Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo


Coccoc-300x250

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Tuần 6. Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: phạm thị hồng thắm
Ngày gửi: 11h:10' 21-10-2021
Dung lượng: 7.7 MB
Số lượt tải: 251
Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Thị Ngon)

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
Nguyễn Đình Chiểu


PHẦN 1:
TÁC GIẢ
I.Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Nguyễn Đình Chiểu: 1822-1888.
Tự: Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai
Sinh tại quê mẹ: huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định.
Xuất thân trong một gia đình nhà Nho.
+ Cha: Nguyễn Đình Huy.
+ Mẹ: Trương Thị Thiệt.
1843: đỗ tú tài.
Cuộc đời nhiều mất mát, bất hạnh.
(1846: ông ra Huế chuẩn bị thi tiếp thì hay tin mẹ mất phải bỏ thi; dọc đường về quê do khóc thương mẹ đã dẫn đến mù lòa).
Là người giàu niềm tin nghị lực, vượt lên số phận: bị mù nhưng vẫn mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân.
Giặc Pháp dụ dỗ mua chuộc nhưng ông vẫn giữ được tấm lòng thủy chung son sắt với đất nước và nhân dân.
Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng về:
+ Nghị lực phi thường vượt lên trên số phận.
+ Lòng yêu nước thương dân.
+ Tinh thần bất khuất trước kẻ thù.
I.Tìm hiểu chung

1. Tác giả
1822
Ông sinh tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định
1843
Ông đỗ tú tài tại trường thi Gia Định
1846
Ông ra Huế học, sắp thi thì nghe tin mẹ mất, phải về quê chịu tang mẹ
1849
Ông bị mù. Khi về quê, ông mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sang tác thơ
1859
Giặc Pháp vào Gia Định
Ông đứng vững trên tuyến đầu của cuộc kháng chiến
Tích cực dùng văn chương cổ động lòng yêu nước của sĩ phu và nhân dân
1888
Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu mất tại Ba Tri (Bến Tre)
II. Sự nghiệp thơ văn
1. Những tác phẩm chính

Chủ yếu viết bằng chữ Nôm

Trước cách mạng: Truyền bá đạo lí làm người (truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ- Hà Mẫu)

Sau cách mạng: Lá cờ đầu của thơ văn yêu nước (Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trường Định,…)
2. Nội dung thơ văn

*Lí tưởng nhân nghĩa:

Đặc điểm: mang tính nhân nghĩa của đạo Nho, nhưng đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc.
Nhân vật: Tấm gương sáng ngời đạo đức nhân nghĩa, lí tưởng, hiếu thảo, trung thực, thủy chung, sẵn sàng giúp đời

*Lòng yêu nước thương dân:

Ghi lại 1 thời đại đau thương của đất nước, khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước của nhân dân ta.
Nhiệt liệt biểu dương những anh hùng nghĩa sĩ, đã chiến đấu hi sinh vì Tổ Quốc.
Tố cáo tội ác kẻ thù xâm lược
Ngợi ca những sĩ phu yêu nước
Những tác phẩm chính
Chủ yếu được viết bằng chữ Nôm
Giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược
Truyện Lục
Vân Tiên
Dương Tử - Hà Mậu
Giai đoạn sau khi thực dân Pháp xâm lược
Truyền bá đạo lý làm người
Chạy giặc
Văn tế nghĩa sĩ
Cần Giuộc
Thơ điếu Trương Định
Thơ Điếu Phan Tòng
Ngự Tiều y thuật
vấn đáp
NỘI DUNG THƠ VĂN
Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa
Thể hiện rõ trong tác phẩm Lục Vân Tiên
Mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho
Lòng yêu nước, thương dân
Ghi lại chân thực giai đoạn lịch sử đau thương, khổ nhục của đất nước
Thể hiện qua thơ văn yêu nước chống Pháp
Đậm đà tình nhân dân và
truyền thống dân tộc
Mẫu người
lý tưởng
Nhân hậu, thủy chung
Ngay thẳng, nghĩa hiệp
Khích lệ ý chí cứu nước của nhân dân ta
Ca ngợi những anh hùng đã chiến đấu và hy sinh cho Tổ quốc
.

1
2
3
4
5
6
PowerUP
With
POWERPOINT
NGHỆ THUẬT THƠ VĂN
Văn chương trữ tình đạo đức
Bút pháp trữ tình chan chứa yêu thương
Đậm đà sắc thái Nam Bộ
Ngôn ngữ mộc mạc bình dị, chất phác, cư xử hồn nhiên
Viết bằng chữ Nôm, lối thơ thiên về kể
Mang màu sắc diễn xướng phổ biến trong văn học
dân gian Nam Bộ
PHẦN 2:
TÁC PHẨM
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Hoàn cảnh sáng tác
- Đêm 16-12-1861,các nghĩa sĩ đã tấn công đồn quân Pháp ở Cần Giuộc, giết được tên quan hai Pháp và một số lính thuộc đia. Họ làm chủ đồn được hai ngày, sau đó bị phản công và thất bại. Khoảng 20 nghĩa quân đã hi sinh.
- Theo yêu cầu của viên tuần phủ Gia Định tên là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài văn tế.
2. Thể loại văn tế
2. Thể loại văn tế.
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Đọc:
Bố cục:

Đoạn 1 (Lung khởi): Từ đầu… tiếng vang như mõ

Đoạn 2 (Thích thực): Tiếp theo… tàu sắt tàu đồng súng nổ

Đoạn 3 (Ai vãn): Tiếp theo … dật dờ trước ngõ

Đoạn 4 (Kết): Còn lại
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Đọc
2. Tìm hiểu văn bản
Bối cảnh thời đại và ý nghĩa
cái chết của người nông dân nghĩa sĩ:
Hỡi ôi?
Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ
Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Tình thế, bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ như thế nào? Từ đó tác giả khái quát về ý nghĩa cái chết của người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc ra sao?
Nông dân Việt Nam trong cuộc khởi nghĩa Cần giuộc
Tội ác của thực dân Pháp
Tội ác của thực dân Pháp
Tội ác của thực dân Pháp
b. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ
THẢO LUẬN NHÓM

? Tìm hiểu về nguồn gốc của người nghĩa sĩ, những chuyển biến của người nông dân khi có giặc ngoại xâm.


? Tìm hiểu vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận nghĩa đánh Tây.
2. Tìm hiểu văn bản
Bối cảnh thời đại và ý nghĩa cái chết của
người nông dân nghĩa sĩ

a) Bối cảnh và ý nghĩa của cái chết bất tử
“Hỡi ôi”: cảm giác đau đớn tột độ
“Súng giặc đất rền” “lòng dân trời tỏ”
Sự hiện diện của các Ý chí nghị lực của nhân dân.
thế lực xâm lực

Nghệ thuật đối:
=> Bối cảnh bão táp, căng thẳng, dữ dội.
10 năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn nói danh như phao >< một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng văng như mõ.
=> Cái chết bất tử, tiếng thơm còn mãi.

b. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ
 Nguồn gốc của người nghĩa sĩ:
Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

* Trước khi thực dân pháp xâm lược

“Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó“
Cần cù, đơn độc, lam lũ, vất vả, nghèo khổ.
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó >< Chỉ biết ruộng trâu, quen làm việc cuốc, việc cày, việc cấy.
Nghệ thuật đối: người nông dân thuần phát, hoàn toàn lạ với binh đao

* Khi thực dân Pháp xâm lược.
Tình cảm.
+ Lo sợ, phập phòng, trông chờ tin quan.
+ Căm ghét quân giặc.
Nhận thức: “một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đươi hươu; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó”
Hành động tự nguyện đánh giặc.
=> Xây dựng bực tượng đài bất tử về người nông dân yêu nước: Nhiều ảnh hưởng cảu họ được hiện lên một cách chân chất, giản dị mà vô cùng oai phong, lẫm liệt, kiên cường,bật khuất.
Động từ mạnh
c) Niềm thương tiếc vô hạn

Tiếc thương vô cùng khi các nghĩa sĩ ra đi, mà sự nghiệp còn đang dang dỡ (câu 16-24).
Nỗi xót xa của những gia đình mất nhân thân (câu 25).
Nỗi căm hờn đối với những kẻ thù,……. (câu 21).
Tiếng khóc nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương đất nước (câu 27).
Cái chết của họ đã làm sáng tỏ, chân lí cảu thời đại “chết vinh còn hơn sống nhục”

d) Ý nghĩa bất tử của cái chết anh hùng.
Sống – thác: 1 lòng vì nhân dân vì nước.
Tiếp tục tiếng khóc nhói lòng.
Cái tang dung của mọi thời đại, là khúc ca bi tráng về 1 anh hùng thất thí.



III. Tổng kết

a) Nội dung.
- Tiếng khóc bi tráng cho một thời kì đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc.
Bức tượng đài bất tử về 1 nghĩa sĩ nông dân

b) Nghệ thuật
- Ngôn ngữ trang trọng, dân dã, mang sắc thái Nam Bộ
- Bút pháp trữ tình kết hợp với hiện thực
Thủ pháp tương phản, hình ảnh so sánh

c) Ý nghĩa văn bản
- Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người nghĩa sĩ nông dân
- Lần đầu tiên trong VHVN, người nông dân có mặt ở vị trí trung tâm và hiện ra với tất cả vẻ đẹp vốn có của họ
 
Gửi ý kiến