trình chiếu tín ngưỡng dân tộc Chăm-bàlamon

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Ngọc Trinh
Ngày gửi: 16h:02' 07-12-2013
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 67
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Ngọc Trinh
Ngày gửi: 16h:02' 07-12-2013
Dung lượng: 3.4 MB
Số lượt tải: 67
Số lượt thích:
0 người
NHÓM 1
Nguồn gốc
Bà-la-môn hiện diện tại lãnh thổ Việt Nam ngày nay bằng việc du nhập ở thời lập quốc của Vương quốc Chăm Pa vào năm 192 SCN. Người Chăm theo đạo Bà-la-môn được gọi là Chăm Ahiêr hoặc Chăm Rặt
Bà La Môn là phiên âm của từ Brahman, sau này biến cải thành đạo Hindu, một tôn giáo chính của Ấn độ ngày nay, nên ngày nay gọi là Ấn Ðộ giáo. Ðặc biệt Bà La Môn hay Ấn Ðộ Giáo là một tôn giáo không có giáo chủ.
Tôn giáo Bà La Môn vốn là tín ngưỡng đa thần như thần mặt trời, thần gió, thần mưa, thần sấm sét, thần núi, thần sông, thần cây, thần rừng …
Cùng với việc tin thờ các Thần linh, người Chăm còn có tín ngưỡng tin thờ chung hoặc riêng ba vị thần có nguồn gốc Bà la môn giáo Ấn Độ, đó là:
* Thần Brahma, là vị thần sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài là chúa tể vạn vật.
Thần Vaishu, là thần bảo tồn
* Thần Shiva, là thần hủy diệt
Tuy nhiên ngày nay cộng đồng người Chăm ở nước ta việc tín ngưỡng ba vị thần ấy không còn sâu đậm như dưới thời các vương triều Chămpa xưa, mà họ coi trọng và tin thờ ba vị thần chính của người Chăm, là Thánh Mẫu Po InưNagar – là vị nữ thần tạo ra nước Chămpa xưa, tạo ra cây lúa và hai Quốc vương đã hóa thần là Po Klongarai (còn gọi là vua Lác) và thần Pô Rô Mê, bởi các vị thần này vừa trực tiếp vừa rất gần với tình cảm, tâm lí tổ chức – xã hội của cộng đồng người Chăm.
Thần Po Nagar hay theo cách gọi của người Việt là Thánh Mẫu Thiên Y A Na
Tựơng thần Shiva
Lễ hội
Lễ Bơn katê, là một lễ hội truyền thống được tổ chức long trọng để bày tỏ sự tôn kính của cư dân với Trời (Cha), đã có công sinh ra vạn vật, thuộc về khí dương. Lễ hội này được cử hành vào ngày 1/7 (Chàm lịch), tức khỏang tháng 10 dương lịch;
Lễ Bơn Cabur, lễ này có ý nghĩa bày tỏ sự tôn kính với Đất (Mẹ) – người đã nuôi nấng làm cho vạn vật sinh tồn và phát triển, thuộc về khí âm. Lễ Bơn Cabur được cử hành vào ngày 16/9 (Chàm lịch) tức khỏang tháng 12 hoặc tháng 1 dương lịch;
Lễ Parla Rija Sah, lễ này cử hành nhằm ngày 10/2 (Chàm lịch) và kéo dài trong một thời gian khoảng 5 ngày liên tục, với ý nghĩa bày tỏ sự tôn kính đối với vi Thánh Mẫu Po InưNagar đã có công tạo dựng nước Chămpa xưa, được tôn vinh là mẹ của xứ sở, sinh ra cây lúa và hướng dẫn cư dân trồng lúa, làm thủy lợi và dệt vải…
Đám cưới
Trong ngày cưới, cùng với đoàn rước dâu, nhà trai phải mang theo lễ vật được đựng trong những lọ gốm.
Trong ngày cưới, cô dâu được trang điểm lộng lẫy cùng trang phục áo dài nhung đỏ, không xẻ hông, tóc và hai tai đều cài hoa, trâm cài đầu và đeo trang sức.
Đồng bào Chăm có niềm tin và thờ các vị ấy trong các Đền, Tháp
Bình_đài_ở_tháp_Ponagar,_Nha_Trang
Tháp_Po_Klaung_Garai,_Phan_Rang,_Ninh_Thuận.
Đám cưới diễn ra trong ba ngày.
Đầu tiên là ngày họp họ- làm bánh. Bánh dùng trong lễ cưới gồm có 3 loại: Bánh ha bum (bông lan), tapaikagah, gtikling (bánh ba lỗ) và món cơm cà ri bò.
Ngày thứ hai - ngày “lên ghế” (giường). Ở mỗi gia đình nhà trai, nhà gái, người đại diện sẽ đọc những lời cầu nguyện cho cô dâu, chú rể sống bình an, hạnh phúc, sau đó mời cơm dân làng.
Ngày thứ ba - “đưa rể”, chú rể cùng đoàn nhà trai đến nhà gái. Một tay chú rể được buộc với một đầu chiếc khăn mùi xoa, đầu khăn kia do một người cầm.
Khi đến nhà cô dâu, chú rể cùng đoàn nhà trai – nhà gái làm lễ và cùng ngồi quây tròn lại truyền tay nhau xem các sính lễ. Sau đó mọi người cùng nhau đọc kinh, cầu phúc cho đôi vợ chồng trẻ.
Sau khi các thủ tục hoàn tất, chú rể được dắt vào buồng cô dâu để làm lễ. Khi gặp cô dâu, chú rể phải lật khăn che và chỉ vào trán cô dâu ý khẳng định nguyện ước vợ chồng.
..và tiếp tục đọc kinh, làm lễ chúc phúc.
Sau khi thực hiện đủ các nghi lễ, cô dâu sẽ trao cho chú rể những vật dụng sử dụng hằng ngày.
Sau hôn lễ, chú rể phải ở nhà cô dâu ba tối đầu tiên. Sau đó, việc ở rể hay làm dâu là do sự thỏa thuận của hai bên gia đình.
Bữa cơm thân mật trong đám cưới của người Chăm do nhà gái mời. Bữa cơm không cầu kỳ, chỉ có cơm trắng, thịt bò nấu cari. Mọi người uống nước chè cùng món bánh tráng miệng là 3 loại bánh cưới.
Lễ Thi Mư Tai (Lúc tắt thở): Sau khi người bệnh tắt thở, tang chủ mời thầy pôsà, pasế về để lo việc hỏa táng. Theo quy định của người Chăm đạo Bàlamôn, nếu người chết bình thường thì làm lễ rửa tội tại nhà, chết không bình thường, bất đắc kỳ tử thì phải mang ra đồng ruộng hoặc một cái lán nào đó. Người ta đặt người chết theo hướng đầu quay về phía Bắc, thi hài được đắp một khăn trắng.
Lễ Pó Kahnh ao (Lễ khâm liệm):
Người chết được thân nhân mặc 1 cái áo, 1 cái quần lót, 1 cái váy nếu là nữ và 1 cái sà rông đối với đàn ông, 1 cái khăn trắng (đính tua 2 bên đầu). Tuy nhiên số lượng mặc áo, quần nhiều hay ít tùy thuộc vào tuổi tác và dòng tộc.
- Người chết thuộc dòng dõi quý tộc, giàu có, có chức sắc tôn giáo được liệm 9 cái chăn, 9 cái áo và 11 cái khăn bar cil (loại khăn truyền thống dân tộc có viền tua ở hai đầu).
- Người chết thuộc loại trung nông và người có tuổi được liệm 5 cái chăn (váy), 5 cái áo và 9 cái khăn “bar cil” (năm nữ đều giống nhau).
- Người chết thuộc tầng lớp nghèo liệm 3 cái chăn, 3 cái áo và 5 cái khăn “mrai”
Lễ Pa Plao (Lễ tiễn đưa người chết):
Người ta làm một chiếc nhà táng bằng tre, lợp vải, có dán giấy cắt hình con hăng bay lên trời, ngụ ý khi thiêu thì những con hăng ấy sẽ đưa hồn người chết lên cõi thiên đường.
Đêm đến các thầy pasế phân công nhau, thầy cả lo việc làm phép mặc đồ trang phục tăng lữ Bàlamôn, cổ quàng chiếc khăn đỏ, tay cầm gậy trúc có gắn thỏi sáp. Mỗi thầy pasế cầm một cái “chà gạt” (loại rựa dùng chặt cây).
Lễ Đam Dak (Đám chôn)
Những người chết được chôn trong các trường hợp sau:
- Trẻ em dưới 14 tuổi, không phân biệt gia đình tu sĩ hay thứ dân, trai hay gái đều phải chôn. Người Chăm quan niệm, trẻ khi chưa đến tuổi trưởng thành nếu chết thì phải chôn để chúng trở về cát bụi.
- Những người được coi là dòng dõi thấp hèn trong xã hội cũng phải chôn.
Đám ma
Lễ Đam cúh (Lễ hỏa táng):
Người Chăm Bàlamôn quan niệm rằng khi người ta chết phải làm lễ hỏa táng để linh hồn người chết được siêu thoát lên thiên đàng. Ngược lại nếu người chết không được thiêu thì linh hồn người chết sẽ không siêu thoát, đưa đến việc linh hồn người quá cố sẽ bắt tất cả người thân trong dòng tộc của họ, cho nên người Chăm Bàlamôn rất coi trọng tục hỏa táng.
Nguồn gốc
Bà-la-môn hiện diện tại lãnh thổ Việt Nam ngày nay bằng việc du nhập ở thời lập quốc của Vương quốc Chăm Pa vào năm 192 SCN. Người Chăm theo đạo Bà-la-môn được gọi là Chăm Ahiêr hoặc Chăm Rặt
Bà La Môn là phiên âm của từ Brahman, sau này biến cải thành đạo Hindu, một tôn giáo chính của Ấn độ ngày nay, nên ngày nay gọi là Ấn Ðộ giáo. Ðặc biệt Bà La Môn hay Ấn Ðộ Giáo là một tôn giáo không có giáo chủ.
Tôn giáo Bà La Môn vốn là tín ngưỡng đa thần như thần mặt trời, thần gió, thần mưa, thần sấm sét, thần núi, thần sông, thần cây, thần rừng …
Cùng với việc tin thờ các Thần linh, người Chăm còn có tín ngưỡng tin thờ chung hoặc riêng ba vị thần có nguồn gốc Bà la môn giáo Ấn Độ, đó là:
* Thần Brahma, là vị thần sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài là chúa tể vạn vật.
Thần Vaishu, là thần bảo tồn
* Thần Shiva, là thần hủy diệt
Tuy nhiên ngày nay cộng đồng người Chăm ở nước ta việc tín ngưỡng ba vị thần ấy không còn sâu đậm như dưới thời các vương triều Chămpa xưa, mà họ coi trọng và tin thờ ba vị thần chính của người Chăm, là Thánh Mẫu Po InưNagar – là vị nữ thần tạo ra nước Chămpa xưa, tạo ra cây lúa và hai Quốc vương đã hóa thần là Po Klongarai (còn gọi là vua Lác) và thần Pô Rô Mê, bởi các vị thần này vừa trực tiếp vừa rất gần với tình cảm, tâm lí tổ chức – xã hội của cộng đồng người Chăm.
Thần Po Nagar hay theo cách gọi của người Việt là Thánh Mẫu Thiên Y A Na
Tựơng thần Shiva
Lễ hội
Lễ Bơn katê, là một lễ hội truyền thống được tổ chức long trọng để bày tỏ sự tôn kính của cư dân với Trời (Cha), đã có công sinh ra vạn vật, thuộc về khí dương. Lễ hội này được cử hành vào ngày 1/7 (Chàm lịch), tức khỏang tháng 10 dương lịch;
Lễ Bơn Cabur, lễ này có ý nghĩa bày tỏ sự tôn kính với Đất (Mẹ) – người đã nuôi nấng làm cho vạn vật sinh tồn và phát triển, thuộc về khí âm. Lễ Bơn Cabur được cử hành vào ngày 16/9 (Chàm lịch) tức khỏang tháng 12 hoặc tháng 1 dương lịch;
Lễ Parla Rija Sah, lễ này cử hành nhằm ngày 10/2 (Chàm lịch) và kéo dài trong một thời gian khoảng 5 ngày liên tục, với ý nghĩa bày tỏ sự tôn kính đối với vi Thánh Mẫu Po InưNagar đã có công tạo dựng nước Chămpa xưa, được tôn vinh là mẹ của xứ sở, sinh ra cây lúa và hướng dẫn cư dân trồng lúa, làm thủy lợi và dệt vải…
Đám cưới
Trong ngày cưới, cùng với đoàn rước dâu, nhà trai phải mang theo lễ vật được đựng trong những lọ gốm.
Trong ngày cưới, cô dâu được trang điểm lộng lẫy cùng trang phục áo dài nhung đỏ, không xẻ hông, tóc và hai tai đều cài hoa, trâm cài đầu và đeo trang sức.
Đồng bào Chăm có niềm tin và thờ các vị ấy trong các Đền, Tháp
Bình_đài_ở_tháp_Ponagar,_Nha_Trang
Tháp_Po_Klaung_Garai,_Phan_Rang,_Ninh_Thuận.
Đám cưới diễn ra trong ba ngày.
Đầu tiên là ngày họp họ- làm bánh. Bánh dùng trong lễ cưới gồm có 3 loại: Bánh ha bum (bông lan), tapaikagah, gtikling (bánh ba lỗ) và món cơm cà ri bò.
Ngày thứ hai - ngày “lên ghế” (giường). Ở mỗi gia đình nhà trai, nhà gái, người đại diện sẽ đọc những lời cầu nguyện cho cô dâu, chú rể sống bình an, hạnh phúc, sau đó mời cơm dân làng.
Ngày thứ ba - “đưa rể”, chú rể cùng đoàn nhà trai đến nhà gái. Một tay chú rể được buộc với một đầu chiếc khăn mùi xoa, đầu khăn kia do một người cầm.
Khi đến nhà cô dâu, chú rể cùng đoàn nhà trai – nhà gái làm lễ và cùng ngồi quây tròn lại truyền tay nhau xem các sính lễ. Sau đó mọi người cùng nhau đọc kinh, cầu phúc cho đôi vợ chồng trẻ.
Sau khi các thủ tục hoàn tất, chú rể được dắt vào buồng cô dâu để làm lễ. Khi gặp cô dâu, chú rể phải lật khăn che và chỉ vào trán cô dâu ý khẳng định nguyện ước vợ chồng.
..và tiếp tục đọc kinh, làm lễ chúc phúc.
Sau khi thực hiện đủ các nghi lễ, cô dâu sẽ trao cho chú rể những vật dụng sử dụng hằng ngày.
Sau hôn lễ, chú rể phải ở nhà cô dâu ba tối đầu tiên. Sau đó, việc ở rể hay làm dâu là do sự thỏa thuận của hai bên gia đình.
Bữa cơm thân mật trong đám cưới của người Chăm do nhà gái mời. Bữa cơm không cầu kỳ, chỉ có cơm trắng, thịt bò nấu cari. Mọi người uống nước chè cùng món bánh tráng miệng là 3 loại bánh cưới.
Lễ Thi Mư Tai (Lúc tắt thở): Sau khi người bệnh tắt thở, tang chủ mời thầy pôsà, pasế về để lo việc hỏa táng. Theo quy định của người Chăm đạo Bàlamôn, nếu người chết bình thường thì làm lễ rửa tội tại nhà, chết không bình thường, bất đắc kỳ tử thì phải mang ra đồng ruộng hoặc một cái lán nào đó. Người ta đặt người chết theo hướng đầu quay về phía Bắc, thi hài được đắp một khăn trắng.
Lễ Pó Kahnh ao (Lễ khâm liệm):
Người chết được thân nhân mặc 1 cái áo, 1 cái quần lót, 1 cái váy nếu là nữ và 1 cái sà rông đối với đàn ông, 1 cái khăn trắng (đính tua 2 bên đầu). Tuy nhiên số lượng mặc áo, quần nhiều hay ít tùy thuộc vào tuổi tác và dòng tộc.
- Người chết thuộc dòng dõi quý tộc, giàu có, có chức sắc tôn giáo được liệm 9 cái chăn, 9 cái áo và 11 cái khăn bar cil (loại khăn truyền thống dân tộc có viền tua ở hai đầu).
- Người chết thuộc loại trung nông và người có tuổi được liệm 5 cái chăn (váy), 5 cái áo và 9 cái khăn “bar cil” (năm nữ đều giống nhau).
- Người chết thuộc tầng lớp nghèo liệm 3 cái chăn, 3 cái áo và 5 cái khăn “mrai”
Lễ Pa Plao (Lễ tiễn đưa người chết):
Người ta làm một chiếc nhà táng bằng tre, lợp vải, có dán giấy cắt hình con hăng bay lên trời, ngụ ý khi thiêu thì những con hăng ấy sẽ đưa hồn người chết lên cõi thiên đường.
Đêm đến các thầy pasế phân công nhau, thầy cả lo việc làm phép mặc đồ trang phục tăng lữ Bàlamôn, cổ quàng chiếc khăn đỏ, tay cầm gậy trúc có gắn thỏi sáp. Mỗi thầy pasế cầm một cái “chà gạt” (loại rựa dùng chặt cây).
Lễ Đam Dak (Đám chôn)
Những người chết được chôn trong các trường hợp sau:
- Trẻ em dưới 14 tuổi, không phân biệt gia đình tu sĩ hay thứ dân, trai hay gái đều phải chôn. Người Chăm quan niệm, trẻ khi chưa đến tuổi trưởng thành nếu chết thì phải chôn để chúng trở về cát bụi.
- Những người được coi là dòng dõi thấp hèn trong xã hội cũng phải chôn.
Đám ma
Lễ Đam cúh (Lễ hỏa táng):
Người Chăm Bàlamôn quan niệm rằng khi người ta chết phải làm lễ hỏa táng để linh hồn người chết được siêu thoát lên thiên đàng. Ngược lại nếu người chết không được thiêu thì linh hồn người chết sẽ không siêu thoát, đưa đến việc linh hồn người quá cố sẽ bắt tất cả người thân trong dòng tộc của họ, cho nên người Chăm Bàlamôn rất coi trọng tục hỏa táng.
 








Các ý kiến mới nhất