Tuần 6. Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Quỳnh Như
Ngày gửi: 15h:32' 05-11-2021
Dung lượng: 5.4 MB
Số lượt tải: 483
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Quỳnh Như
Ngày gửi: 15h:32' 05-11-2021
Dung lượng: 5.4 MB
Số lượt tải: 483
Số lượt thích:
0 người
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
- Nguyễn Đình Chiểu: (1822 – 1888)
- Tự: Mạnh Trạch
- Hiệu: Trọng Phủ, Hối Trai
- Quê quán: làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) (quê mẹ).
1. Xuất thân, gia đình
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
- Xuất thân trong 1 gia đình nhà nho
+ Cha: Nguyễn Đình Huy: thư quyền dưới quyền Tả quân Lê Văn Duyệt
+ Mẹ: Trương Thị Thiệt: vợ hai
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
- Nguyễn Đình Chiểu: (1822 – 1888)
1. Xuất thân, gia đình
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
2. Thời đại: Thế kỷ XIX
- Bối cảnh lịch sử
+ Chế độ phong kiến suy tàn
+ 1858: thực dân Pháp xâm lược
- Bối cảnh xã hội
Xã hội phong kiến xã hội thực dân nửa phong kiến
Tình cảnh đất nước rối ren
Nhân dân chịu cảnh lầm than, mất nước
Xã hội “nửa Tây nửa Tàu
Xã hội lố lăng
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
3. Cuộc đời
- Thời thơ ấu
+ Được giáo dục về thiện ác, chính tà, nhân nghĩa lý tưởng nhân nghĩa
+ Chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội
- Trưởng thành
+ 1843: đỗ tú tài ở trường thi Gia Định
+ 1847: mẹ mất, bị mù, hôn thê bội ước
“Lỡ bề báo hiếu, lỡ đường lập thân
+ 1851: mở trường dạy học và làm thuốc
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
3. Cuộc đời
+ 1855: kết hôn cùng bà Năm Điền
+ 1859: tích cực tham gia chống giặc
- Những năm tháng cuối đời
+ Nguyễn Đình Chiểu lánh tại Ba Tri, Bến Tre
+ Từ chối cám dỗ của giặc, chiến đấu bằng ngòi bút đến hơi thở cuối cùng
+ 3 – 7 – 1888: Nguyễn Đình Chiểu mất tại Bến Tre
Nhân cách của một nhà nho yêu nước
Nguyễn Đình Chiểu là một người thầy mẫu mực, là một người thầy thuốc y đức, là một nhà thơ, nhà văn yêu nước
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
II. Sự nghiệp thơ văn
1. Những tác phẩm chính
- Giai đoạn trước 1858: Tập trung ca ngợi đạo đức, truyền bá đạo lý làm người (Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu)
- Giai đoạn sau 1858
+ Phê phán triều đình nhu nhược
+ Ngợi ca tinh thần chiến đấu của quân dân
(Chạy giặc, văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, văn tế Trương Định, Ngư tiều y thuật vấn đáp)
+ Lên án quân xâm lược
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
II. Sự nghiệp thơ văn
2. Quan điểm sáng tác
a) Quan điểm “Văn dĩ tải đạo / Thi dĩ ngôn chí
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
b) Quan điểm đề cao giá trị thẩm mĩ của văn chương
- Văn chương xuất phát từ tấm lòng
“Văn chương ai chẳng muốn nghe
Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần”
- Chú trọng sang tạo trong văn chương
“Trượng phu có chí ngang tàn
Rộng cho phóng tứ làm bàn phi tiên”
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
II. Sự nghiệp thơ văn
3. Nội dung thơ văn
a) Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa
- Mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho, nhưng đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc
b) Lòng yêu nước, thương dân
- Ghi lại chân thực một thời đau thương của đất nước
- Tố cáo tội ác của giặc
- Ca ngợi, biểu dương những anh hung nhân nghĩa đã chiến đấu, hi sinh vì Tổ Quốc
- Khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước của nhân dân
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
II. Sự nghiệp thơ văn
4. Nghệ thuật thơ văn
- Đậm đà sắc thái Nam Bộ
+ Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, chất phác
+ Lối thơ thiên về kể màu sắc diễn xướng
+ Thể loại đa dạng, đỉnh cao: truyện thơ Nôm, văn tế, thơ điếu,…
+ Bút pháp trữ tình độc đáo
2. Thể loại văn tế:
- Văn tế: là loại văn gắn với phong tục nhằm bày tỏ lòng thương tiếc với người đã mất. (văn khóc, điếu văn)
- Nội dung:
+ Kể lại cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất.
+ Bày tỏ nỗi đau thương của người sống trong giờ phút vĩnh biệt.
-Âm điệu: bi thương, lâm li, thống thiết, hình ảnh có giá trị biểu cảm.
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 2: Tác phẩm)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. ĐỌC – TÌM HIỂU CHUNG
2. Thể loại và bố cục
a) Thể loại: văn tế
* Khái niệm: là thể văn dùng để bày tỏ lòng thương tiếc của người sống với người đã mất
* Nội dung:
- Hồi tưởng về cuộc đời, công đức, phẩm hạnh
- Bày tỏ lòng tiếc thương
* Đặc sắc nghệ thuật:
- Mang âm hưởng bi thương
- Giọng điệu lâm li, thống thiết
- Sử dụng nhiều thán từ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh mẽ
- Thường viết bằng văn xuôi, lục bát, phú
* Bố cục:
Lung khởi
Thích thực
Ai vãn
Khốc tận
3. Bố cục: 4 phần:
- Lung khởi: (2 câu đầu) khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân.
- Thích thực: (từ câu 3 đến câu 15) Hồi tưởng lại hình ảnh và công đức người nông dân - nghĩa sĩ.
- Ai vãn: (câu 16 đến câu 28) Bày tỏ lòng thương tiếc, sự cảm phục của tác giả đối với người nghĩa sĩ.
- Khốc tận ( Kết: 2 câu cuối): Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.
Bài văn tế nằm trong giai đoạn thứ 2 thuộc bộ phận văn thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. Là tác phẩm có giá trị đặc biệt và độc đáo trong văn học dân tộc.
Bài văn tế nằm trong giai đoạn thứ 2 thuộc bộ phận văn thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. Là tác phẩm có giá trị đặc biệt và độc đáo trong văn học dân tộc.
Pháp tấn công thành Gia Định
Tội ác của thực dân Pháp
Nông dân Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc
1.Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ:
a. Bối cảnh thời đại và ý nghĩa cái chết của người nông dân nghĩa sĩ:
- Sau tiếng than “Hỡi ôi!” . Những hình ảnh không gian to lớn (đất, trời), sự khuếch tán của âm thanh và ánh sáng (rền, tỏ)
Ấn tượng về bức chân dung người anh hùng nghĩa sĩ.
- Nghệ thuật đối lập:
*Nội dung: súng giặc >< lòng dân, đất>< trời.
- Bối cảnh thời đại: sự đối lập gay gắt dữ đội giữa thế lực bạo tàn của thực dân Pháp và ý chí bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam.
+ Mười năm công vỡ ruộng- không ai biết.
+ Một trận nghĩa đánh Tây- để lại tiếng thơm.
Ý nghĩa cái chết của đội quân Cần Giuộc: một cái chết bất tử, tiếng thơm muôn đời.
b. Nguồn gốc của người nghĩa quân (câu 3, 4, 5):
- Người nghĩa sĩ vốn là nông dân, cả đời gắn bó với ruộng vườn: việc cuốc, việc cày, việc cấy, tay vốn quen làm.
- Họ hoàn toàn xa lạ với việc nhà binh: tập khiên, tập súng,...mắt chưa từng ngó.
- Tấm lòng yêu thưng của nhà văn đọng lại ở hai từ “côi cút” từ gợi cảm.
Bằng nghệ thuật liệt kê, tác giả đã giới thiệu một cách cụ thể về nguồn gốc của người nghĩa sĩ: họ xuất thân từ nông dân cần cù, nghèo khổ, xa lạ với chiến tranh, trận mạc.
c. Những chuyển biến về tư tưởng, tình cảm của người nông dân:
- Tình cảm:
+ Người dân trông chờ tin tức mỏi mòn rồi thất vọng “trông tin quan như trời hạn trông mưa”.
+ Lòng căm thù, oán giận:
Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Muốn tới ăn gan.
Muốn ra cắn cổ.
Hình ảnh cường điệu mạnh mẽ, chân thực, dậm sắc thái nông dân Nam Bộ.
-Nhận thức:
+ Họ nhận thức đúng đắn. Đất nước ta là một quốc gia độc lập, vĩ đại “mối xa thư đồ sộ”.
+ Xác định trách nhiệm của bản thân đối với đất nước: tự mình đứng lên trừ kẻ xâm lăng (há để ai chém rắn đuổi hưu)
-Hành động:
+ Xin ra sức đoạn kình.
+ Dốc ra tay bộ hổ.
+ Mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
Tự nguyện, thể hiện ý thức trách nhiệm với sự nghiệp cứu nước và ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của người nghĩa sĩ.
d. Vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận nghĩa đánh Tây:
- Trang bị của nghĩa quân khi vào trận:
+ …manh áo vải…
+ …ngọn tầm vông…
+ …rơm con cúi…
+ …lưỡi dao phay…
-Nghệ thuật: liệt kê + chi tiết chân thực có sức gợi cao đó là những vật thô sơ trong cuộc sống lao động hằng ngày đã trở thành vũ khí để nghĩa quân đánh giặc.
- Tinh thần chiến đấu của nghĩa quân:
+ Khí thế tấn công như vũ bão: động từ mạnh, dứt khoác (đốt, chém, đâm ngang, chém ngược),…
+ Lòng dũng cảm phi thường: đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ,…
+ Âm thanh của tiếng đạn nhỏ đạn to, tàu sắt tàu đồng súng nổ cũng không mảy may cản chân bước tiến của họ.
Bút pháp tả thực, nhịp điệu dồn dập, đối, sử dụng từ ngữ mạnh (đâm ngang, chém ngược, hò trước, ớ sau) tinh thần chiến đấu ngùn ngụt, tư thế hiên ngang lẫm liệt, làm khiếp sợ kẻ thù
Nguyễn Đình Chiểu đã phát hiện, ngợi ca phẩm chất cao quý tiềm ẩn của người nông dân đằng sau lớp áo vải, sau cuộc đời lâm lũ lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc.
=> Bức tượng đài sừng sững, hiên ngang, kiên cường
2. Tiếng khóc cho những người nông dân nghĩa sĩ, cho thời đại đau thương quật khởi:
- Cả bài văn tế là tiếng khóc dài. Có lúc nước mắt trào ra, tuôn chảy thành vô vàn hàng lệ: “nước mắt anh hùng lau chẳng ráo”, thành những dấu hỏi “vì ai, vì ai, thành tiếng nức nở đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, não nùng thay vợ yêu chạy tìm chồng.
- Người viết văn tế khóc già trẻ gái trai chợ Trường Bình khóc, mẹ già khóc, vợ yếu khóc, chùa Tông Thạnh khóc, cỏ cây khóc, sông Cần Giuộc cũng khóc bằng dòng nước “tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ”.
- Con người, cỏ cây, sông núi, tất cả đều chìm trong đau thương, chìm trong tiếng khóc. Họ khóc cho những người nghĩa sĩ phải hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở, chí nguyện chưa thành.
- Nhưng dù nức nở trong tiếng khóc, bài văn tế vẫn không tạo ra ấn tượng, cảm giác bi lụy. Bởi lẽ ngoài sự uất ức nghẹn ngào, tiếc hận là nỗi căm hờn tột độ kẻ thù đã gây nên nghịch cảnh éo le.
3. Phần kết : ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ
- Tác giả đề cao quan niệm : Chết vinh còn hơn sống nhục. Nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân. Họ ra trận không cần công danh bổng lộc mà chỉ vì một điều rất giản đơn là yêu nước.
- Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về người anh hùng thất thế.
=> Khẳng định sự bất tử của những người nghĩa sĩ.
III. Tổng kết:
1. Nội dung:
- Vẻ đẹp bi tráng của người nông dân nghĩa sĩ.
- Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân có mặt ở vị trí trung tâm và hiện ra với tất cả vẻ đẹp vốn có của họ.
2. Nghệ thuật:
- Chất trữ tình.
- Thủ pháp tương phản và cấu trúc của thể văn biền ngẫu.
- Ngôn ngữ vừa trân trọng vừa dân dã, mang đậm sắc thái Nam Bộ.
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
- Nguyễn Đình Chiểu: (1822 – 1888)
- Tự: Mạnh Trạch
- Hiệu: Trọng Phủ, Hối Trai
- Quê quán: làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) (quê mẹ).
1. Xuất thân, gia đình
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
- Xuất thân trong 1 gia đình nhà nho
+ Cha: Nguyễn Đình Huy: thư quyền dưới quyền Tả quân Lê Văn Duyệt
+ Mẹ: Trương Thị Thiệt: vợ hai
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
- Nguyễn Đình Chiểu: (1822 – 1888)
1. Xuất thân, gia đình
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
2. Thời đại: Thế kỷ XIX
- Bối cảnh lịch sử
+ Chế độ phong kiến suy tàn
+ 1858: thực dân Pháp xâm lược
- Bối cảnh xã hội
Xã hội phong kiến xã hội thực dân nửa phong kiến
Tình cảnh đất nước rối ren
Nhân dân chịu cảnh lầm than, mất nước
Xã hội “nửa Tây nửa Tàu
Xã hội lố lăng
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
3. Cuộc đời
- Thời thơ ấu
+ Được giáo dục về thiện ác, chính tà, nhân nghĩa lý tưởng nhân nghĩa
+ Chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội
- Trưởng thành
+ 1843: đỗ tú tài ở trường thi Gia Định
+ 1847: mẹ mất, bị mù, hôn thê bội ước
“Lỡ bề báo hiếu, lỡ đường lập thân
+ 1851: mở trường dạy học và làm thuốc
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. Gia đình, thời đại, cuộc đời
3. Cuộc đời
+ 1855: kết hôn cùng bà Năm Điền
+ 1859: tích cực tham gia chống giặc
- Những năm tháng cuối đời
+ Nguyễn Đình Chiểu lánh tại Ba Tri, Bến Tre
+ Từ chối cám dỗ của giặc, chiến đấu bằng ngòi bút đến hơi thở cuối cùng
+ 3 – 7 – 1888: Nguyễn Đình Chiểu mất tại Bến Tre
Nhân cách của một nhà nho yêu nước
Nguyễn Đình Chiểu là một người thầy mẫu mực, là một người thầy thuốc y đức, là một nhà thơ, nhà văn yêu nước
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
II. Sự nghiệp thơ văn
1. Những tác phẩm chính
- Giai đoạn trước 1858: Tập trung ca ngợi đạo đức, truyền bá đạo lý làm người (Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu)
- Giai đoạn sau 1858
+ Phê phán triều đình nhu nhược
+ Ngợi ca tinh thần chiến đấu của quân dân
(Chạy giặc, văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, văn tế Trương Định, Ngư tiều y thuật vấn đáp)
+ Lên án quân xâm lược
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
II. Sự nghiệp thơ văn
2. Quan điểm sáng tác
a) Quan điểm “Văn dĩ tải đạo / Thi dĩ ngôn chí
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
b) Quan điểm đề cao giá trị thẩm mĩ của văn chương
- Văn chương xuất phát từ tấm lòng
“Văn chương ai chẳng muốn nghe
Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần”
- Chú trọng sang tạo trong văn chương
“Trượng phu có chí ngang tàn
Rộng cho phóng tứ làm bàn phi tiên”
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
II. Sự nghiệp thơ văn
3. Nội dung thơ văn
a) Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa
- Mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho, nhưng đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc
b) Lòng yêu nước, thương dân
- Ghi lại chân thực một thời đau thương của đất nước
- Tố cáo tội ác của giặc
- Ca ngợi, biểu dương những anh hung nhân nghĩa đã chiến đấu, hi sinh vì Tổ Quốc
- Khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước của nhân dân
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 1: Tác giả)
- Nguyễn Đình Chiểu -
II. Sự nghiệp thơ văn
4. Nghệ thuật thơ văn
- Đậm đà sắc thái Nam Bộ
+ Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, chất phác
+ Lối thơ thiên về kể màu sắc diễn xướng
+ Thể loại đa dạng, đỉnh cao: truyện thơ Nôm, văn tế, thơ điếu,…
+ Bút pháp trữ tình độc đáo
2. Thể loại văn tế:
- Văn tế: là loại văn gắn với phong tục nhằm bày tỏ lòng thương tiếc với người đã mất. (văn khóc, điếu văn)
- Nội dung:
+ Kể lại cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã khuất.
+ Bày tỏ nỗi đau thương của người sống trong giờ phút vĩnh biệt.
-Âm điệu: bi thương, lâm li, thống thiết, hình ảnh có giá trị biểu cảm.
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
(Phần 2: Tác phẩm)
- Nguyễn Đình Chiểu -
I. ĐỌC – TÌM HIỂU CHUNG
2. Thể loại và bố cục
a) Thể loại: văn tế
* Khái niệm: là thể văn dùng để bày tỏ lòng thương tiếc của người sống với người đã mất
* Nội dung:
- Hồi tưởng về cuộc đời, công đức, phẩm hạnh
- Bày tỏ lòng tiếc thương
* Đặc sắc nghệ thuật:
- Mang âm hưởng bi thương
- Giọng điệu lâm li, thống thiết
- Sử dụng nhiều thán từ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh mẽ
- Thường viết bằng văn xuôi, lục bát, phú
* Bố cục:
Lung khởi
Thích thực
Ai vãn
Khốc tận
3. Bố cục: 4 phần:
- Lung khởi: (2 câu đầu) khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân.
- Thích thực: (từ câu 3 đến câu 15) Hồi tưởng lại hình ảnh và công đức người nông dân - nghĩa sĩ.
- Ai vãn: (câu 16 đến câu 28) Bày tỏ lòng thương tiếc, sự cảm phục của tác giả đối với người nghĩa sĩ.
- Khốc tận ( Kết: 2 câu cuối): Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.
Bài văn tế nằm trong giai đoạn thứ 2 thuộc bộ phận văn thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. Là tác phẩm có giá trị đặc biệt và độc đáo trong văn học dân tộc.
Bài văn tế nằm trong giai đoạn thứ 2 thuộc bộ phận văn thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. Là tác phẩm có giá trị đặc biệt và độc đáo trong văn học dân tộc.
Pháp tấn công thành Gia Định
Tội ác của thực dân Pháp
Nông dân Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc
1.Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ:
a. Bối cảnh thời đại và ý nghĩa cái chết của người nông dân nghĩa sĩ:
- Sau tiếng than “Hỡi ôi!” . Những hình ảnh không gian to lớn (đất, trời), sự khuếch tán của âm thanh và ánh sáng (rền, tỏ)
Ấn tượng về bức chân dung người anh hùng nghĩa sĩ.
- Nghệ thuật đối lập:
*Nội dung: súng giặc >< lòng dân, đất>< trời.
- Bối cảnh thời đại: sự đối lập gay gắt dữ đội giữa thế lực bạo tàn của thực dân Pháp và ý chí bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam.
+ Mười năm công vỡ ruộng- không ai biết.
+ Một trận nghĩa đánh Tây- để lại tiếng thơm.
Ý nghĩa cái chết của đội quân Cần Giuộc: một cái chết bất tử, tiếng thơm muôn đời.
b. Nguồn gốc của người nghĩa quân (câu 3, 4, 5):
- Người nghĩa sĩ vốn là nông dân, cả đời gắn bó với ruộng vườn: việc cuốc, việc cày, việc cấy, tay vốn quen làm.
- Họ hoàn toàn xa lạ với việc nhà binh: tập khiên, tập súng,...mắt chưa từng ngó.
- Tấm lòng yêu thưng của nhà văn đọng lại ở hai từ “côi cút” từ gợi cảm.
Bằng nghệ thuật liệt kê, tác giả đã giới thiệu một cách cụ thể về nguồn gốc của người nghĩa sĩ: họ xuất thân từ nông dân cần cù, nghèo khổ, xa lạ với chiến tranh, trận mạc.
c. Những chuyển biến về tư tưởng, tình cảm của người nông dân:
- Tình cảm:
+ Người dân trông chờ tin tức mỏi mòn rồi thất vọng “trông tin quan như trời hạn trông mưa”.
+ Lòng căm thù, oán giận:
Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Muốn tới ăn gan.
Muốn ra cắn cổ.
Hình ảnh cường điệu mạnh mẽ, chân thực, dậm sắc thái nông dân Nam Bộ.
-Nhận thức:
+ Họ nhận thức đúng đắn. Đất nước ta là một quốc gia độc lập, vĩ đại “mối xa thư đồ sộ”.
+ Xác định trách nhiệm của bản thân đối với đất nước: tự mình đứng lên trừ kẻ xâm lăng (há để ai chém rắn đuổi hưu)
-Hành động:
+ Xin ra sức đoạn kình.
+ Dốc ra tay bộ hổ.
+ Mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
Tự nguyện, thể hiện ý thức trách nhiệm với sự nghiệp cứu nước và ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của người nghĩa sĩ.
d. Vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận nghĩa đánh Tây:
- Trang bị của nghĩa quân khi vào trận:
+ …manh áo vải…
+ …ngọn tầm vông…
+ …rơm con cúi…
+ …lưỡi dao phay…
-Nghệ thuật: liệt kê + chi tiết chân thực có sức gợi cao đó là những vật thô sơ trong cuộc sống lao động hằng ngày đã trở thành vũ khí để nghĩa quân đánh giặc.
- Tinh thần chiến đấu của nghĩa quân:
+ Khí thế tấn công như vũ bão: động từ mạnh, dứt khoác (đốt, chém, đâm ngang, chém ngược),…
+ Lòng dũng cảm phi thường: đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ,…
+ Âm thanh của tiếng đạn nhỏ đạn to, tàu sắt tàu đồng súng nổ cũng không mảy may cản chân bước tiến của họ.
Bút pháp tả thực, nhịp điệu dồn dập, đối, sử dụng từ ngữ mạnh (đâm ngang, chém ngược, hò trước, ớ sau) tinh thần chiến đấu ngùn ngụt, tư thế hiên ngang lẫm liệt, làm khiếp sợ kẻ thù
Nguyễn Đình Chiểu đã phát hiện, ngợi ca phẩm chất cao quý tiềm ẩn của người nông dân đằng sau lớp áo vải, sau cuộc đời lâm lũ lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc.
=> Bức tượng đài sừng sững, hiên ngang, kiên cường
2. Tiếng khóc cho những người nông dân nghĩa sĩ, cho thời đại đau thương quật khởi:
- Cả bài văn tế là tiếng khóc dài. Có lúc nước mắt trào ra, tuôn chảy thành vô vàn hàng lệ: “nước mắt anh hùng lau chẳng ráo”, thành những dấu hỏi “vì ai, vì ai, thành tiếng nức nở đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, não nùng thay vợ yêu chạy tìm chồng.
- Người viết văn tế khóc già trẻ gái trai chợ Trường Bình khóc, mẹ già khóc, vợ yếu khóc, chùa Tông Thạnh khóc, cỏ cây khóc, sông Cần Giuộc cũng khóc bằng dòng nước “tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ”.
- Con người, cỏ cây, sông núi, tất cả đều chìm trong đau thương, chìm trong tiếng khóc. Họ khóc cho những người nghĩa sĩ phải hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở, chí nguyện chưa thành.
- Nhưng dù nức nở trong tiếng khóc, bài văn tế vẫn không tạo ra ấn tượng, cảm giác bi lụy. Bởi lẽ ngoài sự uất ức nghẹn ngào, tiếc hận là nỗi căm hờn tột độ kẻ thù đã gây nên nghịch cảnh éo le.
3. Phần kết : ca ngợi linh hồn bất tử của người nghĩa sĩ
- Tác giả đề cao quan niệm : Chết vinh còn hơn sống nhục. Nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân. Họ ra trận không cần công danh bổng lộc mà chỉ vì một điều rất giản đơn là yêu nước.
- Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về người anh hùng thất thế.
=> Khẳng định sự bất tử của những người nghĩa sĩ.
III. Tổng kết:
1. Nội dung:
- Vẻ đẹp bi tráng của người nông dân nghĩa sĩ.
- Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân có mặt ở vị trí trung tâm và hiện ra với tất cả vẻ đẹp vốn có của họ.
2. Nghệ thuật:
- Chất trữ tình.
- Thủ pháp tương phản và cấu trúc của thể văn biền ngẫu.
- Ngôn ngữ vừa trân trọng vừa dân dã, mang đậm sắc thái Nam Bộ.
 








Các ý kiến mới nhất