tư tưởng HCM

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Học viện Quan hệ Quốc tế
Người gửi: Én Xinh Đẹp
Ngày gửi: 23h:54' 04-12-2008
Dung lượng: 69.5 KB
Số lượt tải: 77
Nguồn: Học viện Quan hệ Quốc tế
Người gửi: Én Xinh Đẹp
Ngày gửi: 23h:54' 04-12-2008
Dung lượng: 69.5 KB
Số lượt tải: 77
Số lượt thích:
0 người
Sơ lược về Chủ nghĩa tam dân:
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn ra đời trong bối cảnh đất nước Trung Quốc triều đại nhà Thanh đang đứng trước nguy cơ đánh mất chủ quyền vào tay các quốc gia phương Tây. Tình thế đòi hỏi những nhà cầm quyền phải có sự đổi mới. Tuy nhiên, nỗ lực đổi mới của Thanh triều lại bị hệ thống thư lại Tống Nho nặng nề cản trở. Để chống chọi với những tư tưởng tự do, dân chủ, dân sinh của các học thuyết phương Tây, Chủ nghĩa Tam dân đã trở thành một tư tưởng cấp tiến, kim chỉ nam cho Trung Quốc trong một khoảng thời gian của lịch sử.
Chủ nghĩa này đặt căn bản trên ba nguyên lý Dân Tộc, Dân Quyền, và Dân Sinh.
Nguyên lý Dân Tộc chủ trương nhân dân phải giữ vững chủ quyền quốc gia để có thể hoạch định chính sách xây dựng đất nước một cách độc lập. Đồng thời phải đảm bảo được sự bình đẳng của nhân dân Trung Hoa với các dân tộc khác trên thế giới và trong các hiệp ước ký kết với nước ngoài.
Tôn Trung Sơn đã kêu gọi nhân dân Trung Hoa thức tỉnh ý thức tinh thần dân tộc trong họ, với bước đầu là sự thông cảm và đoàn kết giữa người với người. Tiếp đến là đoàn kết dân tộc để giữ gìn chủ quyền quốc gia, xây dựng và đổi mới đất nước. Đất nước có hùng cường thì mới có thể trở nên bình đẳng được với các dân tộc khác trên thế giới.
Tuy nhiên, Tôn Trung Sơn quan niệm rằng nếu chỉ khơi lại những quý tính dân tộc đặc thù nghìn xưa thì cũng chưa có thể xây dựng quốc gia hùng cường. Ông cho rằng nhân dân Trung Hoa phải học lấy kinh nghiệm của phương Tây, nhận ra những ưu khuyết điểm của họ thì mới có thể đổi mới đất nước một cách hiệu quả được.
Chính sách dân tộc cũng chủ trương bình đẳng hóa các thành phần dân tộc như Hán, Mãn, Mông, Tây Tạng, Hồi. Tuy vậy, nhà cách mạng gốc Hán Tôn Trung Sơn vẫn mong muốn chính quyền Trung Hoa phải do người Hán kiểm soát.
Nguyên lý Dân Quyền chủ trương nhân dân phải có bốn `chánh quyền` căn bản: bầu cử, đề nghị dự luật, biểu quyết bãi nhiệm chính quyền hay công chức, và phúc phủ quyết luật pháp.
Tôn Trung Sơn còn đưa ra ý niệm quyền năng phân lập để giải quyết các khuyết điểm của tổ chức dân chủ Tây phương trong mối quan hệ giữa khả năng hành pháp của nhà nước với quyền hạn của nhân dân. Ý niệm `quyền năng phân lập` đòi hỏi nhân dân phải thay đổi thái độ nghi ngờ chính phủ bằng thái độ tín nhiệm chính phủ. Trong đó, tổ chức hành chính quốc gia phân chia ra thành `chánh quyền` (quyền chính trị) và `trị quyền` (quyền quản trị quốc sự). `Chánh quyền` là của nhân dân và ‘trị quyền’ thuộc về chính phủ. `Chánh quyền` bao gồm 4 quyền cơ bản của người dân như đã đề cập đến ở trên. `Trị quyền` của chính phủ bao gồm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, giám sát, và khảo thí (Ngũ Quyền Hiến Pháp).
Tôn Trung Sơn tin rằng nếu tổ chức quốc gia được xây dựng trên căn bản của bốn ‘chánh quyền’ và năm ‘trị quyền’ thì các thế lực chính trị trong nước sẽ cân bằng (phân lập) và có thể giải quyết được sự trì trệ trong lĩnh vực quản lý các công việc của nhà nước cũng như đẩy mạnh nỗ lực đổi mới đất nước.
Nguyên lý Dân Sinh chủ trương rằng vấn đề dân sinh là trọng tâm của sự tiến hóa trong xã hội, và sự tiến hóa trong xã hội trở thành trọng tâm của lịch sử. Vì vậy chủ nghĩa Tam dân bắt buộc chính quyền phải chăm lo đến đời sống của nhân dân bởi. Đặc biệt, chủ nghĩa này còn chú trọng vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo để đảm bảo bình đẳng quyền lợi kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.
Chính sách Dân Sinh được xây dựng trên ý thức về sự tiến hóa của xã hội Tây phương là do sự điều hòa quyền lợi của giới chủ xưởng và giới công nhân nhằm kiểm soát tiến trình phát triển tư bản và nâng cao đời sống của công nhân. Trước thực tế của một nền kinh tế nông nghiệp với đại đa số người dân là nông dân, Tôn Trung Sơn chủ trương ‘bình quân địa quyền’ và `tiết chế tư bản`.
Chính sách `bình quân địa quyền` nhắm vào nỗ lực cải cách điền địa để trưng mua đất đai và cấp cho dân vô sản cày cấy. Bên cạnh đó, người dân phải được hướng dẫn và khuyến khích dùng hàng sản xuất trong nước, áp dụng chính sách kinh tế chú trọng vào việc sản xuất hàng hóa nội địa nhằm cung ứng cho thị trường trong nước. Đồng thời nhà nước cần sử dụng hàng rào quan thuế để giới hạn số lượng hàng hòa nước ngoài nhập khẩu, khuyến khích sự phát triển của guồng máy kinh tế quốc dân
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn ra đời trong bối cảnh đất nước Trung Quốc triều đại nhà Thanh đang đứng trước nguy cơ đánh mất chủ quyền vào tay các quốc gia phương Tây. Tình thế đòi hỏi những nhà cầm quyền phải có sự đổi mới. Tuy nhiên, nỗ lực đổi mới của Thanh triều lại bị hệ thống thư lại Tống Nho nặng nề cản trở. Để chống chọi với những tư tưởng tự do, dân chủ, dân sinh của các học thuyết phương Tây, Chủ nghĩa Tam dân đã trở thành một tư tưởng cấp tiến, kim chỉ nam cho Trung Quốc trong một khoảng thời gian của lịch sử.
Chủ nghĩa này đặt căn bản trên ba nguyên lý Dân Tộc, Dân Quyền, và Dân Sinh.
Nguyên lý Dân Tộc chủ trương nhân dân phải giữ vững chủ quyền quốc gia để có thể hoạch định chính sách xây dựng đất nước một cách độc lập. Đồng thời phải đảm bảo được sự bình đẳng của nhân dân Trung Hoa với các dân tộc khác trên thế giới và trong các hiệp ước ký kết với nước ngoài.
Tôn Trung Sơn đã kêu gọi nhân dân Trung Hoa thức tỉnh ý thức tinh thần dân tộc trong họ, với bước đầu là sự thông cảm và đoàn kết giữa người với người. Tiếp đến là đoàn kết dân tộc để giữ gìn chủ quyền quốc gia, xây dựng và đổi mới đất nước. Đất nước có hùng cường thì mới có thể trở nên bình đẳng được với các dân tộc khác trên thế giới.
Tuy nhiên, Tôn Trung Sơn quan niệm rằng nếu chỉ khơi lại những quý tính dân tộc đặc thù nghìn xưa thì cũng chưa có thể xây dựng quốc gia hùng cường. Ông cho rằng nhân dân Trung Hoa phải học lấy kinh nghiệm của phương Tây, nhận ra những ưu khuyết điểm của họ thì mới có thể đổi mới đất nước một cách hiệu quả được.
Chính sách dân tộc cũng chủ trương bình đẳng hóa các thành phần dân tộc như Hán, Mãn, Mông, Tây Tạng, Hồi. Tuy vậy, nhà cách mạng gốc Hán Tôn Trung Sơn vẫn mong muốn chính quyền Trung Hoa phải do người Hán kiểm soát.
Nguyên lý Dân Quyền chủ trương nhân dân phải có bốn `chánh quyền` căn bản: bầu cử, đề nghị dự luật, biểu quyết bãi nhiệm chính quyền hay công chức, và phúc phủ quyết luật pháp.
Tôn Trung Sơn còn đưa ra ý niệm quyền năng phân lập để giải quyết các khuyết điểm của tổ chức dân chủ Tây phương trong mối quan hệ giữa khả năng hành pháp của nhà nước với quyền hạn của nhân dân. Ý niệm `quyền năng phân lập` đòi hỏi nhân dân phải thay đổi thái độ nghi ngờ chính phủ bằng thái độ tín nhiệm chính phủ. Trong đó, tổ chức hành chính quốc gia phân chia ra thành `chánh quyền` (quyền chính trị) và `trị quyền` (quyền quản trị quốc sự). `Chánh quyền` là của nhân dân và ‘trị quyền’ thuộc về chính phủ. `Chánh quyền` bao gồm 4 quyền cơ bản của người dân như đã đề cập đến ở trên. `Trị quyền` của chính phủ bao gồm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, giám sát, và khảo thí (Ngũ Quyền Hiến Pháp).
Tôn Trung Sơn tin rằng nếu tổ chức quốc gia được xây dựng trên căn bản của bốn ‘chánh quyền’ và năm ‘trị quyền’ thì các thế lực chính trị trong nước sẽ cân bằng (phân lập) và có thể giải quyết được sự trì trệ trong lĩnh vực quản lý các công việc của nhà nước cũng như đẩy mạnh nỗ lực đổi mới đất nước.
Nguyên lý Dân Sinh chủ trương rằng vấn đề dân sinh là trọng tâm của sự tiến hóa trong xã hội, và sự tiến hóa trong xã hội trở thành trọng tâm của lịch sử. Vì vậy chủ nghĩa Tam dân bắt buộc chính quyền phải chăm lo đến đời sống của nhân dân bởi. Đặc biệt, chủ nghĩa này còn chú trọng vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo để đảm bảo bình đẳng quyền lợi kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.
Chính sách Dân Sinh được xây dựng trên ý thức về sự tiến hóa của xã hội Tây phương là do sự điều hòa quyền lợi của giới chủ xưởng và giới công nhân nhằm kiểm soát tiến trình phát triển tư bản và nâng cao đời sống của công nhân. Trước thực tế của một nền kinh tế nông nghiệp với đại đa số người dân là nông dân, Tôn Trung Sơn chủ trương ‘bình quân địa quyền’ và `tiết chế tư bản`.
Chính sách `bình quân địa quyền` nhắm vào nỗ lực cải cách điền địa để trưng mua đất đai và cấp cho dân vô sản cày cấy. Bên cạnh đó, người dân phải được hướng dẫn và khuyến khích dùng hàng sản xuất trong nước, áp dụng chính sách kinh tế chú trọng vào việc sản xuất hàng hóa nội địa nhằm cung ứng cho thị trường trong nước. Đồng thời nhà nước cần sử dụng hàng rào quan thuế để giới hạn số lượng hàng hòa nước ngoài nhập khẩu, khuyến khích sự phát triển của guồng máy kinh tế quốc dân
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất