Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tìm kiếm Google

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 036 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Bài 24. Ý nghĩa văn chương

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ huynh
Ngày gửi: 08h:38' 10-02-2018
Dung lượng: 12.5 MB
Số lượt tải: 207
Số lượt thích: 0 người
Ngữ văn 7
Trong văn bản “Đức tính giản dị của Bác Hồ”, tác giả Phạm Văn Đồng đã đưa ra những luận cứ nào để chứng minh cho sự giản dị của Bác? Hãy thể hiện những luận cứ đó trên bản đồ tư duy.
Thứ 2 ngày 27 tháng 02 năm 2017
Môn: ngữ văn 7
tiết 101 - bài 24
ý nghĩa văn chương
(Hoài Thanh)
I. Đọc - chú thích

1. Tác giả - tác phẩm
- Hoài Thanh ( 1909-1982)
- Quê: Nghi Trung, huyện Nghi Lộc- Nghệ An.
- Là nhà phê bình văn học xuất sắc.
- Năm 2000 được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT.
- Tác phẩm nổi tiếng: Thi nhân Việt Nam.
a. Tác giả
b. Tác phẩm
Thi nhân Việt Nam 
- Là cuốn sách vừa là hợp tuyển vừa là nghiên cứu, phê bình về phong trào thơ mới Việt Nam, do hai anh em nhà văn Hoài Thanh và Hoài Chân biên soạn. Đây là một hợp tuyển thơ đầu tiên của thời kỳ thơ mới, ghi nhận lại những tên tuổi nhà thơ và những bài thơ giá trị trong khoảng 1932-1941.
- Thi nhân Việt Nam viết năm 1941, hoàn thành năm 1942, in lần đầu năm 1942 tại nhà in tư nhân Nguyễn Đức Phiên, và cho đến nay cuốn sách đã được tái bản rất nhiều lần.
2. Đọc

Hướng dẫn đọc: Giọng vừa rành mạch vừa cảm xúc, chậm và sâu lắng.
Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang đường, song không phải không có ý nghĩa. Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài.
Ý NGHĨAVĂN CHƯƠNG
Cái chính, cái quan trọng, không thể thiếu.
3. Từ khó
- Cốt yếu:
- Muôn hình vạn trạng:
Rất phong phú, nhiều hình thức, hình ảnh, trạng thái, tâm trạng …khác nhau.
- Kiểu văn bản:
- Nghị luận văn chương.
- Vấn đề nghị luận:
- Văn chương có ý nghĩa đối với con ngươì.

II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
- Bố cục
Phần 1: từ đầu đến “muôn loài”: Nguồn gốc của văn chương.
Phần 2: còn lại: Nhiệm vụ và công dụng của văn chương
1. Nguồn gốc văn chương.
“ Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.

Câu hỏi thảo luận cặp đôi: Tác giả kể chuyện nhà thi sĩ Ấn Độ khóc nức nở khi thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình để làm gì?
1. Nguồn gốc văn chương.
“ Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.

Đáp án: Đó chính là cách nêu vấn đề vào đề một cách tự nhiên, hấp dẫn, xúc động và đầy bất ngờ. Ông kể một câu chuyện nhỏ để dẫn dắt tới một luận điểm lớn theo lối quy nạp.
1/ Nguồn gốc văn chương:
“ Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim cùng hoà nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang đường, song không phải không có ý nghĩa. Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài. (...)”
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài.
Được chứng minh qua một số tác phẩm
Đây là quan niệm rất đúng đắn và sâu sắc
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Lão hạc
Nam Cao
Chỉ có ông giáo hiểu được cái chết của lão Hạc
Tức nước vỡ bờ
Ngô Tất Tố
Thân phận người phụ nữ chịu mọi áp bức trong xã hội
Trong lòng mẹ
Nguyên Hồng
Thân phận của bé Hồng chịu nhiều cay đắng, khao khát tình mẹ
Tôi đi học
Thanh Tịnh
Thảo luận nhóm bàn: (2 phút)
Câu hỏi:
Có ý kiến cho rằng: “Quan niệm của Hoài Thanh về nguồn gốc văn chương như vậy là đủ nhưng chưa chính xác”. Em có đồng ý với ý kiến trên không? Vì sao?
Nguồn gốc của văn chương còn bắt nguồn từ
Trâu ơi, ta bảo trâu này.
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền.
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
 Văn chương bắt nguồn từ cuộc sống lao động.
O du kích (Tố Hữu)
-> Văn chương bắt nguồn từ thực tế đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, chống giặc ngoại xâm.
Thánh Gióng
-> Văn chương bắt nguồn từ đời sống văn hoá, lễ hội, trò chơi...
Văn chương còn bắt nguồn từ nghi lễ, tôn giáo
Hỡi ơi ! 
Súng giặc đất rền, 
Lòng dân trời tỏ. 
Mười năm công vỡ ruộng, xưa ắt còn danh nổi như phao, 
Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ. 

Nhớ linh xưa 
Côi cút làm ăn, 
Riêng lo nghèo khổ, 
Chưa quen cung ngựa đưa tới trường nhung 
Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ; 
2. Nhiệm vụ và công dụng của văn chương
“ Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống.(...)”
a. Nhiệm vụ của văn chương.
-> Văn chương ghi lại cuộc sống lao động.
-> Văn chương ghi lại cuộc sống chiến đấu.
Văn chương ghi lại văn hóa, lễ hội, trò chơi, giải trí...
Truyện “Thạch Sanh”
Truyện “ Cây bút thần”
 Phản ánh ước mơ công lý, cải tạo hiện thực xã hội, sự công bằng cho người lao động của người xưa.
Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn chương đều là tình cảm, là lòng vị tha. Và vì thế, công dụng của văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha.[.. ]
Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẳn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần.
Có kẻ nói từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ trông mới đẹp; từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay. Lời ấy tưởng không có gì là quá đáng.
b. Công dụng của văn chương
CÂU HỎI THẢO LUẬN NHÓM THEO BÀN
Thời gian thảo luận

3 p
Theo Hoài Thanh, công dụng của văn chương là gì? Hãy nêu công dụng của văn chương?
30
29
28
27
26
25
24
23
22
21
20
19
19
18
17
16
15
14
13
12
11
10
10
9
8
7
6
5
4
3
2
1
0
Hết giờ
Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn chương đều là tình cảm, là lòng vị tha. Và vì thế, công dụng của văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha.[.. ]
Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẳn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần.
Có kẻ nói từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ trông mới đẹp; từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay. Lời ấy tưởng không có gì là quá đáng.
b. Công dụng của văn chương
[…] Nếu trong pho lịch sử loài người xóa các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xóa hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến bậc nào!...
=> Đời sống tinh thần nhân loại nếu thiếu văn chương sẽ rất nghèo nàn.
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật:
- Lập luận chặt chẽ, vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc và hình ảnh.
2. Nội dung
Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm, là lòng vị tha.
Văn chương là hình ảnh của sự sống muôn hình vạn trạng và sáng tạo ra sự sống, gây những tình cảm không có, luyện những tình cảm sẵn có.
Đời sống tinh thần nhân loại nếu thiếu văn chương sẽ rất nghèo nàn.
1. Học thuộc và nắm chắc phần ghi nhớ SKG trang 63.
2. Làm phần luyện tập và đọc bài đọc thêm SGK trang 63-64.
3. Tiếp tục tìm dẫn chứng làm sáng tỏ các luận điểm của bài văn.
4. Viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về sự
cần thiết của văn chương…
5. Chuẩn bị bài “chuyển câu chủ động thành câu bị động”.
HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ
 
Gửi ý kiến