Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

trồng mía

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Võ Lê Ngọc Trâm
Ngày gửi: 22h:17' 01-07-2014
Dung lượng: 5.3 MB
Số lượt tải: 109
Số lượt thích: 1 người (Hứa Văn Phán)
ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
LỚP KTNN12L2
CHƯƠNG 8: CÂY MÍA
Võ Lê Ngọc Trâm
Lý Thị Sà Phên
Báo cáo: Phên
I. NGUỒN GỐC . GIÁ TRỊ KINH TẾ. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN:
1. NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY MÍA:
Cây mía có nguồn gốc ở nam Thái Bình Dương, vùng quần đảo Ghinê. Có thể cây mía xuất hiện từ hàng vạn năm về trước, khi quần đảo Á – Úc còn dính liền. Người ta đã tìm thấy những loài dại thuộc chi Saccharum phân bố rộng khắp ở Ấn Độ, Trung Quốc,
các quần đảo ở nam Thái Bình Dương (Philippin, Indonesia, Australia). Ở Trung Quốc và Ấn Độ, nghề trồng mía làm đường có cách đây hơn 2.000 năm. Từ hai nước này, nghề trồng mía được phổ biến rộng khắp vùng Đông Nam Á và các vùng khác.
2. GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÂY MÍA:
Mía là cây công nghiệp lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp đường. Đường là một loại thực phẩm cần có trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của nhiều quốc gia trên thế giới, cũng như là loại nguyên liệu quan trọng của nhiều ngành sản xuất công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng như bánh kẹo...
Về mặt kinh tế chúng ta nhận thấy trong thân mía chứa khoảng 80-90% nước dịch, trong dịch đó chứa khoảng 16-18% đường. Vào thời kì mía chín già người ta thu hoạch mía rồi đem ép lấy nước. Từ nước dịch mía được chế lọc và cô đặc thành đường.
Có hai phương pháp chế biến bằng thủ công thì có các dạng đường đen, mật, đường hoa mai. Nếu chế biến qua các nhà máy sau khi lọc và bằng phương pháp ly tâm, sẽ được các loại đường kết tinh, tinh khiết.
Ngoài sản phẩm chính là đường những phụ phẩm chính của cây mía bao gồm:
Bã mía chiếm 25-30% trọng lượng mía đem ép. Trong bã mía chứa trung bình 49% là nước, 48% là xơ (trong đó chứa 45-55% cellulose) 2,5% là chất hoà tan (đường).
Bã mía có thể dùng làm nguyên liệu đốt lò, hoặc làm bột giấy, ép thành ván dùng trong kiến trúc, cao hơn là làm ra Furfural là nguyên liệu cho ngành sợi tổng hợp. Trong tương lai khi mà rừng ngày càng giảm nguồn nguyên liệu làm bột giấy, làm sợi từ cây rừng giảm đi thì mía là nguyên liệu quan trọng để thay thế.
Mật gỉ chiếm 3-5% trọng lượng đem ép. Thành phần mật gỉ trung bình chứa 20% nước, đường saccaro 35%, đường khử 20%, tro 15%, protein 5%, sáp 1%, bột 4% trọng lượng riêng.
Từ mật gỉ cho lên men chưng cất rượu rum, sản xuất men các loại. Một tấn mật gỉ cho một tấn men khô hoặc các loại axit axetic, hoặc có thể sản xuất được 300 lít tinh dầu và 3800 l rượu.
Từ một tấn mía tốt người ta có thể sản xuất ra 35-50 lít cồn 96 ha với kỹ thuật sản xuất hiện đại của thế kỷ 21 có thể sản xuất 7000-8000 lít cồn để làm nhiên liệu. Vì vậy khi mà nguồn nhiên liệu lỏng ngày càng cạn kiệt thì người ta đã nghĩ đến việc thay thế năng lượng của thế kỷ 21 là lấy từ mía.
Bùn lọc chiếm 1,5-3% trọng lượng mía đem ép. Đây là sản phẩm cặn bã còn lại sau khi chế biến đường. Trong bùn lọc chứa 0,5% N, 3% Protein thô và một lượng lớn chất hữu cơ.
Từ bùn lọc có thể rút ra sáp mía để sản xuất nhựa xêrin làm sơn, xi đánh giầy, vv...Sau khi lấy sáp bùn lọc dùng làm phân bón rất tốt.
Theo ước tính giá trị các sản phẩm phụ phẩm còn cao hơn 2-3 lần sản phẩm chính là đường.
Mía còn là loại cây có tác dụng bảo vệ đất rất tốt. Mía thường trồng từ tháng 10 đến tháng 2 hàng năm là lúc lượng mưa rất thấp. Đến mùa mưa, mía được 4-5 tháng tuổi, bộ lá đã giao nhau thành thảm lá xanh dày, diện tích lá gấp 4-5 lần diện tích đất làm cho mưa không thể rơi trực tiếp xuống mặt đất có tác dụng tránh xói mòn đất cho các vùng đồi trung du.
Hơn nữa mía là cây rễ chùm và phát triển mạnh trong tầng đất từ 0-60cm. Một ha mía tốt có thể có 13-15 tấn rễ, sau khi thu hoạch bộ rễ để lại trong đất cùng với bộ lá là chất hữu cơ quý làm tăng độ phì của đất.
3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ ĐƯỜNG MÍA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC:
a. Thế giới:
Nguồn gốc cây mía ớ nhiệt đới, do vậy cây mía thích hợp với khí hậu mưa nhiều, nhiệt độ cao. Hiện nay trên thế giới có khoảng 70 nước trồng mía, tập trung chủ yếu trong phạm vi 30 vĩ độ nam đến 30 vĩ độ bắc, với diện tích năm 1994 là 18 triệu hecta.
- Trong thời kì trung cổ, đường chỉ là một loại xa xỉ phẩm ở Tây Âu. Sau dó do sản xuất đường tăng lên ( từ mía và củ cải đường) mức sản xuất tăng hơn mức dân số nên đường trở thành một loại thực phẩm cơ bản.
- Theo thống kê tổ chức đường thế giới (ISO) trong thời gian 7 năm tứ 1964 - 1970, sản lượng đường thế giới tăng từ 60.213. 387 tấn lên 72. 950. 705 tấn, tỉ lệ tăng 12%, trong đó đường mía chiếm 60%.
- Trong vòng 20 năm kể từ vụ đường 1965- 1966 đến vụ 1985 - 1986 sản lượng đường thế giới tăng 57%.
- Sản xuất đường mía thường tập trung ở các nước châu Mỹ, sau đó là các nước châu Á, châu Úc, châu Âu.
Thị trường sản xuất đường thế giới chủ yếu là Cu Ba - 6.5 triệu tấn, Úc 2.7 triệu tấn....
- Mức độ tiêu thụ tùy thuộc vào điều kiện khí hậu của các nước trên thế giới. Từ năm 1900 đến nay mức tiêu thụ đầu người diễn biến như sau:
+ 1900 - 1930 tăng từ 5kg lên 12kg/người/năm (tăng 140%)
+ 1930 - 1950: không tăng.
+ 1950 - 1970: tăng từ 12 kg lên 20 kg (tăng 66.9 % trong 20 năm).
Bảng 1: Sản xuất đường mía trên thế giới (1000 tấn)
b. Trong nước:
Lịch sử trồng mía ở nước ta chưa có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể.
Trong thời kỳ Pháp thuộc ở nước ta bắt đầu có công nghiệp đường với 2 nhà máy đường Tuy Hòa và Hiệp hòa.
- Hiện tại diện tích trồng mía cả nước chiếm khoảng 140. 000 ha, phân bố thành 5 vùng:
1. Vùng mía các tỉnh Miền Bắc S =14000 ha
2. Vùng mía các tỉnh miền Trung S= 27000 ha.
3. Vùng mía các tình Đông Nam Bộ S = 59000 ha.
4. Vùng mía Tây Nguyên S = 6.600 ha.
5. Vùng mía các tỉnh Tây Nam Bộ S = 59000 ha.
Mức tiêu thụ đường bình quân đầu người ở Việt Nam ( kg/người/ năm)
II. CƠ SỞ SINH VẬT HỌC:
1. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA CÂY MÍA:
a/ Rễ mía:
Rễ mía: Cây mía có 2 loại rễ là rễ sơ sinh và rễ thứ sinh.
+ Rễ sơ sinh mọc ra từ đai rễ của hom trồng, có nhiệm vụ hút nước trong đất để giúp mầm mía mọc và sinh trưởng trong giai đoạn đầu (rễ tạm thời). Khi mầm mía phát triển thành cây con, thì các rễ thứ sinh mọc ra từ đai rễ của gốc cây con, giúp cây hút nước và chất dinh dưỡng. Lúc này các rễ sơ sinh teo dần và chết, cây mía sống nhờ vào rễ thứ sinh và không nhờ vào chất dinh dưỡng dự trữ trong hôm mía nữa.
+ Rễ thứ sinh là rễ chính của cây mía, bám vào đất để giữ cho cây mía không bị đỗ ngã, đồng thời hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây trong suốt chu kỳ sinh trưởng (rễ vĩnh cữu). Rễ mía thuộc loại rễ chùm, ăn nông, tập trung ở tầng đất mặt 30-40 cm, rộng 40-60 cm.
- Lá mía: Cây mía có bộ lá phát triển mạnh, chỉ số diện tích lá lớn và hiệu suất quang hợp cao, giúp cây tổng hợp một lượng đường rất lớnLá mía thuộc loại lá đơn gồm phiến lá và bẹ lá. Phiến lá dài trung bình từ 1,0-1,5m có một gân chính tương đối lớn.
Phiến lá có màu xanh thẩm, mặt trên có nhiều lông nhỏ và cứng, hai bên mép có gai nhỏ. Bẹ lá rộng, ôm kín thân mía,có nhiều lông. Nối giữa bẹ và phiến lá là đai dày cổ lá. Ngoài ra còn có lá thìa , tai lá… Các đặc điểm của lá cũng khác nhau tuỳ vào giống mía.
         Hoa và hạt mía:
+ Hoa mía (còn gọi là bông cờ): Mọc thành chùm dài từ điểm sinh trưởng trên cùng của thân khi cây mía chuyển sang giai đoạn sinh thực. Mỗi hoa có hình chiếc quạt mở, gồm cả nhị đực và nhụy cái, khả năng tự thụ rất cao.
Cây mía có giống ra hoa nhiều, có giống ra hoa ít hoặc không ra hoa. Khi ra hoa cây mía bị rỗng ruột làm giảm năng suất và hàm lượng đường. Trong sản suất người ta thường không thích trồng các giống mía ra hoa và tìm cách hạn chế ra hoa.
+ Hạt mía: Hình thành từ bầu nhụy cái được thụ tinh trông như một chiếc váy nhỏ, hình thoi và nhẵn, dài khoảng 1-1,2mm.
Trong hạt có phôi và có thể nảy mầm thành cây mía con, dùng trong công tác lai tạo tuyển chọn giống, không dùng trong sản xuất.Cây mía từ khi nảy mầm đến thu hoạch kéo dài trong khoảng 8-10 tháng tuỳ điều kiện thời tiết và giống mía.
Thân cây mía cao trung bình 2-3 m, một số giống có thể cao 4-5m. Thân mía được hình thành bởi nhiều dóng (đốt) hợp lại. Chiều dài mỗi dóng từ 15-20 cm, trên mỗi dóng gồm có mắt mía (mắt mầm), đai sinh trưởng, đai rễ, sẹo lá…
- Thân mía có màu vàng, đỏ hồng hoặc đỏ tím. Tuỳ theo từng giống mà dóng mía có nhiều hình dạng khác nhau như: Hình trụ, hình trống, hình ống chỉ… Thân đơn độc, không có cành nhánh, trừ một số trường hợp bị sâu bệnh.
- Thân mía: Ở cây mía, thân là đối tượng thu hoạch, là nơi dự trữ đường được dùng làm nguyên liệu chính để chế biến đường ăn.
2. PHÂN LOẠI MÍA 
Mía thuộc họ Gramineae (hoà thảo), 
họ phụ Andropogoneae, tộc Saccharinnae, chi Saccharum. Chi Saccharum có 10 
loài, trong đó chủ yếu có 3 loài mía trồng và 2 loài dại. 

2.1. Các loài mía trồng 
2.1.1. Loài Saccharum officinarum L (1753) (mía nhiệt đới, mía quý) Là loài mía 
trồng chính, vì vậy tên Saccharum officinarum.L được dùng để chỉ chung cho các 
loài mía trồng. 
Loài mía này thích hợp vùng nhiệt đới. Đặc điểm chính là: cây to, thịt mềm, nhiều 
nước, tỉ lệ đường cao. Nhược điểm chính: 
tính kháng bệnh thấp. Các giống  địa 
phương của nước ta thuộc loài S. officinarum có mía voi, mía đỏ, mía tím, mía mưng… 
2.1.2. Loài Saccharum sinense Roxb, Emend, Jesw (1819) (mía Trung Quốc) Thân nhỏ, 
lóng hình thót, lá mía hẹp, mềm rủ. Chín 
sớm, đẻ khoẻ, để gốc tốt. 
Loài này phân bố chủ yếu ở vùng nam Trung Quốc, bắc Việt Nam. Các giống mía Gie của ta thuộc loài này. 
2.1.3. Loài Saccharum barberi Jesw (1925) (mía Ấn Độ) Thích hợp điều kiện á nhiệt đới. Thân nhỏ, lóng hình trụ, tỉ lệ xơ cao. Đặc 
tính nông học có lợi là sức sống khoẻ, đẻ khoẻ, bộ rễ phát triển mạnh, chịu hạn tốt, kháng được nhiều loại sâu bệnh. 
2.2. Các loài mía dại 
2.2.1. Loài Saccharum spontaneum L.(1771) (mía dại vùng Tây Nam Á) Đặc điểm chủ yếu là thân nhỏ, vỏ cứng, sức sống khoẻ, 
tỉ lệ xơ cao, đường rất thấp, ra hoa sớm, tính thích ứng rộng, ít bị sâu phá hoại, có khả 
năng kháng bệnh tốt. Các loại lau, sậy ở 
nước ta thuộc loài này. 
2.2.2. Loài Saccharum robustum Bround Jesw (1929) Jeswiet phát hiện ra loài này ở 
Tân Guinê năm 1929. Đặc điểm loài này là 
thân nhỏ, lóng dài, tỉ lệ đường thấp, sức 
sống khoẻ và ra hoa. Thân cây tuy cao 
nhưng cứng nên chống được gió bão và sâu 
đục thân, kháng bệnh kém, nhất là những bệnh ở cổ rễ.
 Trong tộc Saccharinae có nhiều chi có quan hệ chặt chẽ với chi Saccharum. Mulkherjee đã xếp các chi này vào một hệ thống gọi là “phức hệ Saccharum”, gồm các chi: Saccharum + Eriathus + Sclerostachya + Narenga + Sorghum. Trong thiên nhiên, các chi 
trong phức hệ Saccharum có thể tạp giao với nhau và sự tạp giao này đã xảy ra trong quá trình phát triển và di chuyển của giống.
2. SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN:
Sự phát triển của bộ rễ mía:
Rễ mía hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây giúp tạo lá và thân. Do đó muốn đạt năng suất cao thì bộ rễ mía phải phát triển và hoạt động tốt. Bộ rễ mía gồm có 3 loại:
- Rễ hấp thu: nhỏ, phân nhánh nhiều tập trung tầng đất 20 – 30 cm, ăn rông 2m quanh gốc, nhiệm vụ hút nước, chất dinh dưỡng sau khi bón phân.

- Rễ chống đỡ: to, tập trung ở 30 -60 cm mọc xiên có nhiệm vụ giữ cây mía đứng vững.
- Rễ ăn sâu: to, mọc theo chiều đứng, có thể ăn xuống sâu 4 – 5m, hút nước ngầm giúp mía chống hạn tốt.
Trong canh tác mía chú ý cày đất sâu, tơi xốp, tăng cường xới xáo giữa hạn bằng cày ra vô lúc mía đẻ nhánh, giúp gia tăng số lượng rễ.
b. Các thời kì sinh trưởng và phát triển của cây mía:
- Nảy mầm: nảy mầm tốt đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển của cây con và có liên quan mật thiết với số cây hữu hiệu, chiều cao, đường kính thân và sản lượng mía cây khi thu hoạch.
Thời kì nả mầm tính từ khi đặt hom trồng cho tới lúc mầm mía nảy mầm thành cây non, mở đầu cho hoạt động sống của cây mía.
Thời kỳ cây con: Bắt đầu từ khi có lá thật thứ nhất cho đến khi phần lớn số cây trong ruộng mía có 5 lá thật. Rễ cấy bắt đầu phát triển khi cây có 2 lá thật.
- Thời lỳ đẻ nhánh: Rễ cây mía có từ 6 – 7 lá thật, các mầm ở gốc nằm ở dưới mặt đất nẩy thành nhánh. Từ thân mẹ đẻ ra nhánh cấp 1, nhánh cấp 1 đẻ ra nhánh cấp 2 và tiếp tục thành 1 bụi mía.
Thời kỳ vươn cao:
Ngọn mía phát triển, cây mía bắt đầu vào thời kì làm lóng, vươn cao.
Rễ phát triển mạnh.
Thân vươn cao nhanh, đường kính thân tăng mạnh.
Chất khô tích lũy nhanh.
Thời kỳ chín công nghiệp và trỗ cờ:
+ Chín công nghiệp là khi hàm lượng đường trong mía đạt mức thích hợp để thu hoạch ép đường. Chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như giống, thời tiết, khí hậu và các biện pháp kỹ thuật. Thời kì chín sớm muộn khác nhau tùy giống.
+ Thời kì chín công nghiệp đòi hỏi nhiệt độ thấp dưới 200c chênh lệch nhiệt độ ngày đêm càng lớn càng tốt cho sự tích lũy đường.
Trỗ cờ tức là thời kì chín sinh vật học của cây mía. Trỗ cờ thường không trùng với thời kì chín công nghiệp và có ảnh hưởng không tốt đến nguyên liệu mía cây phục vụ cho nhà máy đường.
c. Yêu cầu sinh thái:
      Khí hậu:
  - Nhiệt độ: Thích hợp trong phạm vi 20-25OC. Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường và giảm tốc độ quang hợp.Thời kỳ đầu, từ khi đặt hom đến mọc mầm thành cây con, nhiệt độ thích hợp từ 20 - 250C.Thời kỳ đẻ nhánh (cây có 6-9 lá), nhiệt độ thích hợp 20 - 300C.Ở thời kỳ mía làm dóng vươn cao, yêu cầu nhiệt độ cao hơn để tăng cường quang hợp, tốt nhất là 30-32OC.
       -   Ánh sáng: Rất cần cho sự quang hợp để tạo đường cho cây mía. Khi cường độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của bộ lá cũng tăng. Thiếu ánh sáng cây mía phát triển yếu, vóng cây, hàm lượng đường thấp và cây mía dễ bị sâu bệnh. Trong suốt chu kỳ sinh trưởng, cây mía cần khoảng 2.000 – 3.000 giờ chiếu sáng, tối thiểu cũng 1.200 giờ trở lên.
       - Lượng nước và ẩm độ đất: Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây mía. Trong thân cây mía chứa nhiều nước (70% khối lượng). Lượng mưa thích hợp 1.500 – 2.000 mm/năm, phân bố trong khoảng thời gian từ 8-10 tháng, từ khi cây mía mọc mầm đến thu hoạch.Cây mía là loài cây trồng cạn, có bộ rễ ăn nông nên rất cần nước nhưng không chịu ngập úng.
Đất: Cây mía thích hợp ở loại đất tơi xốp, tầng đất mặt sâu, giữ ẩm tốt và dễ thoát nước. Độ pH thích hợp 5,5-7,5. Các loại đất như sét nặng, chua, mặn, bị ngập úng hoặc thoát nước kém… đều không thích hợp cho cây mía sinh trưởng và phát triển.Thực tế cho thấy, ở nước ta, cây mía được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất chua phèn ở đồng bằng Sông Cữu Long, đất đồi gò ở trung du Bắc Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam bộ.
Tuy nhiên ở những vùng này ruộng trồng mía cần đạt những yêu cầu cơ bản, nhất là độ sâu tầng đất mặt và thoát nước. Nếu đất nghèo dinh dưỡng hoặc chua phèn thì cần bón phân đầy đủ và có biện pháp cải tạo đất.
III. VẤN ĐỀ GIỐNG MÍA:
- POJ 28/78 năm năm 1928 đánh dấu bước đầu cuộc cách mạng xanh trong nghề trồng mía trên thế giới.

- POJ 30/66 có nguồn gốc Inđônêxia nhập vào Việt Nam trong những năm 1930, thích hợp điều kiện đất tốt, thâm canh cao, không trỗ cờ. Dễ đổ ngã, nhiều sâu bệnh, khả năng để gốc kém. Chín sớm tỉ lệ đường cao.
- POJ 28/78 có nguồn gốc từ Inđônêxia được nhập vào Việt nam cùng với POJ 30/16, thích ứng rộng, chịu hạn trung bình, khả năng để gốc trung bình, chín trung bình, tỉ lệ để đường khá.
- F134 (Đài Loan) thích ứng rộng, chịu hạn và úng khá, năng suất cao và ổn định, chính trung bình, để gốc tốt, nhược điểm bã giòn, chống đổ yếu, nhiễm bệnh than, bị rệp nặng.
Giống mía F134
- Việt đường 54/143 ( TQ) chín sớm, yêu cầu đất tốt, thâm canh.
- F156 (Đài Loan) sinh trưởng mạnh, chịu hạn, để gốc khá, thích ứng trên nhiều loại đất. Năng suất cao, kháng bệnh thán
F 156
Giống MY55/14: Nhập nội từ Cuba, hiện trồng phổ biến ở Đông Nam Bộ và Miền Bắc. Tốc độ tăng trưởng nhanh, thời gian chín trung bình đến muộn. Ở Miền Nam ra hoa nhiều, ở Miền Bắc ít hoặc không ra hoa. Năng suất cao (trên 100 tấn/ha), tỉ lệ đường khá, kháng sâu bệnh tốt.
My 55/ 14
- Giống mía ROC1 (F 146 x CP58 – 48): ROC1 là giống mía nguồn gốc đài loan, hiện được trồng ở miền Bắc và một số nơi khác. Ưu điểm của giống mía này là chín sớm, tỉ lệ đường cao. Nhươc điểm: Ra hoa mạnh và sớm. Năng suất nông nghiệp khá. Khả năng để gốc trung bình.
Giống mía ROC10 (ROC5 x F152): ROC10 là giống mía nguồn gốc Đài Loan, hiện đang trồng ở mìên Bắc và một số nơi khác.
Ưu điểm của giống mía này là trong điều kiện thâm canh năng suất nông nghiệp đạt rất cao và tỉ lệ đường trên mía khá.
Nhược điểm: dễ bị sâu đục tấn công
Giống mía ROC16 (F147 x Dòng 74 – 575): ROC16 là giống mía nguồn gốc Đài Loan, hiện đang được trồng phổ biến ở một số vùng mía. Ưu điểm của ROC16 là mọc khoẻ, năng suất nông nghiệp cao, ra hoa ít.
ROC16 là giống mía chín trung bình (11 – 12 tháng tuổi), tỉ lệ đường trên mía khá. Giống mía này có thể bố trí vào cơ cấu các giống thu hoạch giữa và cuối màu chế biến.
- NCO 310 (Natal- Nam Phi) chịu đất xấu, khô hạn, năng suất khá, trỗ cờ sớm, để gốc tốt, chín sớm, tỉ lệ đường cao.
I. CHẾ ĐỘ TRỒNG MÍA:
KỸ THUẬT TRỒNG CÂY MÍA
Cần phải luân canh, trồng xen, gối vụ vì:
- Tạo điều kiện hợp lý hơn trong việc bố trí cây trồng và thâm canh
- Cải tạo điều kiện lý, hóa tính và nguồn vi sinh vật trong đất
- Giảm và dễ kiểm soát nguồn cỏ dại phát sinh.
- Bảo vệ đất chống sói mòn, rửa trôi
- Cho phép đa dạng nguồn thu lương thực mà không ảnh hưởng đến cây trồng chính.
- Phá vỡ cây chuyên canh, giảm mật độ ký sinh gây bệnh hại tích lũy trong đất.
- Làm chuyển đổi chất dinh dưỡng di động sâu trong lớp đất bởi lẽ cây họ đậu là cây trồng có bộ rể ăn sâu và rộng.
- Làm hòa tan và giải phóng các hợp chất lân ra bề mặt của đất cho cây trồng sử dụng.
NGỌC TRÂM
I. CHẾ ĐỘ TRỒNG MÍA:
1. LUÂN CANH:
Trong điều kiện chuyên canh hay độc canh một loại cây trồng, mật độ các loại nấm, tuyến trùng có thể tăng cao từ 3-5 lần đối với các giống mía có sức chống chịu kém, dễ mẫn cảm.Vì vậy, việc luân canh cải tạo đất là việc làm rất cần thiết nó sẽ làm tăng năng suất mía tơ từ 14 đến 84% so với diện tích không luân canh cây họ đậu.
2. TRỒNG XEN, GỐI VỤ:
Bốn tháng đầu khi mới trồng hoặc chặt mía, giữa 2 hàng còn trống vì vậy nên trồng xen đậu phụng hoặc đậu xanh , mướp, ngô vừa tăng thu nhập vừa nâng cao năng suất mía.
Dưới dây xin được giới thiệu một vài công thức:
1. Vùng mía đồng bằng Bắc bộ (và những nơi cần điều kiện):
Trồng mía xen họ đậu hoặc xen lạc trong mía. Thu trái. Vùi toàn bộ thân lá vào gốc mía làm phân bón.
Sau một hoặc hai chu kỳ trồng mía (3 - 6 năm) luân canh với lúa hoặc các cây rau màu khác (khoai tây, khoai lang, rau màu vụ đông v.v...) rồi trở lại trồng mía.
2. Vùng đất cao (Đông nam bộ và những nơi cùng điều kiện):
Trồng mía, trồng xen trong mía các cây họ đậu (đậu xanh, đậu đen, đậu nành) ở những nơi có điều kiện. Thu trái. Vùi thân lá cây đậu vào gốc mía làm phân bón. Sau một hoặc hai chu kỳ trồng mía (3 – 6 năm) luân canh đất trồng mía với cây họ đậu (1 – 2 vụ đậu liên tiếp). Thu một phần trái còn toàn bộ cày vùi làm phân bón. Hoặc cho đất nghỉ ngơi 6 tháng rồi lại tiếp tục trồng mía.
3. Vùng đất thấp (Tây Nam bộ và những nơi cùng điều kiện):
a. Khu vực trồng mía lên tiếp:
Trồng mía. Xen canh cây họ đậu trong mía. Thu trái vùi thân lá vào gốc làm phân bón.
Sau một hoặc hai chu kỳ trồng mía (3 – 6 năm) luân canh với các cây họ đậu một năm, vét lại mương rãnh và đắp lại liếp rồi tiếp tục trồng mía trở lại.
b. Khu vực không lên liếp mía trồng lại hàng năm:
Trồng mía. Xen họ đậu xanh giữa hai hàng mía. Thu trái, vùi toàn bộ thân lá vào gốc mía làm phân bón.
Sau 3 – 4 vụ trồng mía (3 – 4 năm ) luân canh hai vụ lúa cao sản hoặc một vụ mía một vụ màu rồi tiếp tục trồng mía trở lại.
II. CHUẨN BỊ ĐẤT TRỒNG MÍA:
- Mía có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất pha cát, đất xám đến đất sét nặng.Phải sạch cỏ dại, bằng phẳng và tơi xốp, đặc biệt phải loại bỏ hoàn toàn gốc mía cũ sống sót từ vụ trước để không làm lẫn giống. Mỗi loại đất cần có chế độ canh tác thích hợp để đem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Cày sâu 20-30cm, cày 2 lần vuông góc nhau sau mỗi lần cày là một lần bừa để cho đất nhỏ.
Rạch hàng thẳng sâu 15-20cm. Cách nhau 0,8-1m
 - Lên liếp đúng kỹ thuật (đảm bảo tầng canh tác tốt) với mặt liếp phẳng, rộng 5-8 m, cao 0,5-0,6 m thông thường phải cao hơn mực nước lớn nhất trong năm 30-50 cm, có hệ thống kênh, mương thoát nước hoặc hệ thống đê bao ngăn lũ. 
- Đào hộc theo hàng ngang hoặc dọc theo mặt liếp với khoảng cách 1 m-1,2 m,  sâu 25-30 cm, rộng 30-35 cm, dưới đáy có lớp đất bột tơi xốp.
II. CHUẨN BỊ ĐẤT TRỒNG MÍA:
III. THỜI VỤ TRỒNG MÍA:
Có thể trồng rải vụ. Song thích hợp với việc chế biến của nhà máy và cho năng suất cao, đề nghị trồng vào các thời điểm:
- Vùng có tưới: trồng từ tháng 1 đến tháng 4 dương lịch.
- Vùng nước trời: trồng từ tháng 5 đến tháng 6 dương lịch.
IV. KỸ THUẬT TRỒNG MÍA:
1. Chuẩn bị hom giống:
- Lấy từ ruộng 7-8 tháng tuổi là tốt nhất.
- Chặt ngang giữa lóng, không chặt sát mầm.
- Hom mía có từ 2-3 mầm tốt; hội đủ tiêu chuẩn 3 tốt (ruộng tốt, cây tốt và hom tốt) với yêu cầu chất lượng cụ thể như sau:
- Tuổi mía: Bánh tẻ (6-8 tháng tuổi).
- Loại mía: Tơ hoặc gốc I.
- Độ thuần: Không lẫn giống.
- Độ sạch: Không nhiễm sâu bệnh.
- Độ khỏe: Không còi cọc, không vống lốp, không đổ ngã, mắt mầm không bị hư.
- Trồng càng tươi càng tốt (giống nảy mầm chậm cần phải ngâm ủ)
- Chọn những cây giống bánh tẻ 6-8 tháng tuổi, dùng dao bén chặt vát hai đầu đoạn thân dài 5-7cm, có một đốt mắt ở giữa, chú ý đánh dấu đầu phía gốc, đầu phía ngọn.
2. Xử lý hom giống:
- Ngâm hom ở dòng nước chảy không quá 24 giờ.
- Nhúng ướt hai đầu vào dung dịch thuốc sát trùng và kích thích sau đó để khô trong bóng dâm khoảng 1 giờ.
- Nhờ có chất kích thích sinh trưởng, hom mía nảy mầm sớm, tỷ lệ nảy mầm cao và đồng loạt
3. Mật độ và khoảng cách trồng:
Lượng hom 3.000-5.000 hom/sào (Đất xấu trồng dày, đất tốt trồng thưa).
Với cây giống nuôi cấy mô hoặc hom 1 mầm trong túi bầu thì trồng với khoảng cách hàng từ 100-120cm; lượng giống sử dụng từ 4-4,5 tấn/ha.
- Khoảng cách hàng tùy thuộc vào điều kiện đất đai và chế độ canh tác:
+ Khoảng cách hàng từ 0,8 – 1m: cho vùng trồng mía – lúa hay mía một vụ. 38.000 hom
+ Khoảng cách hàng từ 1 – 1,2m: cho vùng trồng mía chuyên canh. 34.000 – 36.000 hom.
- Độ sâu tùy thuộc vào tầng đất canh tác: thường độ sâu từ 15 – 20 cm, rãnh rộng 20 – 30 cm.
4. Cách trồng:
- Đặt hom: Cày rạch hàng với khoảng cách 120cm, sâu 35cm. Tưới nước vào rãnh trước khi đặt hom, tưới đến đâu đặt hom đến đấy. Đặt hom kiểu gối đầu hoặc nối đuôi với mật độ 4-5 hom 3 mắt mầm/m dài, khoảng 40.000 hom/ha (tương đương 8 tấn giống/ha), đặt hom bằng và thẳng hàng, cho mắt mầm hướng về hai bên, ấn chặt hom vào đất, hai đầu hàng mía nên đặt hom đôi ngược chiều. . Hom đặt sâu 2/3 độ sâu rãnh, hướng phần ngọn lên trên, sau đó phủ một lớp đất dày2-3cm, tiếp đến phủ nilon ngay
 - Lấp hom: Có thể sử dụng đất tơi, tro trấu hoặc xơ dừa phủ lên mặt hom để giữ ẩm, tránh cho hom giống bị khô. 
V. BÓN PHÂN:
1. Nhu cầu dinh dưỡng của cây mía:
Cho 1 ha mía (10.000 m2)
- Phân hữu cơ: 10 – 20 tấn/ha
- Vôi: 0,5 – 1 tấn/ha (khi đất có pH = 4 – 5)
- Phân hóa học:
2. Kỹ thuật bón phân cho mía:
- Bón lót: Toàn bộ phân Chuồng, Lân 1/3 Đạm, ½ Kali.
- Bón thúc lần 1: Khi mía kết thúc nảy mầm (4-5 lá) bón 1/3 lượng đạm.
- Bón thúc lần 2: Khi mía kết thúc đẻ nhánh (9-10 lá) bón 1/3 lượng đạm và ½ lượng Kali còn lại.
- Bón vá áo: Khi mía có lóng, nếu thấy mía xấu bón thêm 50-100Kg Urê/ha
Cách bón: mía tơ
+ Bón toàn bộ vôi trước khi làm đất
+ Bón lót: toàn bộ phân hữu cơ, super lân hoặc ½ kg ADP và 1/3 kg kali.
+ Bón thúc 1 (1tháng sau khi trồng): bón ½ kg DAP còn lại, ½ kg Urê và 1/3kg kali.
+ Bón thúc 2 (3 tháng sau khi trồng): bón ½ kg Urê và 1/3 kg kali còn lại.
- Ngoài ra có thể sử dụng phân hữu cơ vi sinh chuyên dùng cho mía do Cty Mía đường Cần Thơ sản xuất để bón cho mía đạt năng suất cao và ổn định.
Phân do Cty sản xuất có hai loại:
+ Loại bón lót: lượng bón 1.000 kg/ha
+ Loại bón thúc: lượng bón 1.500 kg/ha.
VI. CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH:
1. Chăm sóc:
a) Trồng dặm: sau khi trồng 25 – 30 ngày nếu trên hàng có khoảng trống 50 cm trở lên thì bứng nơi trồng dày hoặc hom giâm sẵn dự phòng trồng dặm lại ngay.
b) Làm cỏ: ở thời kỳ cây con, mía thường bị cỏ dại lấn át, cần phải tiến hành làm cỏ sớm.
- Đối với diện tích trồng ít nên làm thủ công lúc mía được 1-1,5 tháng.
Đối với diện tích trồng nhiều nên sử dụng thuốc trừ cỏ lúc mới đặt hom. Có thể sử dụng Sencor 70 WP (0,75 kg/ha) hoặc Gesapax 500DD (4 – 5 lít/ha).
c) Vô chân: kết hợp với các lần bón phân làm cỏ.
- Lần 1: vun nhẹ vào gốc khi mía 7 – 8 lá (30 – 50 ngày) hoặc xới xáo để phá váng làm cho đất tơi xốp để giữ ẩm, mía ra rễ tốt.
- Lần 2: vun khi mía đẻ nhảy chồi rộ (60 – 70 ngày), bóc lá vun cao 10 cm khống chế chồi muộn.
- Lần 3: vun khi mía 3 – 4 lóng (100 – 120 ngày) lên vồng cao 20 – 25 cm kết hợp thúc phân lần 2.
d) Tưới nước: mía là cây cần nước nhưng sợ úng.
-Nếu trồng đầu mùa khô, cần tưới giữ ẩm giai đoạn cây con để mía nhảy chồi tốt (sau đặt hom mía đến 1,5 tháng tuổi).
Bình quân trong vụ mía thường tưới từ 15-20 lần. Thời kỳ mía nảy mầm đẻ nhánh 1 tháng nên tưới 4 lần.
- Mía đẻ nhánh làm lóng 2-3 lần/tháng.
Mía làm lóng: 1-2 lần/tháng.
Mía sắp thu hoạch phải bỏ nước từ 20 ngày trở lên.
- Lưu ý: Đất trồng mía không được để nước ngập úng, phải thoát nước nhanh.
Trồng đầu mùa mưa cần đào rãnh thoát nước để tránh bị thối hom.
e) Đánh lá: có thể chia làm 2 lần đánh lá
- Lần 1: lúc mía được 3-3,5 tháng tuổi
- Lần 2: lúc mía được 6-7 tháng tuổi
* Chú ý: Đối với mía giống không cần đánh lá chỉ dọn sạch lá chân lúc vô chân.
Lần 1
Lần 2
2. Phòng trừ sâu bệnh:
 
Phòng trừ sâu bệnh mía theo nguyên tắc:
- Phòng là chính, về lâu dài nên chú trọng áp dụng IPM (nhất là biện pháp phòng trừ sinh học).
 
- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện sâu bệnh hại mía kịp thời và áp dụng các biện pháp phòng trừ đơn giản, dễ làm, có hiệu quả cao (kỹ thuật, kinh tế và môi trường).
a. Sâu hại:
Sâu đục thân:
Sâu mình hồng: Sâu non có màu hồng, bướm trưởng thành trên đầu có hai sừng (còn gọi là sâu cú mèo), tấn công mía ở giai đoạn cây con, đục từ ngọn mía xuống và ở trong thân cây nằm sâu dưới mặt đất làm đọt mía héo, chết khô có màu trắng.
Sâu bốn vạch: Trên thân có những vạch kéo dài, bướm có 2 cánh trước to có màu vàng, gây hại lúc mía trưởng thành bằng cách chui vào bẹ lá, đục vào thân cây làm cho mía dễ đổ ngã, tạo điều kiện cho các bệnh tấn công, nhất là bệnh thối đỏ.
Sâu đục thân mình trắng:
Trứng nở vào buổi sáng, sâu mới nở rất nhanh nhẹn, thường nhả tơ nhờ gió đưa sang các cây khác, tìm vào chổ gốc lá đọt đục vào thẳng xuống dưới ngọn phá hại điểm sinh trưởng làm ngọn mía bị héo và gẫy cụt, các mầm nhánh đâm ra thành hình chổi
Biện pháp phòng trừ :
- Trồng giống mía chống chịu sâu: Việt đường 11, Quế đường 15,..
- Cày xới phơi đất để diệt các mầm móng của sâu đục thân còn trong đất.
- Thu hoạch mía chặt sát gốc, thu gom hoặc đốt tàn dư sau thu hoạch.
- Diệt cỏ kịp thờitrong ruộng mía và quanh bờ, tránh nơi ẩn náu của sâu.
- Bóc lá già thường xuyên để loại trừ ổ trứng sâu.
- Dùng thuốc hóa học :
ELSAN 50EC, SUMITHION 50EC, ONCOL 20EC: pha 30 ml/bình 8 lít nước (750 ml/thùng phuy 200lít nước). Phun lúc mía mọc mầm, lúc mía vươn lóng.
LORSBAN 15G:Dùng 8-10 kg/ha.Rải lúc đặt hom hoặc khi vun gốc lần đầu.
_ Dùng thiên địch: ong mắt đỏ Trichogramma sp.
Rệp xơ bông trắng:
Rầy bu trắng mặt dưới lá mía thật ra là con rệp bông trắng có tên khoa học là Ceratovacuna lanigera là một loài dịch hại nguy hiểm không những đối với sinh trưởng và phát triển của cây mía mà còn có ảnh hưởng xấu đến năng suất và chất lượng đường.
Ấu trùng bọ phấn trắng chích hút nhựa của lá mía dẫn đến lá bị chuyển vàng và hồng nhạt, cuối cùng làm khô cháy lá. Các ấu trùng bài tiết lượng đường lớn trong phân tích tụ trên lá, đây là nguyên nhân làm xuất hiện nấm muội đen tạo các vết đen trên lá, làm ảnh hưởng đến quang hợp của cây. Cây mía sinh trưởng còi cọc, làm giảm hàm lượng đường và có thể làm giảm năng suất mía lên đến 65%. Giống mía có lá to và dài thường bị hại nặng hơn. Bọ phấn trắng gây hại chủ yếu trên lá mía, tập trung mặt dưới của lá.
- Quần thể rệp phát triển mạnh vào giữa và cuối vụ mía thì khả năng lây lan từ ruộng mía lớn sang ruộng mía nhỏ mới vươn lóng là rất lớn.
Biện pháp phòng trừ tích cực như sau:
- Từ vụ sau, không nên bố trí 2 vụ mía liền kề sát bên nhau như hiện trạng hai ruộng mía của bạn, điều này vừa tiện lợi khi tiến hành các biện pháp canh tác và bảo vệ thực vật, vừa có lợi cho việc ngăn ngừa rệp di chuyển gây hại từ ruộng mía lớn sắp thu hoạch sang ruộng mía tơ đang phát triển.
- Bón đạm sớm và cân đối đạm, lân và kali.
- Làm sạch cỏ và cắt lá già để ruộng mía được thông thoáng.
- Theo dõi và phát hiện kịp thời các ổ rệp để vuốt bằng tay sẽ hiệu quả và ít độc hại.
Nếu mật số rệp cao và có nguy cơ lan sang ruộng mía tơ thì dùng một trong các loại thuốc như : Pyrinex, Dragon, Dimenat, Bascide, .. để luân phiên phun, có thể pha thuốc với dầu khoáng SK Enspray 99EC sẽ có tác dụng diệt rệp cao hơn.
Dùng thiên địch: bọ rùa 2 chấm nhỏ, bọ rùa vàng nhỏ,…
Sâu non mới nở tập trung trên lá cờ hoặc đỉnh lá, gặm những biểu mô mềm của lá. Cuối tuổi 1 sang tuổi 2 ăn những phần cứng hơn. Đặc biệt đến tuổi 3, chúng di chuyển xuống phía dưới tìm những phần gốc của mía đục vào.
Bọ Hung Đục Gốc Mía
Tên khoa học: Allissonotum impressicolle
Họ: Scarab Dynastidae (họ phụ) Coleoptera
Bộ: Có 3 loại bọ hung:
- Bọ hung đen: A. Impressicolle
- Bọ hung nâu: Holotrichia sinensis
- Bọ hung xanh: Anomata sp. 
Bọ trưởng thành gặm phá gốc thân mía khá mạnh, ban ngày thường nằm ngay trong các hốc lõm ở gốc thân mía.
Mía nhỏ, sâu đục vào đỉnh sinh trưởng, gây chết đọt. Khi mía có lóng, sâu đục vào khoảng giữa 2 lóng mía, chúng phá hại nặng ở thời kỳ đẻ nhánh làm mía non chết đọt, đổ gãy.
Biện pháp phòng trị
- Trồng đúng thời vụ, nhanh gọn.
- Cày bừa kỹ, xử lý đất trước khi trồng.
- Vào đầu mùa mưa, xử lý đất kỹ bằng thuốc hóa học dạng bột quanh gốc mía
- Luân canh với cây họ đậu.
- Trước khi trồng dùng Kayazinon 10G (Basudin 10H, Diazinon 10H) 20-30kg/ha hoặc Padan4G: 30kg/ha sau đó đặt hom lấp đất. Nơi có nhiều bọ hung: trước khi vun gốc lần 1 rải thêm thuốc vào gốc mía rồi vun đất. Hiệu lực của thuốc giữ được thời gian dài có tác dụng kiêm trừ bọ trĩ.
- Luân canh với cây trồng khác hay cho nước vào ngâm 2-3 ngày.
- Dùng thuốc : Diaphos; Pyrinex; Sherzol; Padan.
Rầy Đầu Vàng Hại Mía
Tên khoa học : Eoeurysa flavocapitata Muir
Tên tiếng Anh: Black Leafhopper, Yellow Headed Planthopper
Họ: Muội (Delphacidae) 
Bộ: Cánh đều (Homoptera)

Rầy đầu vàng (Yellow Headed Planhopper) còn được gọi là rầy đen (Black Planthopper) gây hại trên mía. Rầy đầu vàng (RĐV) cũng thấy xuất hiện trên mía ở các nước lân cận như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan… Đây là đối tượng sâu hại ít gây ảnh hưởng kinh tế quan trọng trên mía
- Rầy thường xuất hiện ở các ruộng mía trồng lẻ tẻ, diện tích nhỏ, tháo nước không tốt hoặc gần làng mạc, trồng dầy. Chủ yếu gây hại trên mía non ở các lá chưa mở hoặc lá non mới xòe, thường xuất hiện trên mía Hè thu từ đẻ nhánh đến 4 – 6 lóng. 
Lá mía bị hại có những chấm vàng về sau liên kết nhau tạo thành vết vàng lớn, trên đó có lớp bọt trắng hoặc lớp dịch trong suốt. Lớp dịch nầy thu hút ruồi, kiến, ong…đến, sau một thời gian biến thành những chấm tròn màu đen và có mùi hôi.. Cây mía bị nặng lá đọt bị thối, lá xanh giảm và biến dạng nhỏ, ngắn, ảnh hưởng đến sinh trưởng và tích lũy đường của cây mía. 
- Mật độ rầy thường cao vào các tháng 4 – 5, 7 – 8 và 11 – 12

Biện pháp phòng trừ
-Trồng mía tập trung ít bị hại hơn trồng lẻ tẻ
-Trồng các giống kháng như: F 177, F 178, ROC 5, ROC 16, R 570
-Kiểm tra ruộng mía khi thấy có 5 – 10 con/cây thì cho phun xịt thuốc trừ rầy.
-Phun một trong các loại thuốc sau:
* Applaud 10 WP (Buprofezin): pha 20 - 30 g/bình 8 lít nước, phun 4 - 5 bình/1000 m2
* Fastac 5 EC (Alpha cypermethrin): pha 6 - 8 cc/bình 8 lít, phun 4-5 bình/1000 m2
* Oncol 20 EC (Benfuracarb): pha 50 cc/bình 8 lít, phun 4-5 bình/1000 m2
-Có thể phối hợp dầu khóang Citrole 96,3 ND với các thuốc trên với liều 40 cc/bình 8 lít để tăng hiệu lực trừ rầy
-Phun vào sáng sớm, chiều mát, phun kỹ vào đọt non, loa kèn

Bệnh Than (Đen Đốt)
Triệu trứng bệnh:
 - Triệu chứng đặc trưng của bệnh là lá đọt cây mía biến dạng thành dạng roi cong xuống, có trường hợp dài tới hàng mét. Biểu hiện đầu tiên là bên ngoài phủ 1 lớp màng mỏng màu trắng, sau đó chuyển sang màu đen do được phủ bằng vô vàn bào tử dạng bột. Cây mía bị bệnh hoàn toàn mất khả năng tạo dóng, ở gốc đẻ nhiều nhánh nhỏ, mầm nhánh hầu như bị bệnh không phát triển được.
Phòng trừ :
- Trồng giống kháng bệnh.
- Kịp thời nhổ bỏ và tiêu huỷ cây mía bị bệnh; ruộng mía bị hại nặng không nên để lưu gốc. Ruộng mía bị bệnh nặng nên luân canh với cây họ đậu 1-2 năm. Không lấy hom giống ở ruộng mía bị bệnh nặng.
Tên thuốc :
- Dùng thuốc Tilt 250ND pha với nước nồng độ 0,2%, nhúng hom mía 5 phút trước khi trồng.


b. Bệnh hại:
Bệnh này thường gặp ở giống mía VĐ 86-368.
Thối Đỏ Thân Mía

Tên khoa học: Collectotrichum falcatum
Bộ :Melanconiales
Lớp :Deuteromycetes 
Phân bố và tác hại: 

Hầu hết ở cây mía : hom giống, mầm. Các vùng trồng mía đều gặp.
Làm cho lóng gảy, năng suất giảm, lượng đường kém.
Bệnh thối đỏ (bệnh rượu): Do nấm gây ra thông qua vết xây xát và lỗ nhỏ trên thân cây mía của sâu đục thân. Bệnh phổ biến ở giống mía QĐ11.
Triệu chứng:

- Hại chủ yếu vào giai đoạn vươn lóng, hại trong ruột do đó khó phát hiện.
- Vết bệnh ban đầu là một chấm nhỏ màu hồng nhạt về sau lan dọc theo lóng tạo thành 1 mãng lớn có màu đỏ huyết => về già vết bệnh thối, lên men có mùi rượu, có vị nhạt chua, ruộng mía bị rỗng đi.
- Khi bệnh nặng làm cho vỏ bớt bóng thân teo tóp lại, có những hạt nhỏ li ti màu đen -> đĩa cành của nấm.
- Lá bị bệnh – lá héo vàng => toàn cây chết khô, xuất hiện đầu tiên ở lông màng, dọc theo gân chính sóng lá. Vết bệnh ban đầu là 1 đốm nhỏ màu hồng, về sau phát triển dọc theo gân lá và có hình bầu dục hoặc đôi khi là đường sọc dài 5-6 cm, có màu đỏ, làm cho lá gẫy gục.

Biện pháp phòng trị:
- Chọn giống kháng, vệ sinh đồng ruộng.
- Tăng cường chăm sóc, bón phân tương đối (K tương đối nhiều).
- Thu hoạch sớm khi có bệnh, không chất thành đống có ngập nước.
- Chọn giống hom khoẻ, không có mầm bệnh xử lý hom giống (ngâm CuSO4 1% trong 20 phút) Bordeau 1%, xử lý nước nóng 520C trong 20 phút.
- Dùng thu
 
Gửi ý kiến