Bài 1. Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thanh Hải
Ngày gửi: 15h:54' 23-10-2021
Dung lượng: 20.0 MB
Số lượt tải: 112
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thanh Hải
Ngày gửi: 15h:54' 23-10-2021
Dung lượng: 20.0 MB
Số lượt tải: 112
Số lượt thích:
0 người
TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Hiểu được những kiến thức cơ bản về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, tài thao lược đánh giặc của ông cha.
- Có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, có thái độ học tập và rèn luyện tốt, sẵn sàng tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Từ thuở các vua Hùng dựng nước Văn Lang cách đây hàng nghìn năm lịch sử dân tộc VN bước vào thời kì dựng nước và giữ nước.
- Nhà nước Văn Lang là nhà nước đầu tiên của đan tộc ta. Lãnh thổ Văn Lang khá rộng và ở vào vị trí quan trọng, nằm trên đầu mối những đường giao thông qua bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Từ buổi đầu, ông cha ta đã xây dựng nên nền văn minh sông Hồng, còn gọi là văn minh Văn Lang mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn rực rỡ, là thành quả tự hào của người Việt thời kỳ Hùng Vương.
- Do vị trí địa lí và điều kiện kinh tế, nước ta luôn bị các thế lực ngoại xâm nhòm ngó. Các thế lực bành trướng phương Bắc sớm âm mưu thôn tính nước ta đễ mỡ rộng lãnh thỗ của chúng.
- Do đó, yêu cầu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập đã sớm xuất hiện trong lịch sử dân tộc ta. Người Việt muốn tồn tại, bảo vệ cuộc sống và nền văn hóa của mình chỉ còn con đường đoàn kết dân tộ, đứng lên đánh giặc, giữ nước.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên mà sử sách ghi lại là cuộc kháng chiến chống quân Tần.
- Năm 214 trước Công nguyên, nhà tần mang quân sang xâm lược nước ta. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của vua Hùng và sau đó là Thục Phán đứng lên kháng chiến
Vua Hùng
Tần Thủy Hoàng
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Thục Phán, một thủ lĩnh người Âu Việt, lập ra nhà nước Âu Lạc, dời đô từ Lâm Thao (Phú Thọ) về Cổ Loa (Hà Nội). Nhà nước Âu Lạc kế thừa nhà nước Văn Lang trên mọi lĩnh vực.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Sau cuộc kháng chiến chống quân Tần, cuộc kháng chiến của nhân dân Âu Lạc do An Dương Vương lãnh đạo chống quân xâm lược Triệu Đà từ năm 184 đến năm 179 trước Công nguyên bị thất bại. Từ đây, đất nước ta rơi vào thảm họa hơn một nghìn năm phong kiến phương Bắc đo hộ, sử gọi là thời kì Bắc thuộc.
Triệu Đà
An Dương Vương
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (tk I – tk X)
- Dưới ách thống trị của chính quyền đô hộ, trải qua nhiều triều đại, phong kiến phương Bắc luôn tìm cách vơ vét của cải, áp bức và đồng hóa dân ta, biến nước ta thành quận, huyện của chúng.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (tk I – tk X)
- Dân ta quyết không chịu khuất phục, đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường và bền bỉ chống áp bức, bóc lột, giữ gìn bản sắc dân tộc và quyết tâm đứng lên đấu tranh giành độc lập, tự do.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (tk I – tk X)
Hai bà Trưng (40)
Bà Triệu (248)
Lý Bí (542)
Mai Thúc Loan (722)
Phùng Hưng (766)
Khúc Thừa Dụ (905)
Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa:
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (tk I – tk X)
- Năm 906, nhân dân ta đã dành lại quyền tự chủ.
- Tiếp đó,là hai cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán xâm lược dưới sự lảnh đạo của:
Dương Đình nghệ (931)
Ngô Quyền (938)
- Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938, dân tộc ta dành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Sau khi chiến thắng ngoại xâm, Ngô Quyền lên ngôi vua, bắt tay vào xây dựng nhà nước độc lập.Từ đó,trải qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ và Lê sơ (tk X đến tk XV), quốc gia thống nhất ngày càng được cũng cố. Nước Đại Việt thời Lí, Trần và Lê sơ với kinh đô Thăng Long (Hà Nội) là một quốc gia cường thịnh ở châu Á, là một trong những thời kì phát triển rực rỡ nhất, thời kì văn minh Đại Việt.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Tuy nhiên, trong giai đoạn này, dân tộc ta vẫn phải đứng lên đấu tranh chống xâm lược:
Năm 981, dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn, nhân dân ta đánh tan quân xâm lăng lần thứ nhất của quân Tống. Thế kỉ XI, dưới triều Lí, dân tộc ta một lần nữa lại dành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075-1077).
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Thế kỉ XIII, trong 30 năm (1258-1288) dân tộc ta đã chiến thắng oanh liệt cả ba lần chống quân Nguyên-Mông.Những chiến thắng lãy lừng ở Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kiết, Vạn Kiếp và Bạch Đằng mãi được lưu truyền trong sử sách, là niềm kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Đầu thế kỉ XV, nước ta bị quân Minh xâm lược, nhà Hồ lãnh đạo kháng chiến không thành công. Tuy vậy, phong trào yêu nước vẫn phát triển rộng khắp. Nổi bật là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Sau 10 năm chiến đấu kiên cường, anh dũng và mưu trí, nhân dân cả nước đã giành được thắng lợi oanh liệt, kết thúc bằng thắng lợi của trận Chi Lăng-Xương Giang năm 1427.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Cuối thế kỉ XVIII, dân tộc ta lại hai lần chống giặc ngoại xâm.Năm 1785, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy tài tình của Nguyễn Huệ đã lập nên chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút, đánh tan 5 vạn quân Xiêm. Đầu năm Kỉ Dậu (1789) quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ lại đánh bại 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh cùng bè lũ Lê Chiêu Thống bán nước. Lịch sử dân tộc đã ghi thêm một trang sử hào hùng với chiết công bất diệt: chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
Trong những cuộc chiến tranh giữ nước từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, nhân dân ta dưới sự chỉ huy của các vị tướng tài giỏi đã thực hiện toàn dân đánh giặc;biết dựa vào địa hình, địa thế có lợi cho ta, bất lợi cho địch.
Vận dụng “vườn không nhà trống” và mọi cách đánh phù hợp làm cho địch đi đến đâu cũng bị đánh, bị tiêu hao, tiêu diệt.Nét đặc sắc nghệ thuật quân sự của ông cha ta trong các cuộc chiến tranh giữ nước kể trên là tích cực, chủ động tiens công địch.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Điển hình như Lí Thường Kiệt (năm 1075) đã dùng biện pháp “tiên phát chế nhân” (không ngồi chờ giặc đến mà chủ động đánh trước vào hậu phương địch rồi rút lui để phá vỡ kế hoạch của chúng); lấy đoản binh thắng trường trận; “yếu chống mạnh hay đánh bất ngờ, ít địch nhiều thường dùng mai phục”.
- Đến thời vua Quang Trung năm 1788-1789, đã thực hiện lúc địch mạnh ta có thể lui quân để bảo toàn lực lượng, lúc địch suy yếu ta bất ngờ chuyển sang đánh đòn quyết định tiêu diệt địch trong một thời gian ngắn.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lậy đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
- Tháng 9 – 1958, thực dân Pháp nổ súng tiến công Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lậy đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
- Triều Nguyễn từng bước đầu hàng giặc và đến năm 1884 thì hoàn toàn công nhận quyền đô hộ của Pháp trên toàn nước ta.
- Khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, nhưng thực dân Pháp đã vấp phải phong trao kháng chiến sôi nổi và bền bỉ của nhân dân ta từ Bắc đến Nam.
Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa do:
Trương Công Định
Nguyễn Trung Trực
Đinh Công Tráng
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lậy đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa do:
Phan Đình Phùng
Hoàng Hoa Thám
Phong trao yêu nước đầu thế kỉ XX phát triển sôi nổi, nhưng cuối cùng đều thất bại. Nguyên nhân cơ bản là do thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến và chưa có đường lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện mới của thời đại.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
Năm 1930, ĐCS VN thành lâp
- Năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân do lãnh tụ: Nguyễn Ái Quốc sáng lập, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
PT Xô Viết- Nghệ tĩnh
(1930-1931)
PT đòi tự do cơm áo, hòa bình (1936-1939)
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng nước ta trải qua các cao trào:
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
- Đỉnh cao là thắng lợi rực rỡ của các mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
- Không chịu từ bỏ dã tâm cai trị nước ta, ngày 23-9-1945, được quân Anh giúp sức, thực dân Pháp lại tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Nam Bộ anh dũng đứng lên chiến đấu chống thưc dân Pháp xâm lược.
- Trong điều kiện nước ta còn nhiều khó khăn, phải đánh với nhiều kẻ thù cùng một lúc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sách lược tài tình, khéo lợi dụng mâu thuẫn nội bộ của địch, tranh thủ hòa hoãn với Pháp, đẩy nhanh 20 vạn quân Tưởng về nước để chuẩn bị kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Nhưng “chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới”. Ngày 19-12-1946, trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
- Cả dân tộc hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhất tề đứng lên, đoàn kết chặt chẽ, quyết chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.
- Từ năm 1947 – 1954, quân dân ta đã lập được nhiều chiến công, làm thất bại nhiều cuộc hành binh lớn của Pháp trên khắp các mặt trận.
Tiêu biểu là chiến thắng:
Biên giới (1950)
Đông Xuân (1953-1954)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã giáng một đòn quyết định, đánh bại chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mĩ, buộc Pháp phải kí hiệp định Giơne vơ năm 1954, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Thắng lợi của nhân dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp là do có đường lối kháng chiến độc lặp và tự chủ, vận dụng tư tưởng quân sự lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, động viên, tổ chức lực lượng toàn dân đánh giặc, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, dánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc chống giặc ngoại xâm
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
- Đế quốc Mĩ phá hoại hiệp định Giơne vơ, hất cẳng Pháp để độc chiếm miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và là căn cứ quân sự của Mĩ, nhằm chia cắt lâu dài nước ta.
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Từ năm 1959 -1960, phong trào đồng khởi ở miền Nam bùng nổ và lan rộng. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập.
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Từ năm 1961 – 1965, quân và dân ta đã đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ.
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Từ năm 1965 -1968 ,Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam, đồng thời, tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc.
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, quân và dân cả nước đánh thắng Mĩ ngay từ trận đầu ở cả hai miền Nam, Bắc. Cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân năm 1968 trên toàn lãnh thỗ miền Nam làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mĩ phải xuống thang, chấp nhận đàm phán với ta ở hội nghị Pari (Pháp).
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Để cứu vãn thất bại, Mĩ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh sang Lào và Cam-pu-chia. Quân và dân ba nước Đông Dương dẫ kề vai sát cánh cùng nhau chiến đấu đánh bại các cuộc hành quân của Mĩ – Ngụy sang Cam-pu-chia và đương 9 – Nam Lào
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Cùng với thắng lợi ở chiến trường miền Nam, năm 1972 miền Bắc đã dánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari, công nhận độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Hiệp định Pari
5. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Đại thắng mùa xuân năm 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn 100 năm của chủ nghĩa thực dân, đế quốc ở Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược là cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
- Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, mọi tinh hoa truyền thống đánh giặc, giữ nước qua mấy nghìn năm của dân tộc ta đã được vận dụng một cách sáng tạo.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao; vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành chiến tranh giải phóng miền Nam, gắn cuộc kháng chiến của nhân dân ta với phong trào các mạng thế giới; triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ địch để tăng cường lực lượng cách mạng;
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
Đã kết hợp nhuần nhuyễn giữ vừ đánh, vừ đàm, giữa đấy tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao; đánh địch bằng ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận), trên cả ba vùng chiến lược (đồng bằng, miền núi, thành thị); thực hiện trọn vẹn lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “đánh cho Mĩ cút, đánh cho Ngụy nhào”.
Từ năm 1975 đến nay, quân và dân ta tiếp tục phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Hiểu được những kiến thức cơ bản về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, tài thao lược đánh giặc của ông cha.
- Có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, có thái độ học tập và rèn luyện tốt, sẵn sàng tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Từ thuở các vua Hùng dựng nước Văn Lang cách đây hàng nghìn năm lịch sử dân tộc VN bước vào thời kì dựng nước và giữ nước.
- Nhà nước Văn Lang là nhà nước đầu tiên của đan tộc ta. Lãnh thổ Văn Lang khá rộng và ở vào vị trí quan trọng, nằm trên đầu mối những đường giao thông qua bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Từ buổi đầu, ông cha ta đã xây dựng nên nền văn minh sông Hồng, còn gọi là văn minh Văn Lang mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn rực rỡ, là thành quả tự hào của người Việt thời kỳ Hùng Vương.
- Do vị trí địa lí và điều kiện kinh tế, nước ta luôn bị các thế lực ngoại xâm nhòm ngó. Các thế lực bành trướng phương Bắc sớm âm mưu thôn tính nước ta đễ mỡ rộng lãnh thỗ của chúng.
- Do đó, yêu cầu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập đã sớm xuất hiện trong lịch sử dân tộc ta. Người Việt muốn tồn tại, bảo vệ cuộc sống và nền văn hóa của mình chỉ còn con đường đoàn kết dân tộ, đứng lên đánh giặc, giữ nước.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên mà sử sách ghi lại là cuộc kháng chiến chống quân Tần.
- Năm 214 trước Công nguyên, nhà tần mang quân sang xâm lược nước ta. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của vua Hùng và sau đó là Thục Phán đứng lên kháng chiến
Vua Hùng
Tần Thủy Hoàng
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Thục Phán, một thủ lĩnh người Âu Việt, lập ra nhà nước Âu Lạc, dời đô từ Lâm Thao (Phú Thọ) về Cổ Loa (Hà Nội). Nhà nước Âu Lạc kế thừa nhà nước Văn Lang trên mọi lĩnh vực.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Những cuộc đấu tranh giữ nước đầu tiên
- Sau cuộc kháng chiến chống quân Tần, cuộc kháng chiến của nhân dân Âu Lạc do An Dương Vương lãnh đạo chống quân xâm lược Triệu Đà từ năm 184 đến năm 179 trước Công nguyên bị thất bại. Từ đây, đất nước ta rơi vào thảm họa hơn một nghìn năm phong kiến phương Bắc đo hộ, sử gọi là thời kì Bắc thuộc.
Triệu Đà
An Dương Vương
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (tk I – tk X)
- Dưới ách thống trị của chính quyền đô hộ, trải qua nhiều triều đại, phong kiến phương Bắc luôn tìm cách vơ vét của cải, áp bức và đồng hóa dân ta, biến nước ta thành quận, huyện của chúng.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (tk I – tk X)
- Dân ta quyết không chịu khuất phục, đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường và bền bỉ chống áp bức, bóc lột, giữ gìn bản sắc dân tộc và quyết tâm đứng lên đấu tranh giành độc lập, tự do.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (tk I – tk X)
Hai bà Trưng (40)
Bà Triệu (248)
Lý Bí (542)
Mai Thúc Loan (722)
Phùng Hưng (766)
Khúc Thừa Dụ (905)
Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa:
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
2. Cuộc đấu tranh giành độc lập (tk I – tk X)
- Năm 906, nhân dân ta đã dành lại quyền tự chủ.
- Tiếp đó,là hai cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán xâm lược dưới sự lảnh đạo của:
Dương Đình nghệ (931)
Ngô Quyền (938)
- Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938, dân tộc ta dành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Sau khi chiến thắng ngoại xâm, Ngô Quyền lên ngôi vua, bắt tay vào xây dựng nhà nước độc lập.Từ đó,trải qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ và Lê sơ (tk X đến tk XV), quốc gia thống nhất ngày càng được cũng cố. Nước Đại Việt thời Lí, Trần và Lê sơ với kinh đô Thăng Long (Hà Nội) là một quốc gia cường thịnh ở châu Á, là một trong những thời kì phát triển rực rỡ nhất, thời kì văn minh Đại Việt.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Tuy nhiên, trong giai đoạn này, dân tộc ta vẫn phải đứng lên đấu tranh chống xâm lược:
Năm 981, dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn, nhân dân ta đánh tan quân xâm lăng lần thứ nhất của quân Tống. Thế kỉ XI, dưới triều Lí, dân tộc ta một lần nữa lại dành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075-1077).
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Thế kỉ XIII, trong 30 năm (1258-1288) dân tộc ta đã chiến thắng oanh liệt cả ba lần chống quân Nguyên-Mông.Những chiến thắng lãy lừng ở Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kiết, Vạn Kiếp và Bạch Đằng mãi được lưu truyền trong sử sách, là niềm kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Đầu thế kỉ XV, nước ta bị quân Minh xâm lược, nhà Hồ lãnh đạo kháng chiến không thành công. Tuy vậy, phong trào yêu nước vẫn phát triển rộng khắp. Nổi bật là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Sau 10 năm chiến đấu kiên cường, anh dũng và mưu trí, nhân dân cả nước đã giành được thắng lợi oanh liệt, kết thúc bằng thắng lợi của trận Chi Lăng-Xương Giang năm 1427.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Cuối thế kỉ XVIII, dân tộc ta lại hai lần chống giặc ngoại xâm.Năm 1785, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy tài tình của Nguyễn Huệ đã lập nên chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút, đánh tan 5 vạn quân Xiêm. Đầu năm Kỉ Dậu (1789) quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ lại đánh bại 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh cùng bè lũ Lê Chiêu Thống bán nước. Lịch sử dân tộc đã ghi thêm một trang sử hào hùng với chiết công bất diệt: chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
Trong những cuộc chiến tranh giữ nước từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, nhân dân ta dưới sự chỉ huy của các vị tướng tài giỏi đã thực hiện toàn dân đánh giặc;biết dựa vào địa hình, địa thế có lợi cho ta, bất lợi cho địch.
Vận dụng “vườn không nhà trống” và mọi cách đánh phù hợp làm cho địch đi đến đâu cũng bị đánh, bị tiêu hao, tiêu diệt.Nét đặc sắc nghệ thuật quân sự của ông cha ta trong các cuộc chiến tranh giữ nước kể trên là tích cực, chủ động tiens công địch.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
3. Cuộc chiến tranh giữ nước (tk X – tk XIX)
- Điển hình như Lí Thường Kiệt (năm 1075) đã dùng biện pháp “tiên phát chế nhân” (không ngồi chờ giặc đến mà chủ động đánh trước vào hậu phương địch rồi rút lui để phá vỡ kế hoạch của chúng); lấy đoản binh thắng trường trận; “yếu chống mạnh hay đánh bất ngờ, ít địch nhiều thường dùng mai phục”.
- Đến thời vua Quang Trung năm 1788-1789, đã thực hiện lúc địch mạnh ta có thể lui quân để bảo toàn lực lượng, lúc địch suy yếu ta bất ngờ chuyển sang đánh đòn quyết định tiêu diệt địch trong một thời gian ngắn.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lậy đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
- Tháng 9 – 1958, thực dân Pháp nổ súng tiến công Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lậy đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
- Triều Nguyễn từng bước đầu hàng giặc và đến năm 1884 thì hoàn toàn công nhận quyền đô hộ của Pháp trên toàn nước ta.
- Khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, nhưng thực dân Pháp đã vấp phải phong trao kháng chiến sôi nổi và bền bỉ của nhân dân ta từ Bắc đến Nam.
Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa do:
Trương Công Định
Nguyễn Trung Trực
Đinh Công Tráng
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lậy đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa do:
Phan Đình Phùng
Hoàng Hoa Thám
Phong trao yêu nước đầu thế kỉ XX phát triển sôi nổi, nhưng cuối cùng đều thất bại. Nguyên nhân cơ bản là do thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến và chưa có đường lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện mới của thời đại.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
Năm 1930, ĐCS VN thành lâp
- Năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân do lãnh tụ: Nguyễn Ái Quốc sáng lập, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
PT Xô Viết- Nghệ tĩnh
(1930-1931)
PT đòi tự do cơm áo, hòa bình (1936-1939)
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng nước ta trải qua các cao trào:
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân nửa phong kiến (tk XIX đến 1945)
- Đỉnh cao là thắng lợi rực rỡ của các mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
- Không chịu từ bỏ dã tâm cai trị nước ta, ngày 23-9-1945, được quân Anh giúp sức, thực dân Pháp lại tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Nam Bộ anh dũng đứng lên chiến đấu chống thưc dân Pháp xâm lược.
- Trong điều kiện nước ta còn nhiều khó khăn, phải đánh với nhiều kẻ thù cùng một lúc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sách lược tài tình, khéo lợi dụng mâu thuẫn nội bộ của địch, tranh thủ hòa hoãn với Pháp, đẩy nhanh 20 vạn quân Tưởng về nước để chuẩn bị kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Nhưng “chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới”. Ngày 19-12-1946, trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
- Cả dân tộc hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhất tề đứng lên, đoàn kết chặt chẽ, quyết chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.
- Từ năm 1947 – 1954, quân dân ta đã lập được nhiều chiến công, làm thất bại nhiều cuộc hành binh lớn của Pháp trên khắp các mặt trận.
Tiêu biểu là chiến thắng:
Biên giới (1950)
Đông Xuân (1953-1954)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã giáng một đòn quyết định, đánh bại chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mĩ, buộc Pháp phải kí hiệp định Giơne vơ năm 1954, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng.
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Thắng lợi của nhân dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp là do có đường lối kháng chiến độc lặp và tự chủ, vận dụng tư tưởng quân sự lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, động viên, tổ chức lực lượng toàn dân đánh giặc, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, dánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc chống giặc ngoại xâm
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
- Đế quốc Mĩ phá hoại hiệp định Giơne vơ, hất cẳng Pháp để độc chiếm miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và là căn cứ quân sự của Mĩ, nhằm chia cắt lâu dài nước ta.
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Từ năm 1959 -1960, phong trào đồng khởi ở miền Nam bùng nổ và lan rộng. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập.
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Từ năm 1961 – 1965, quân và dân ta đã đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ.
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Từ năm 1965 -1968 ,Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam, đồng thời, tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc.
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, quân và dân cả nước đánh thắng Mĩ ngay từ trận đầu ở cả hai miền Nam, Bắc. Cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân năm 1968 trên toàn lãnh thỗ miền Nam làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mĩ phải xuống thang, chấp nhận đàm phán với ta ở hội nghị Pari (Pháp).
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Để cứu vãn thất bại, Mĩ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh sang Lào và Cam-pu-chia. Quân và dân ba nước Đông Dương dẫ kề vai sát cánh cùng nhau chiến đấu đánh bại các cuộc hành quân của Mĩ – Ngụy sang Cam-pu-chia và đương 9 – Nam Lào
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhân dân miền Nam lại một lần nữa đứng lên chống Mĩ, cứu nước:
- Cùng với thắng lợi ở chiến trường miền Nam, năm 1972 miền Bắc đã dánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari, công nhận độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Hiệp định Pari
5. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Đại thắng mùa xuân năm 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn 100 năm của chủ nghĩa thực dân, đế quốc ở Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược là cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
- Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, mọi tinh hoa truyền thống đánh giặc, giữ nước qua mấy nghìn năm của dân tộc ta đã được vận dụng một cách sáng tạo.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao; vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành chiến tranh giải phóng miền Nam, gắn cuộc kháng chiến của nhân dân ta với phong trào các mạng thế giới; triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ địch để tăng cường lực lượng cách mạng;
I. LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ (1954 - 1975)
Đã kết hợp nhuần nhuyễn giữ vừ đánh, vừ đàm, giữa đấy tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao; đánh địch bằng ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận), trên cả ba vùng chiến lược (đồng bằng, miền núi, thành thị); thực hiện trọn vẹn lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “đánh cho Mĩ cút, đánh cho Ngụy nhào”.
Từ năm 1975 đến nay, quân và dân ta tiếp tục phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 








Các ý kiến mới nhất