dinh dưỡng ở bùn, đất ra hoa, trổ bông, kết hạt (như ai cũng biết) thì nhà thơ bằng sự tinh tế của tâm hồn còn nghe được, cảm được “vị phù sa”, “hương sen thơm”, trong hạt gạo. Và hơn thế nữa, còn có cả tình người, lòng người ấp ủ:
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi hôm nay...
Làm ra hạt gạo gian khó biết chừng nào. Ca dao cổ có câu thấm thía:
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Đó là phát biểu trực tiếp, có tính chất luân lí, hơi nghiêng về lí trí. Còn trong bài thơ này, Trần Đăng Khoa để thực tế đời sống tự nói lên. Bão dập, nắng lửa, mưa dầm, thiên nhiên nhiệt đới khắc nghiệt đã đổ lên đầu người nông thôn bao nhiêu nhọc nhằn để làm ra hạt gạo, mà cụ thể nhất là bà mẹ của mình:
Bốn câu thơ có sức chứa lớn nội dung, về hình thức biểu hiện. Nghĩ bằng cách nghĩ của trẻ con, tác giả mới so sánh cái nước do mặt trời hun nóng lên ở ruộng với nước nóng mà ta đun, nấu lên; nước nóng đến mức “chết cả cả cờ” thì phải là mắt trẻ con mới nhìn thấy được. Vì sao vậy? Cá cờ có nơi gọi là cá thia lia, thân, đuôi nhiều màu sắc rực rỡ, các cậu bé ở nông thôn mà bắt được là đem về nuôi ở chai, lọ thủy tinh như ở thành phố người ta nuôi cá vàng.
“Cua ngoi lên bờ”: không sống ở nông thôn, không có thực tế ruộng đồng không có câu thơ đó. Nóng quá, cua ngoi lên bờ nhưng bất ngờ đến sửng sốt khi:
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy
Nước nóng chết cả cá, nhưng chết mấy con cá cờ quả là tiếc đứt ruột. Phải có con mắt trẻ con, tâm lí trẻ con mới viết được hai câu thơ:
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ...
Hai câu thơ, hai hình ảnh đối nghịch nhau gây một chấn động tình cảm mạnh trong lòng người đọc.
Có phải nói điều gì nhiều về những vất vả, nhọc nhằn của người mẹ để làm ra hạt gạo?Hai câu thơ đã nói quá nhiều. Một câu như đám mây mang điện tích âm gặp câu kia mang điện tích dương tạo nên tiếng sét. Tiếng sét đó làm chấn động tình cảm trong lòng bạn đọc.
Kể ra bài thơ dừng lại ở đây được rồi, là đúng với lứa tuổi người viết. Nhưng trong thời điểm cả nước dồn sức chống Mĩ, trẻ con cũng già đi trước tuổi. Các em không được sống hồn nhiên cái tuổi bắt dế, nuôi chim của mình.Trần Đăng Khoa cũng vậy mà còn hơn thế nữa. Vì thông minh hơn người, em tiếp nhận không khí chính trị, không khí xã hội một cách nhạy bén:
Trần Đăng Khoa vừa miêu tả hạt gạo nghìn đời, vừa nói lên hạt gạo những năm chống Mỹ: gian khổ và nghĩa tình. Tác giả biết chọn lọc những hình ảnh có sức rung động. Câu thơ như:
Bát cơm mùa gặt
Thơm hào giao thông
vừa nói được hoàn cảnh, vừa nêu được khí thế của đất nước thời ấy.
CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE!!!
Bài thuyết trình:
NHÀ VĂN TRẦN ĐĂNG KHOA
Nhóm : 5
Trường cao đẳng sư phạm trung ương TP.HCM
Vài nét tiểu sử:
Trần Đăng Khoa sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958 quê ở làng Trực Trì, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viên tạp chí văn nghệ quân đội, hội viên của Hội nhà văn Việt Nam.
Từ nhỏ, ông đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn. Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo. Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ông Từ góc sân nhà em và tiếp theo là Góc sân và khoảng trời được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản.
Có lẽ tác phẩm nhiều người biết đến nhất của ông là bài thơ "Hạt gạo làng ta", sáng tác năm 1968, được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc (1971).
Ông cũng được biết đến nhiều với câu truyện khi mới hơn 10 tuổi đã đề nghị đổi câu thơ "Đường ta đi rộng thênh thang tám thước" thành "Đường ta rộng thênh thang ta bước" trong bài thơ Ta đi tới của nhà thơ nổi tiếng thời bấy giờ là Tố Hữu.
Sự nghiệp:
Năm 1975 ông nhập ngũ, sau khi thống nhất ông được bổ sung về quân chủng hải quân. Tháng 6/2004 khi đã mang quân hàm thượng tá Quân đội nhân dân VN ông chuyển sang công tác tại Đài tiếng nói VN và giữ chức trưởng ban văn học nghệ thuật Đài tiếng nói VN.
Năm 2008, khi Đài tiếng nói Việt Nam thành lập Hệ phát thanh có hình VOVTV, ông được phân công làm Giám đốc đầu tiên của hệ này. Hiện nay, ông là Phó Bí thư Đảng Ủy Đài Tiếng nói Việt Nam VOV.
Ông ba lần được tặng giải thưởng thơ của báo Thiếu niên Tiền phong (các năm 1968, 1969, 1971), Giải nhất báo Văn nghệ (1982) và Giải thưởng Nhà nước (năm 2000).
Các tác phẩm chính:
Từ góc sân nhà em, 1968.
Góc sân và khoảng trời, tập thơ, 1968, tái bản khoảng 30 lần, được dịch và xuất bản tại nhiều nước trên toàn thế giới
Khúc hát người anh hùng, trường ca, 1974.
Bên cửa sổ máy bay, tập thơ, 1986.
Chân dung và đối thoại, tiểu luận phê bình, Hà Nội: Nhà xuất bản Thanh niên, 1998, tái bản nhiều lần. Tác giả cho biết ban đầu đã dự kiến phát hành tập II của tác phẩm này, nhưng hiện đã gộp bản thảo vào phần I để tái bản.
Bài "Thơ tình người lính biển" đã được Hoàng Hiệp phổ nhạc.
Đảo chìm, tập truyện - ký, đến đầu năm 2009 đã tái bản 25 lần.
Trần Đăng Khoa không có nhiều tác phẩm, và danh hiệu "thần đồng thơ trẻ" của nhà thơ thời thơ ấu không hề liên quan hay được nối tiếp đến quãng đời về sau khi nhà thơ tham gia nhập ngũ, theo học ở Nga, khi về nước làm biên tập viên, làm báo. Thi hứng một thời không là động lực cho xúc cảm khi tác giả đã cao tuổi. Những tác phẩm nổi bật của Trần Đăng Khoa:
Đặc trưng về nội dung phong cách nghệ thuật:
Giọng điệu hồn nhiên, trong sáng, thiết tha nhưng không kém phần triết lí, suy tư.
Trí tưởng tượng, liên tưởng phong phú.
Ngôn ngữ chính xác, sáng tạo, biểu cảm và giàu nhạc điệu.
Sử dụng các biện pháp tu từ: nhân hóa, so sánh, ….
Sử dụng yếu tố thi pháp của đồng dao như :kết cấu, thể thơ và ngôn ngữ. Kết cấu : Trùng điệp, hỏi đáp. Thể thơ : thơ 4 chữ, thơ lục bát. Ngôn ngữ : Tính chất kể của ngôn ngữ thơ, hiện tượng mượn lời và cãi lời.
Sử dụng 1 số hình ảnh gần gũi, thân quen: con cò, con nghé, con trâu, trăng và sao, ….
Ảnh hưởng tới trẻ MN:
Thơ văn của Trần Đăng Khoa mang tính thi pháp đồng dao: gần gũi, giản dị mà sâu sắc.
Thơ ông thể hiện rõ cái hay, cái đẹp của cuộc sống từ đó dẫn dắt trẻ đi sâu vào các tác phẩm thiếu nhi để có cách nhìn tốt hơn về nội dung và cảm thụ được cuộc sống thiên nhiên và con người.
Thơ ông bồi dưỡng tâm hồn cho trẻ và giáo dục tình cảm cao đẹp cho các thiếu nhi.
Giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu:
Góc sân và khoảng trời
Những bài thơ của Trần Đăng Khoa thưởnhỏ đã được tập hợp để in thành một tập thơ dày dặn cũng đã rất nổi tiếng.Tập thơ có tên Góc sân và Khoảng trời.
Năm 1968, khi Trần Đăng Khoa tròn 10 tuổi, Góc sân và Khoảng trời được in lần đầu, gồm 52 bài với số lượng 10.000 cuốn; năm 1973, Góc sân và Khoảng trời được bổ sung thành 66 bài, in với số lượng lên tới 50.000 bản. Thế là từ đấy, tập thơ này mỗi năm đều được bổ sung thêm và in lại nhiều lần ở nhiều nhà xuất bản khác nhau. Cho đến lần in năm 2002 là lần thứ 50, một con số có lẽ là kỷ lục cho những cuốn sách được tái bản nhiều lần ở nước ta.
Đọc Góc sân và Khoảng trời, chúng ta sẽ thấy hiện lên cả một thế giới con người và sự vật mà trong đó con người nào cũng đều để lại một dấu ấn tốt đẹp trong con mắt của thi sĩ tí hon Trần Đăng Khoa; còn sự vật thì hầu như tất cả đều đã được nhân cách hóa, trở thành những bạn bè thân thiết, không thể xa rời, và điều đặc biệt là tất cả đều nằm trong tầm nhìn của tác giả, tầm nhìn của đôi mắt trẻ thơ.
Đó là con bướm vàng, cái sân, dòng sông Kinh Thầy, con chim, con gà, vườn cải, cây đa, con trâu, cây trầu... và nhất là ánh trăng của làng quê. Với tuổi thơ trong Góc sân và Khoảng trời của Trần Đăng Khoa, ông trăng cũng ngây thơ như trẻ con, cũng thích khoe khuôn mặt tròn, cũng nhoẻn miệng cười thích thú khi nhìn thấy chuối, thấy xôi; và thú vị nhất là cũng biết thập thò ngoài cửa khi rủ bạn đi chơi. Chúng ta hãy đọc những câu thơ như thế trong bài Trông Trăng:
Trăng như cái mâm con
Ai treo ông cao thế
Ông nhìn đàn em bé
Muốn khoe có mặt tròn
...
Nải chuối tiêu thơm mát
Ông trăng nhìn thấy xôi
Là ông nhoẻn miệng cười
Áng chừng ông thích lắm
...
Khuya không trông trăng nữa
Trăng thập thò ngoài cửa
Muốn rủ em đi chơi...
Thơ trong Góc sân và Khoảng trời là thơ của tuổi thơ viết về tuổi thơ. Nhưng đó là tuổi thơ của một thời mà đất nước ta đang trong chiến tranh chống xâm lăng, lửa đạn nổ ngút trời.
Đó là cái thời mà từ những anh trai làng đến các sinh viên đại học, và cả những người thầy của tác giả Trần Đăng Khoa cũng đều lên đường ra trận. Trong bài Con chim hay hót, tác giả đã miêu tả hình ảnh những chú chim non nhìn dãy phi lao các anh bộ đội trồng ngày ra đi đánh Mỹ mà nhớ đến các anh và mong mỏi có ngày các anh sẽ trở về:
Con chim nó đỗ cành tre
Bay ra cành chè nó hót hay hay
Hót rằng cây phi lao này
Mấy anh bộ đội trồng ngày ra đi
Phi lao mới nói rầm rì
Rằng anh bộ đội mai kia lại về.
Trong Góc sân và Khoảng trời của Trần Đăng Khoa, có hẳn một mảng thơ về người thầy giáo, nhưng đều là những người thầy - người lính - người thương binh.
Bàn chân thầy giáo là một bài thơ thật cảm động về tình thầy trò và lòng yêu nước ngút ngàn trong chiến tranh.Bom Mỹ dội xuống trường học.Phượng đổ, trường sập, mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi. Thầy cầm súng đi ra trận. Trong chiến đấu, thầy bị thương mất đi một bàn chân.Và thầy lại quay về trường làm một người thầy giáo thương binh.Câu chuyện về người thầy của Trần Đăng Khoa trong bài Bàn chân thầy giáo có thể viết thành một truyện ngắn, hơn thế, có thể viết thành một cuốn tiểu thuyết đẫm chất bi hùng. Nhưng với tuổi 15 của Trần Đăng Khoa, trước hết, đó phải là những câu thơ cảm động:
Thầy ngồi ghế giảng bài
Xếp cạnh bàn đôi nạng gỗ
Một bàn chân đâu rồi
Chúng em không rõ...
Bàn chân thầy gửi lại Khe Sanh
Hay Tây Ninh, Đồng Tháp
Bàn chân đạp xuống đầu lũ giặc...
Em lắng nghe thầy giảng từng lời
Rung động bao điều suy nghĩ...
Đọc lại Góc sân và khoảng trời, thấy thơ Trần Đăng Khoa thuở tuổi lên 10 thật là trẻ con nhưng cũng thật là người lớn.
Nếu lấy con mắt của người đọc là trẻ em hôm nay để nói thì đấy là tập thơ của một chú bé già trước tuổi. Hay nói cách khác là Trần Đăng Khoa đã thành người lớn từ khi còn là trẻ con. Nhưng vấn đề là chúng ta phải đặt tập thơ khi nó ra đời vào hoàn cảnh lịch sử xã hội bấy giờ của đất nước, một đất nước đang chiến tranh, người người đi ra trận, đến cả chú chó vàng thân yêu của tác giả cũng bị chết vì bom Mỹ thì sự ra đời của những bài thơ như trong Góc sân và khoảng trời là điều tất yếu.
Chính những bài thơ được tập hợp lại trong Góc sân và khoảng trời đã làm nên một thần đồng thơ Trần Đăng Khoa ngày nào. Năm 2002, Góc sân và khoảng trời là một trong ba tập thơ của Trần Đăng Khoa được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Hạt gạo làng ta
Bài thơ Hạt gạo làng ta được chọn giảng dạy ở trường mầm non và tiểu học. Xung quanh bài thơ này có nhiều lời bình của các nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học. Chúng tôi chọn giới thiệu dưới đây lời bình của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi – một lời bình gọn, nhiều phát hiện, nêu lên được cá tính trẻ con của tác giả qua bài thơ, đồng thời cho thấy hoàn cảnh lịch sử đã tác động vào người sáng tác như thế nào, dù đó là cây bút thiếu nhi...
Lời bình của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi:
Khi làm bài thơ này, Trần Đăng Khoa đang học cấp một nhưng bằng sự hiểu biết đời sống nông thôn và nhờ tài năng đặc biệt, bài thơ được viết ra một cách sâu sắc và rung động, giầu ý nghĩa nhưng lại rất trẻ con:
Ở lứa tuổi ấy mà biết nghĩ như thế là sâu sắc lắm. Từ một thực tế có tính khoa học là cây lúa hút chất dinh dưỡng ở bùn, đất ra hoa, trổ bông, kết hạt (như ai cũng biết) thì nhà thơ bằng sự tinh tế của tâm hồn còn nghe được, cảm được “vị phù sa”, “hương sen thơm”, trong hạt gạo. Và hơn thế nữa, còn có cả tình người, lòng người ấp ủ:
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi hôm nay...
Làm ra hạt gạo gian khó biết chừng nào. Ca dao cổ có câu thấm thía:
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Đó là phát biểu trực tiếp, có tính chất luân lí, hơi nghiêng về lí trí. Còn trong bài thơ này, Trần Đăng Khoa để thực tế đời sống tự nói lên. Bão dập, nắng lửa, mưa dầm, thiên nhiên nhiệt đới khắc nghiệt đã đổ lên đầu người nông thôn bao nhiêu nhọc nhằn để làm ra hạt gạo, mà cụ thể nhất là bà mẹ của mình:
Bốn câu thơ có sức chứa lớn nội dung, về hình thức biểu hiện. Nghĩ bằng cách nghĩ của trẻ con, tác giả mới so sánh cái nước do mặt trời hun nóng lên ở ruộng với nước nóng mà ta đun, nấu lên; nước nóng đến mức “chết cả cả cờ” thì phải là mắt trẻ con mới nhìn thấy được. Vì sao vậy? Cá cờ có nơi gọi là cá thia lia, thân, đuôi nhiều màu sắc rực rỡ, các cậu bé ở nông thôn mà bắt được là đem về nuôi ở chai, lọ thủy tinh như ở thành phố người ta nuôi cá vàng.
“Cua ngoi lên bờ”: không sống ở nông thôn, không có thực tế ruộng đồng không có câu thơ đó. Nóng quá, cua ngoi lên bờ nhưng bất ngờ đến sửng sốt khi:
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy
Nước nóng chết cả cá, nhưng chết mấy con cá cờ quả là tiếc đứt ruột. Phải có con mắt trẻ con, tâm lí trẻ con mới viết được hai câu thơ:
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ...
Hai câu thơ, hai hình ảnh đối nghịch nhau gây một chấn động tình cảm mạnh trong lòng người đọc.
Có phải nói điều gì nhiều về những vất vả, nhọc nhằn của người mẹ để làm ra hạt gạo?Hai câu thơ đã nói quá nhiều. Một câu như đám mây mang điện tích âm gặp câu kia mang điện tích dương tạo nên tiếng sét. Tiếng sét đó làm chấn động tình cảm trong lòng bạn đọc.
Kể ra bài thơ dừng lại ở đây được rồi, là đúng với lứa tuổi người viết. Nhưng trong thời điểm cả nước dồn sức chống Mĩ, trẻ con cũng già đi trước tuổi. Các em không được sống hồn nhiên cái tuổi bắt dế, nuôi chim của mình.Trần Đăng Khoa cũng vậy mà còn hơn thế nữa. Vì thông minh hơn người, em tiếp nhận không khí chính trị, không khí xã hội một cách nhạy bén:
Trần Đăng Khoa vừa miêu tả hạt gạo nghìn đời, vừa nói lên hạt gạo những năm chống Mỹ: gian khổ và nghĩa tình. Tác giả biết chọn lọc những hình ảnh có sức rung động. Câu thơ như:
Bát cơm mùa gặt
Thơm hào giao thông
vừa nói được hoàn cảnh, vừa nêu được khí thế của đất nước thời ấy.
CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE!!!
 








Các ý kiến mới nhất