Bài 4. Các quốc gia cổ đại Phương Đông

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thế Nam
Ngày gửi: 14h:53' 20-10-2021
Dung lượng: 996.2 KB
Số lượt tải: 332
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thế Nam
Ngày gửi: 14h:53' 20-10-2021
Dung lượng: 996.2 KB
Số lượt tải: 332
Số lượt thích:
0 người
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
Bản đồ nhà nước Ấn Độ cổ đại
Lễ hội sông Hằng
Tắm nước sông Hằng (Cum Me ta) là một trong những lễ hội tôn giáo lớn nhất thế giới. Tín đồ Ấn Độ giáo tin tưởng nước ở sông Hằng (sông Mẹ) linh thiêng sẽ tây rửa mọi tội lỗi của họ.
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện tự nhiên
BIỂN A-RÁP
VỊNH BEN-GAN
DÃY HI-MA-LAY-A
ĐB. sông Ấn và sông Hằng
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện tự nhiên
- Ấn Độ là một bán đảo nằm trên trục đường biển từ Tây sang Đông.
- Phía bắc là vòng cung khổng lồ của dãy Hi-ma-lay-a thoải dần về phía nam là các đồng bằng sông Ấn, sông Hằng rộng lớn.
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện tự nhiên
BIỂN A-RÁP
VỊNH BEN-GAN
DÃY HI-MA-LAY-A
ĐB. sông Ấn và sông Hằng
Cao nguyên
ĐỀ-CAN
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện tự nhiên
- Ấn Độ là một bán đảo nằm trên trục đường biển từ Tây sang Đông.
- Phía bắc là vòng cung khổng lồ của dãy Hi-ma-lay-a thoải dần về phía nam là các đồng bằng sông Ấn, sông Hằng rộng lớn.
- Miền Trung và miền Nam là cao nguyên Đê- can với rừng rậm và núi đá. Vùng cực Nam và dọc theo hai bờ biển là những đồng bằng nhỏ hẹp.
- Lưu vực sông Ấn khí hậu khô nóng, ít mưa. Lưu vực sông Hằng có lượng mưa nhiều, cây cối tươi tốt.
Khai thác lược đồ trên và thông tin trong mục 1, hãy cho biết nét chính về điều kiện tự nhiên của lưu vực sông Ấn, sông Hằng, ảnh hưởng đến sự hình thành văn minh Ấn Độ.
Sông Ấn
Sông Hằng
Ấn Độ là một bán đảo ở Nam Á, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dãy Himalaya nổi tiếng. Ấn Độ chia làm hai miền Nam, Bắc lấy dãy núi Vinđya làm ranh giới. Miền Bắc Ấn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange)
Nét chính về điều kiện tự nhiên của sông Ấn và sông Hằng ảnh hưởng đến nền văn minh Ấn Độ:
Sông Ấn chia làm 5 nhánh, nên đồng bằng lưu vực sông Ấn được gọi là vùng Pungiáp (vùng Năm sông). Tên nước Ấn Độ là gọi theo tên con sông này. Sông Hằng ở phía Đông được coi là một dòng sông thiêng.
Sông Ấn chia làm 5 nhánh, nên đồng bằng lưu vực sông Ấn được gọi là vùng Pungiáp (vùng Năm sông).
Tên nước Ấn Độ là gọi theo tên con sông này: Sông Ấn
Ở thời cổ trung đại, phạm vi địa lí của nước Ấn Độ bao gồm cả các nước Pakixtan, Bănglađét và Nêpan ngày nay. Địa hình Lãnh thổ Ấn Độ chiếm một phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ, nằm trên Mảng kiến tạo Ấn Độ (India Plate), phần phía bắc Mảng kiến tạo Ấn-Úc, phía nam Nam Á. Các bang phía bắc và đông bắc Ấn Độ nằm một phần trên dãy Himalaya. Phần còn lại ở phía bắc, trung và đông Ấn gồm đồng bằng Ấn-Hằng phì nhiêu. Ở phía tây, biên giới phía đông nam Pakistan, là Sa mạc Tha. Miền nam Bán đảo Ấn Độ gồm toàn bộ đồng bằng Deccan, được bao bọc bởi hai dãy núi ven biển, Tây Ghats và Đông Ghats.
BẢN ĐỒ ẤN ĐỘ
Lưu vực sông Ấn chịu tác động của sa mạc nên rất hiếm mưa, khí hậu khô nóng. Ở lưu vực sông Hằng, do tác động của gió mùa nên lượng mưa nhiều, cây cối tươi tốt.
Miền Trung và miền Nam là cao nguyên Đề-can với rừng rậm và núi đá hiểm trở. Chỉ có mỏm cực Nam và dọc theo hai bờ ven biển là những đồng bằng nhỏ hẹp, là nơi quần cư tương đối thuận lợi và đông đúc => là cơ sở dẫn đến sự hình thành nền văn minh Ấn Độ
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
2. Chế độ xã hội ở Ấn Độ cổ đại
- Khoảng 2500TCN, người Đra-vi-đa xây dựng các thành thị đầu tiên dọc theo hai bờ sông Ấn.
- Giữa thiên niên kỉ II TCN, người A-ri-a từ Trung Á tràn vào miền Bắc Ấn Độ xua đuổi người Đra-vi-đa thành lập chế độ đẳng cấp Vác-na (hình 3).
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
2. Chế độ xã hội ở Ấn Độ cổ đại
Đẳng cấp thứ nhất
là Bra-man tức
Bà-la-môn, gồm
những người da
trắng đều là tăng lữ
(quý tộc chủ trì việc
tế lễ đạo Bà-la-môn),
họ là chúa tể, có địa
vị cao nhất.
Đẳng cấp thứ hai
là Ksa-tri-a gồm
tầng lớp quý tộc,
vương công và vũ
sĩ, có thể làm vua
và các thứ quan lại.
.Đẳng cấp thứ ba
là Vai-xi-a gồm đại
đa số là nông dân,
thợ thủ công và
thương nhân, họ
phải nộp thuế cho
nhà nước, cung
phụng cho đẳng
cấp Bra-man và
Ksa-tri-a.
Đẳng cấp thứ tư
là Su-dra gồm đại
bộ phận là cư dân
bản địa bị chinh
phục, nhiều người
là nô lệ, là kẻ tôi tớ
đi làm thuê làm
mướn.
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
2. Chế dộ xã hội ở Ấn Độ cổ đại
- Chế độ đẳng cấp Vác-na gồm 4 đẳng cấp:
+ Bra-ma: Tăng lữ – Quý tôc.
+ Ksa-tri-a: Vương công – Vũ sĩ.
+ Vai-si-a: Nông dân, thợ thủ công, thương nhân.
+ Su-đra: Những người có địa vị thấp kém.
SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
Bản đồ nhà nước Ấn Độ cổ đại
Lễ hội sông Hằng
Tắm nước sông Hằng (Cum Me ta) là một trong những lễ hội tôn giáo lớn nhất thế giới. Tín đồ Ấn Độ giáo tin tưởng nước ở sông Hằng (sông Mẹ) linh thiêng sẽ tây rửa mọi tội lỗi của họ.
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện tự nhiên
BIỂN A-RÁP
VỊNH BEN-GAN
DÃY HI-MA-LAY-A
ĐB. sông Ấn và sông Hằng
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện tự nhiên
- Ấn Độ là một bán đảo nằm trên trục đường biển từ Tây sang Đông.
- Phía bắc là vòng cung khổng lồ của dãy Hi-ma-lay-a thoải dần về phía nam là các đồng bằng sông Ấn, sông Hằng rộng lớn.
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện tự nhiên
BIỂN A-RÁP
VỊNH BEN-GAN
DÃY HI-MA-LAY-A
ĐB. sông Ấn và sông Hằng
Cao nguyên
ĐỀ-CAN
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1. Điều kiện tự nhiên
- Ấn Độ là một bán đảo nằm trên trục đường biển từ Tây sang Đông.
- Phía bắc là vòng cung khổng lồ của dãy Hi-ma-lay-a thoải dần về phía nam là các đồng bằng sông Ấn, sông Hằng rộng lớn.
- Miền Trung và miền Nam là cao nguyên Đê- can với rừng rậm và núi đá. Vùng cực Nam và dọc theo hai bờ biển là những đồng bằng nhỏ hẹp.
- Lưu vực sông Ấn khí hậu khô nóng, ít mưa. Lưu vực sông Hằng có lượng mưa nhiều, cây cối tươi tốt.
Khai thác lược đồ trên và thông tin trong mục 1, hãy cho biết nét chính về điều kiện tự nhiên của lưu vực sông Ấn, sông Hằng, ảnh hưởng đến sự hình thành văn minh Ấn Độ.
Sông Ấn
Sông Hằng
Ấn Độ là một bán đảo ở Nam Á, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dãy Himalaya nổi tiếng. Ấn Độ chia làm hai miền Nam, Bắc lấy dãy núi Vinđya làm ranh giới. Miền Bắc Ấn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange)
Nét chính về điều kiện tự nhiên của sông Ấn và sông Hằng ảnh hưởng đến nền văn minh Ấn Độ:
Sông Ấn chia làm 5 nhánh, nên đồng bằng lưu vực sông Ấn được gọi là vùng Pungiáp (vùng Năm sông). Tên nước Ấn Độ là gọi theo tên con sông này. Sông Hằng ở phía Đông được coi là một dòng sông thiêng.
Sông Ấn chia làm 5 nhánh, nên đồng bằng lưu vực sông Ấn được gọi là vùng Pungiáp (vùng Năm sông).
Tên nước Ấn Độ là gọi theo tên con sông này: Sông Ấn
Ở thời cổ trung đại, phạm vi địa lí của nước Ấn Độ bao gồm cả các nước Pakixtan, Bănglađét và Nêpan ngày nay. Địa hình Lãnh thổ Ấn Độ chiếm một phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ, nằm trên Mảng kiến tạo Ấn Độ (India Plate), phần phía bắc Mảng kiến tạo Ấn-Úc, phía nam Nam Á. Các bang phía bắc và đông bắc Ấn Độ nằm một phần trên dãy Himalaya. Phần còn lại ở phía bắc, trung và đông Ấn gồm đồng bằng Ấn-Hằng phì nhiêu. Ở phía tây, biên giới phía đông nam Pakistan, là Sa mạc Tha. Miền nam Bán đảo Ấn Độ gồm toàn bộ đồng bằng Deccan, được bao bọc bởi hai dãy núi ven biển, Tây Ghats và Đông Ghats.
BẢN ĐỒ ẤN ĐỘ
Lưu vực sông Ấn chịu tác động của sa mạc nên rất hiếm mưa, khí hậu khô nóng. Ở lưu vực sông Hằng, do tác động của gió mùa nên lượng mưa nhiều, cây cối tươi tốt.
Miền Trung và miền Nam là cao nguyên Đề-can với rừng rậm và núi đá hiểm trở. Chỉ có mỏm cực Nam và dọc theo hai bờ ven biển là những đồng bằng nhỏ hẹp, là nơi quần cư tương đối thuận lợi và đông đúc => là cơ sở dẫn đến sự hình thành nền văn minh Ấn Độ
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
2. Chế độ xã hội ở Ấn Độ cổ đại
- Khoảng 2500TCN, người Đra-vi-đa xây dựng các thành thị đầu tiên dọc theo hai bờ sông Ấn.
- Giữa thiên niên kỉ II TCN, người A-ri-a từ Trung Á tràn vào miền Bắc Ấn Độ xua đuổi người Đra-vi-đa thành lập chế độ đẳng cấp Vác-na (hình 3).
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
2. Chế độ xã hội ở Ấn Độ cổ đại
Đẳng cấp thứ nhất
là Bra-man tức
Bà-la-môn, gồm
những người da
trắng đều là tăng lữ
(quý tộc chủ trì việc
tế lễ đạo Bà-la-môn),
họ là chúa tể, có địa
vị cao nhất.
Đẳng cấp thứ hai
là Ksa-tri-a gồm
tầng lớp quý tộc,
vương công và vũ
sĩ, có thể làm vua
và các thứ quan lại.
.Đẳng cấp thứ ba
là Vai-xi-a gồm đại
đa số là nông dân,
thợ thủ công và
thương nhân, họ
phải nộp thuế cho
nhà nước, cung
phụng cho đẳng
cấp Bra-man và
Ksa-tri-a.
Đẳng cấp thứ tư
là Su-dra gồm đại
bộ phận là cư dân
bản địa bị chinh
phục, nhiều người
là nô lệ, là kẻ tôi tớ
đi làm thuê làm
mướn.
Tiết 14 - Bài 8: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
2. Chế dộ xã hội ở Ấn Độ cổ đại
- Chế độ đẳng cấp Vác-na gồm 4 đẳng cấp:
+ Bra-ma: Tăng lữ – Quý tôc.
+ Ksa-tri-a: Vương công – Vũ sĩ.
+ Vai-si-a: Nông dân, thợ thủ công, thương nhân.
+ Su-đra: Những người có địa vị thấp kém.
 







Các ý kiến mới nhất