Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Hôn nhân và trầu cau

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đào Phương
Ngày gửi: 07h:23' 02-08-2021
Dung lượng: 16.5 MB
Số lượt tải: 62
Số lượt thích: 0 người
PHONG TỤC TẬP QUÁN
(Hôn nhân và trầu cau)
Nhóm 2
Phong tục là gì?
Phong tục là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió, tục: thói quen; phong tục là thói quen lan rộng).
Phong tục hôn nhân
—Phong tục hôn nhân
Dân gian coi cưới xin là một trong ba việc lớn của đời người (sự nghiệp, làm nhà và cưới vợ) khi nhấn mạnh trong câu ca dao: "tậu trâu cưới vợ làm nhà...“ 
Cái gốc của gia-đình gọi là hôn nhân. Có hôn nhân mới có vợ chồng và con cái
HÔN NHÂN LÀ GÌ?
“Hôn” có nghĩa là bố mẹ nàng dâu, “nhân” có nghĩa là bố mẹ chàng rể. Nghĩa tổng-quát của từ “hôn nhân” là cưới xin.
CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH HÔN NHÂN
(kén chọn)
(hỏi vợ)
(bói được tốt)
(định ngày)
(đưa đồ sính lễ)
(rước dâu)
Lễ nạp thái
Lễ vấn danh
Lễ nạp cát
Lễ Thỉnh kỳ
Lễ nạp tệ
Lễ thân nghinh
Từ đầu TK XX đến nay, hôn nhân được đơn giản thành 3 lễ sau:
Lễ chạm ngõ
Lễ ăn hỏi
Lễ cưới

Khi đã làm Lễ Cưới ở nhà, nếu sau đó không nhờ nhà thờ hay nhà chùa chính thức làm Lễ Cưới thì phải đến khai tại cơ quan chính quyền địa phương để xin tờ giá thú (hôn-thú hay hôn-thư).
Quyền lợi gia tộc
02
Hôn nhân là việc xác lập quan hệ giữa hai gia tộc theo kiểu môn đăng hộ đối.
Hôn nhân là công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nhân lực.
Lựa chọn đặc điểm thiên về cơ thể, sức khỏe, khả năng sinh sản.
Không chỉ để duy trì dòng giống, người con (dâu, rể) phải có trách nhiệm làm lợi cho gia đình.
Con gái phải đảm đang, tháo vát, đem lại nguồn lợi vật chất cho nhà chồng. Con trai phải giỏi giang, đem lại vẻ vang cho gia đình nhà vợ

Quyền lợi gia tộc
QUYỀN LỢI CỦA LÀNG XÃ
03
QUYỀN LỢI CỦA LÀNG XÃ
Xu hướng chọn vợ, chồng cùng làng nhằm duy trì sự ổn định của làng xã. .
Từ đó có quan niệm: ruộng đầu chợ, vợ giữa làng hay câu lấy chồng khó giữa làng, hơn lấy chồng sang thiên hạ. Ta về ta tắm ao ta dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.  
 
Tục nộp cheo.
Đối với người cùng làng lấy nhau thì nộp cheo chỉ mang tính chất tượng trưng, còn đối với người ngoài làng thì cheo rất nặng.
PHÁP CHẾ
Điều lệ Hương Đảng do vua Gia Long ban hành năm 1804, khoản về giá thú đã dẫn câu từ sách cổ:
"Hôn lễ là mối đầu của đạo người", "Giá thú mà bàn của cải là thói quen mọi rợ"

Và quy định:
"Đại phàm lấy vợ lấy chồng, chẳng qua cốt được cặp đôi mà thôi, còn lễ cưới thì nên châm chước trong sáu lễ, lượng tuỳ nhà có hay không, chứ không được viết khế cố ruộng. Hương trưởng thu tiền cheo trong lễ cưới thì người giàu 1 quan 2 tiền, người vừa 6 tiền, người nghèo 3 tiền, người làng khác thì gấp đôi...".
Đám cưới đầu TK XX
NHU CẦU RIÊNG TƯ
04
Sự phù hợp của đôi trai gái.
Để cho quan hệ vợ chồng được bền vững.

Thể hiện bằng việc hỏi tuổi (lễ vấn danh, mà ngày nay gọi là chạm ngõ, hay lễ dạm) xem đôi trai gái có hợp tuổi nhau hay không, còn nếu xung khắc thì thôi.
NHU CẦU RIÊNG TƯ
Quan hệ mẹ chồng - nàng dâu cũng rất được chú ý.
PHONG TỤC ĐÁM CƯỚI NGÀY NAY
05
Cưới xin là một tập quán không thể thiếu trong chu kì vòng đời của mỗi con người. Ở đó chứa đựng, thể hiện bản sắcvăn hoá của tộc người đó.

Ngày nay phong tục hôn nhân cũng đã có nhiều thay đổi, nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc
PHONG TỤC CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ HUYỆN NA HANG TỈNH TUYÊN QUANG
Người Dao đỏ được tự do tìm hiểu, yêu đương.
Khi ưng nhau rồi thì về thông báo với gia đình tìm người làm mai mối sang nhà gái hỏi vợ. Nhưng làm lễ cưới thì nhất nhất phải tuân theo tục lệ lâu đời của người Dao đỏ.
Khi người con trai quý mến thiếu nữ nào đó, sẽ nói với cha mẹ sang nhà cô gái để thưa chuyện. Nếu bố mẹ cô gái đồng ý, nhà trai tiếp tục sang xin “mệnh”, lấy ngày tháng, năm sinh của cô gái về nhờ thầy xem có hợp nhau hay không. Mọi điều đều thuận lợi, nhà trai sẽ chọn ngày lành tháng tốt mang lễ vật, trong đó có chỉ thêu sang nhà gái xin hỏi dâu.

Nhà trai mang gà, rượu, thịt sang nhà gái đưa đồng bạc trắng, tuỳ từng địa phương số tiền thách cưới là 1, 20 hoặc 30 đồng bạc hoa xoè. Số bạc này nhà gái dùng để chuẩn bị quần áo, tư trang để cô dâu về nhà chồng.
Từ khi ăn hỏi đến khi cưới khoảng 1 năm để cô gái có thời gian thêu thùa quần, áo cưới
Trước giờ đưa dâu, một nghi lễ cúng tế được thực hiện, cô dâu từ buồng ra mặc trang phục ngày cưới, cổ và tay đeo vòng bạc, trên đầu chùm chiếc khăn đỏ to che kín mặt, đứng trước bàn thờ để thầy làm lễ, phù phép.
Trên đường đi qua các bản, người thổi kèn thổi các bài ca chào bản chào mường, mừng cưới theo điệu vui vẻ.
PHONG TỤC TRẦU CAU
Người Việt từ xưa có thói quen ăn trầu trở thành phong tục.
Tục ăn trầu tương truyền có từ thời Hùng Vương và gắn liền với một chuyện cổ tích nổi tiếng (chuyện trầu cau). Miếng trầu gồm 4 thứ nguyên liệu: cau (vị ngọt), lá trầu không (vị cay), rễ (vị đắng) và vôi (vị nồng). Ăn trầu thể hiện nếp sinh hoạt mang đậm tính dân tộc độc đáo của Việt Nam. Sách xưa ghi rằng ăn trầu làm thơm miệng, hạ khí, tiêu cơm.

Trầu cau là biểu hiện của phong cách, vừa là thể hiện tình cảm dân tộc độc đáo. Miếng trầu thắm têm vôi nồng cùng cau bổ tám bổ tư , vỏ chay rể quạch luôn là sự bắt đầu, sự khơi mở tình cảm. Làm người với người gần gũi, cởi mở với nhau hơn.
Suốt mấy ngàn năm, Trầu cau thông dụng trong các giao tiếp giữa mọi người, được dùng kèm với rượu trắng để cúng tế. Nghi thức quan trọng nhất như Tế, Lễ, Tết, Cưới, Hỏi..., dùng để mời mọc thông thường dân giã, để đầu một câu chuyện:
”Miếng trầu là đầu câu chuyện”
—MỜI TRẦU
Mời trầu là tục lệ trong giao thiệp, đối xử thường ngày, nên dù ăn được hay không cũng chẳng ai nỡ chối từ, cứ cầm lấy đấy, đem về cho người khác.
MỜI TRẦU
Mời trầu trực tiếp chứ không “ăn trầu cách mặt”
“Tiện đây ăn một miếng trầu,
Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là?”

“Gặp nhau ăn một miếng trầu,
Gọi là nghĩa cũ ngày sau mà nhìn.”
Có ghét nhau cũng vẫn ra vẻ lịch sự.
“Yêu nhau cau sáu bổ ba,
Ghét nhau cau sáu bổ ra thành mười.”
Người con trai chủ động
Người con gái bạo dạn mười trầu
Trầu cau trong tình duyên đôi lứa
“Sáng nay tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn,
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Thưa rằng tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn..."
“Trầu này trầu quế trầu ca,
Trầu loan trầu phượng, trầu ta lấy mình
Trầu này trầu nghĩa trầu tình
Trầu loan trầu phượng, trầu mình lấy ta.
Trầu này têm tối hôm qua,
Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng.”
Khi trai gái đã bén nhau rồi thì Trầu Cau cũng cầu kỳ hơn một chút:

“Trầu vàng nhá lẫn cau xanh,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.”
Và rồi tình yêu trai gái cũng sẽ lớn dần theo thời gian:

“Từ ngày ăn phải miếng trầu,
Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu.”
Bởi Trầu Cau là miếng ăn, là biểu tượng cho sự tôn kính dùng trong các lễ Tế Thần, Lễ Gia Tiên, Lễ Tang, Lễ Hỏi, Lễ Cưới, Lễ Khao Thọ, Lễ Vinh Qui Bái Tổ, Lễ Mừng....:

“Túi vóc cho lẫn quần hồng,
Têm trầu cánh quế cho chồng đi thi.
Mai sau chồng đỗ vinh qui,
Ngựa anh đi trước, em thì võng sau.”
CHỌN TRẦU CAU
Người Việt khi ăn trầu thì chọn lá trầu vàng (không phải trầu úa), cau lại phải xanh chứ không vàng (cau vàng là cau đã già, hột cứng, khó nhai).
Có khi người ăn trầu ăn cả cau non cho ngọt hơn và sang hơn.
Cách bổ cau, têm trầu, bầy trầu để dâng cúng trong việc tế lễ rõ ràng là đã có thời kỳ diễn tả nghi thức của Việt Đạo.
TÊM TRẦU
Têm trầu cũng phải có mỹ thuật

Lễ Cưới thường có “Trầu têm cánh phượng”, có “Cau róc vỏ trổ hoa”, nhất là phải dùng dao sắc vì “Cau già dao sắc thì ngon”.

Vả lại lúc bổ cau, cũng cần bàn tay khéo léo:
“Cau già khéo bổ thì ngon,
Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa.”
BẦY TRẦU
Khi bầy trầu trên đĩa, hạt cau phải sóng hàng, chầu vào giữa; đĩa trầu bầy 5 miếng hoặc 10 miếng, khi đưa mời khách phải bưng cơi trầu bằng 2 tay.
Lễ Gia Tiên thì trầu têm, nhưng Tế Lễ Thiên Thần, Quốc Tổ, thì phải để 3 lá trầu nguyên vẹn, phết một tí vôi lên đuôi lá và 3 quả cau cũng để nguyên (Trong dịp Tết Nguyên Đán hay Giỗ-Tổ, Lễ Thánh, ngay như Bánh-Chưng Bánh-Dầy cũng không được bóc hay cắt ra), cũng như phải dùng rượu trắng mà cúng (chân thật, chất phác là ở đó).
NHUỘM RĂNG
Để răng ăn trầu không bị hư và không bị ố, người Việt có tục nhuộm răng đen. Thời ấy hàm răng đen như huyền thì sang trọng quý phái.
Tục nhuộm răng đen (là một tiến trình rất cầu kỳ) và ăn trầu còn dự phần trong “y-khoa phòng ngừa” và đó là một trong những nét văn-hóa đặc thù của Tộc Bách Việt ta từ rất lâu đời. Thế nên, trong lời hiệu triệu tướng sĩ đánh quân Thanh, Vua Quang-Trung viết:

“Đánh cho để tóc dài, đánh cho để đen răng...”
"Mình về mình nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen." 
CÁCH ĂN TRẦU
CAU
VÔI
RỄ CHAY
THUỐC LÀO
Nét đẹp của giá trị văn hóa trầu cau, của giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống, của triết lý và giao tiếp Việt Nam truyền thống... Theo dấu người xưa, theo cái đẹp truyền thống giao tiếp, là cốt ở tinh thần triết lý sống của nó.
Trần Quốc Vượng

Lưu lại tục lệ Ăn Trầu cho chắc răng thơm miệng, kèm theo câu chuyện Tân và Lang, Tổ Tiên ta có ý nhắn gởi con cháu hãy khéo điều hòa tình cảm giữa anh em (gia-đình lớn) và vợ chồng  (gia-đình nhỏ, gia-đình hạt nhân).
Cho tới ngày nay, tuy tục ăn trầu và mời trầu ít phổ biến như xưa lá trầu vẫn mang một ý nghĩa sâu xa nhất định trên nhiều lĩnh vực như y học, tâm lý xã hội, bản sắc truyền thống dân tộc, …Trầu cau chỉ là một thứ nhai chơi, tuy đơn sơ nhưng vẫn là thứ không thể thiếu trong việc giao hiếu, kết thân, lễ tế, cưới hỏi, bởi miếng trầu đã mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam.Những vật dụng dùng trong tục ăn trầu giờ đây đã trở thành di sản của một phong tục tập quán tốt đẹp được lưu giữ mãi trong mỗi người Việt chúng ta.

 
Gửi ý kiến