Bài 1. Máy tính và chương trình máy tính.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Hà Anh
Ngày gửi: 22h:27' 24-10-2021
Dung lượng: 15.7 MB
Số lượt tải: 26
Nguồn:
Người gửi: Quách Hà Anh
Ngày gửi: 22h:27' 24-10-2021
Dung lượng: 15.7 MB
Số lượt tải: 26
Số lượt thích:
0 người
NỘI DUNG CHÍNH
SƠ LƯỢC VỀ MÁY TÍNH
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC BỘ PHẬN TRONG MÁY TÍNH
MÁY TÍNH MƠ ƯỚC
SƠ LƯỢC QUA VỀ MÁY TÍNH
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC BỘ PHẬN TRONG MÁY TÍNH
I. CHIP VI XỬ LÝ (CPU)
CPU là các mạch điện tử trong một máy tính,thực hiện các câu lệnh của chương trình máy tính bằng cách thực hiện các phép tính số học, logic, so sánh và các hoạt động nhập/xuất dữ liệu (I/O) cơ bản do mã lệnh chỉ ra.
(Ở đây chúng tôi chỉ có thể nêu một vài CPU điển hình trong năm 1970. Cụ thể hơn sẽ nêu ở phần bản cứng.)
Chip RAM có mặt trên thị trường vào cuối những năm 1960, với sản phẩm DRAM là Intel 1103 công bố vào tháng 10 năm 1970.
DDR SDRAM được sử dụng rộng rãi trên các Laptop từ đầu những năm 2000 đến cuối 2004.
RAM DDR2 được sử dụng khá nhiều, chúng xuất hiện trên các dòng Laptop sản xuất từ cuối năm 2003 đến cuối năm 2009.
Vào năm 2007 người ta bắt đầu sản xuất thế hệ RAM tiếp theo của DDR2 là DDR3 với tốc độ rất nhanh và bộ nhớ lớn đồng thời tiết kiệm năng lượng hơn 30% so với thế hệ DDR2.
Tháng 11 năm 2018, SK Hynix đã trình làng DDR5 16GB đầu tiên trên thế giới
II. BỘ NHỚ HỆ THỐNG
1834 - Charles Babbage bắt đầu xây dựng “Công cụ phân tích” của mình, một tiền thân của máy tính. Nó sử dụng bộ nhớ chỉ đọc theo hình thức thẻ đục lỗ .
1932 - Gustav Tauschek phát minh bộ nhớ trống ở Áo.
1939 - Helmut Schreyer sáng chế ra một bộ nhớ nguyên mẫu sử dụng đèn neon.
1942 - Các Atanasoff-Berry Computer có 60 từ 50-bit của bộ nhớ theo hình thức tụ gắn trên hai trống quay. Đối với bộ nhớ thứ cấp, nó sử dụng thẻ đục lỗ.
1947 - Frederick Viehe Los Angeles áp dụng cho một bằng sáng chế cho một phát minh có sử dụng bộ nhớ lõi từ. Bộ nhớ trống Magnetic được độc lập phát minh bởi một số người:
1971 - Intel phát hành chip 1101, một bộ nhớ lập trình 256-bit, và 1701 chip, một 256-byte erasable bộ nhớ chỉ đọc (EROM).
Năm 1955
Ổ cứng đầu tiên trên thế giới có là IBM 350 Disk File được chế tạo bởi Reynold Johnson ra mắt năm 1955 cùng máy tính IBM 305. Ổ cứng này có tới 50 tấm đĩa kích thước 24" với tổng dung lượng là 5 triệu ký tự. Một đầu từ được dùng để truy nhập tất cả các tấm đĩa khiến cho tốc độ truy nhập trung bình khá thấp.
Năm 1961
Thiết bị lưu trữ dữ liệu IBM 1301 ra mắt năm 1961 bắt đầu sử dụng mỗi đầu từ cho một mặt đĩa.
Ổ đĩa đầu tiên có bộ phận lưu trữ tháo lắp được là ổ IBM 1311. Ổ này sử dụng đĩa IBM 1316 có dung lượng 2 triệu ký tự.
Thập niên 1990 Các công ty chế tạo ổ đĩa cứng bắt đầu tiếp thị với người dùng cuối bên cạnh OEM và đến giữa thập niên 1990, ổ đĩa cứng bắt đầu xuất hiện trong các cửa hàng bán lẻ.
Ổ đĩa cứng, là thiết bị dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm đĩa hình tròn phủ vật liệu từ tính.
SSD là một loại thiết bị lưu trữ được làm từ vật liệu bán dẫn semiconductor/solid state, dùng để lưu trữ dữ liệu.
Thiết bị SSD đầu tiên dùng sắt từ được tạo ra vào thời kỳ máy tính còn sử dụng ống chân không. Sau đó, vào những năm 70-80 của thế kỷ 20, ổ đĩa SSD tiếp tục được phát triển bởi IBM, Amdahl và Cray, nhưng do giá thành quá cao nên việc thương mại hóa rộng rãi SSD lúc đó gặp nhiều khó khăn.
Vào năm 1978, Storage Tek đã phát triển thành công một mẫu SSD đầu tiên.
Giữa những năm 1980, Santa Clara Systems giới thiệu BatRam, một kết hợp của các chip DIPRAM kèm theo một card điều khiển mô phỏng ổ đĩa cứng.
Năm 1996, M-system giới thiệu một ổ đĩa SSD dựa trên công nghệ bộ nhớ flash. Kể từ thời điểm này, SSD được sử dụng như một lựa chọn thay thế cho HDD truyền thống.
SSD bắt đầu được sử dụng trong laptop dù cho đến năm 2009 thì chi phí trên đơn vị lưu trữ của SSD vẫn đắt hơn HDD nhiều lần. ZZ
Cỡ ATX được Intel giới thiệu vào năm 1995 và cho đến hiện nay nó vẫn có nhiều ưu thế cho phân khúc dành cho người dùng phổ thông. Đây là cỡ mainboard tiêu chuẩn và lớn nhất trong 3 cỡ mainboard mà chúng ta nói đến trong bài viết này. Nó có kích thước chính xác là 12 x 9,6 inch (30,5 x 24,4 cm). ATX sẽ có thể có tối đa đến 6 khe PCIe để bạn có thể cắm card tẹt ga. Phiên bản mở rộng của ATX là EATX có đến tối đa 7 khe PCIe, tuy nhiên size này thường dành cho máy server và những hệ thống PC cao cấp, nằm ngoài phạm vi bài viết này nên chúng ta sẽ không nói đến.
Chuẩn MicroATX ra đời năm 1997, nhỏ gọn hơn ATX nhưng vẫn tương đối đầy đủ tính năng cho người dùng cơ bản, có kích thước 9.6 × 9.6 inch (24,4 × 24,4 cm) , có tối đa 4 khe PCIe.
Cuối cùng chúng ra có chuẩn Mini-ITX, được phát triển và cho ra mắt bởi Via Technologies vào năm 2001, là cỡ nhỏ nhất trong số 3 cỡ mainboard mà chúng ta nói đến, có kích thước chỉ 6,7 x 6,7 inch. (17 x 17 cm). Nó chỉ có 2 khe RAM và một khe cắm card đồ họa duy nhất.
GENERAL
EDUCATION
SƠ LƯỢC VỀ MÁY TÍNH
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC BỘ PHẬN TRONG MÁY TÍNH
MÁY TÍNH MƠ ƯỚC
SƠ LƯỢC QUA VỀ MÁY TÍNH
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC BỘ PHẬN TRONG MÁY TÍNH
I. CHIP VI XỬ LÝ (CPU)
CPU là các mạch điện tử trong một máy tính,thực hiện các câu lệnh của chương trình máy tính bằng cách thực hiện các phép tính số học, logic, so sánh và các hoạt động nhập/xuất dữ liệu (I/O) cơ bản do mã lệnh chỉ ra.
(Ở đây chúng tôi chỉ có thể nêu một vài CPU điển hình trong năm 1970. Cụ thể hơn sẽ nêu ở phần bản cứng.)
Chip RAM có mặt trên thị trường vào cuối những năm 1960, với sản phẩm DRAM là Intel 1103 công bố vào tháng 10 năm 1970.
DDR SDRAM được sử dụng rộng rãi trên các Laptop từ đầu những năm 2000 đến cuối 2004.
RAM DDR2 được sử dụng khá nhiều, chúng xuất hiện trên các dòng Laptop sản xuất từ cuối năm 2003 đến cuối năm 2009.
Vào năm 2007 người ta bắt đầu sản xuất thế hệ RAM tiếp theo của DDR2 là DDR3 với tốc độ rất nhanh và bộ nhớ lớn đồng thời tiết kiệm năng lượng hơn 30% so với thế hệ DDR2.
Tháng 11 năm 2018, SK Hynix đã trình làng DDR5 16GB đầu tiên trên thế giới
II. BỘ NHỚ HỆ THỐNG
1834 - Charles Babbage bắt đầu xây dựng “Công cụ phân tích” của mình, một tiền thân của máy tính. Nó sử dụng bộ nhớ chỉ đọc theo hình thức thẻ đục lỗ .
1932 - Gustav Tauschek phát minh bộ nhớ trống ở Áo.
1939 - Helmut Schreyer sáng chế ra một bộ nhớ nguyên mẫu sử dụng đèn neon.
1942 - Các Atanasoff-Berry Computer có 60 từ 50-bit của bộ nhớ theo hình thức tụ gắn trên hai trống quay. Đối với bộ nhớ thứ cấp, nó sử dụng thẻ đục lỗ.
1947 - Frederick Viehe Los Angeles áp dụng cho một bằng sáng chế cho một phát minh có sử dụng bộ nhớ lõi từ. Bộ nhớ trống Magnetic được độc lập phát minh bởi một số người:
1971 - Intel phát hành chip 1101, một bộ nhớ lập trình 256-bit, và 1701 chip, một 256-byte erasable bộ nhớ chỉ đọc (EROM).
Năm 1955
Ổ cứng đầu tiên trên thế giới có là IBM 350 Disk File được chế tạo bởi Reynold Johnson ra mắt năm 1955 cùng máy tính IBM 305. Ổ cứng này có tới 50 tấm đĩa kích thước 24" với tổng dung lượng là 5 triệu ký tự. Một đầu từ được dùng để truy nhập tất cả các tấm đĩa khiến cho tốc độ truy nhập trung bình khá thấp.
Năm 1961
Thiết bị lưu trữ dữ liệu IBM 1301 ra mắt năm 1961 bắt đầu sử dụng mỗi đầu từ cho một mặt đĩa.
Ổ đĩa đầu tiên có bộ phận lưu trữ tháo lắp được là ổ IBM 1311. Ổ này sử dụng đĩa IBM 1316 có dung lượng 2 triệu ký tự.
Thập niên 1990 Các công ty chế tạo ổ đĩa cứng bắt đầu tiếp thị với người dùng cuối bên cạnh OEM và đến giữa thập niên 1990, ổ đĩa cứng bắt đầu xuất hiện trong các cửa hàng bán lẻ.
Ổ đĩa cứng, là thiết bị dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm đĩa hình tròn phủ vật liệu từ tính.
SSD là một loại thiết bị lưu trữ được làm từ vật liệu bán dẫn semiconductor/solid state, dùng để lưu trữ dữ liệu.
Thiết bị SSD đầu tiên dùng sắt từ được tạo ra vào thời kỳ máy tính còn sử dụng ống chân không. Sau đó, vào những năm 70-80 của thế kỷ 20, ổ đĩa SSD tiếp tục được phát triển bởi IBM, Amdahl và Cray, nhưng do giá thành quá cao nên việc thương mại hóa rộng rãi SSD lúc đó gặp nhiều khó khăn.
Vào năm 1978, Storage Tek đã phát triển thành công một mẫu SSD đầu tiên.
Giữa những năm 1980, Santa Clara Systems giới thiệu BatRam, một kết hợp của các chip DIPRAM kèm theo một card điều khiển mô phỏng ổ đĩa cứng.
Năm 1996, M-system giới thiệu một ổ đĩa SSD dựa trên công nghệ bộ nhớ flash. Kể từ thời điểm này, SSD được sử dụng như một lựa chọn thay thế cho HDD truyền thống.
SSD bắt đầu được sử dụng trong laptop dù cho đến năm 2009 thì chi phí trên đơn vị lưu trữ của SSD vẫn đắt hơn HDD nhiều lần. ZZ
Cỡ ATX được Intel giới thiệu vào năm 1995 và cho đến hiện nay nó vẫn có nhiều ưu thế cho phân khúc dành cho người dùng phổ thông. Đây là cỡ mainboard tiêu chuẩn và lớn nhất trong 3 cỡ mainboard mà chúng ta nói đến trong bài viết này. Nó có kích thước chính xác là 12 x 9,6 inch (30,5 x 24,4 cm). ATX sẽ có thể có tối đa đến 6 khe PCIe để bạn có thể cắm card tẹt ga. Phiên bản mở rộng của ATX là EATX có đến tối đa 7 khe PCIe, tuy nhiên size này thường dành cho máy server và những hệ thống PC cao cấp, nằm ngoài phạm vi bài viết này nên chúng ta sẽ không nói đến.
Chuẩn MicroATX ra đời năm 1997, nhỏ gọn hơn ATX nhưng vẫn tương đối đầy đủ tính năng cho người dùng cơ bản, có kích thước 9.6 × 9.6 inch (24,4 × 24,4 cm) , có tối đa 4 khe PCIe.
Cuối cùng chúng ra có chuẩn Mini-ITX, được phát triển và cho ra mắt bởi Via Technologies vào năm 2001, là cỡ nhỏ nhất trong số 3 cỡ mainboard mà chúng ta nói đến, có kích thước chỉ 6,7 x 6,7 inch. (17 x 17 cm). Nó chỉ có 2 khe RAM và một khe cắm card đồ họa duy nhất.
GENERAL
EDUCATION
 







Các ý kiến mới nhất