Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 10. Hai đứa trẻ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Dương Thị Hồng
Ngày gửi: 15h:56' 14-11-2021
Dung lượng: 66.3 KB
Số lượt tải: 28
Số lượt thích: 0 người
RÈN KĨ NĂNG LÀM ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM GĐ 1930-1945
A. NỘI DUNG KIẾN THỨC
1. Đề tài:
- Người nông dân nghèo
- Tầng lớp dân nghèo thành thị
- Trí thức tiểu tư sản nghèo
2. Chủ đề:
-Miêu tả nỗi thống khổ của người nông dân dưới chế độ siêu cao thuế nặng, tình trạng cướp bóc ruộng đất của bọn thực dân phong kiến đẩy người nông dân vào bước đường cùng, lưu manh hóa làm mất đi bản tính lương thiện gốc rễ của họ.
- Miêu tả cuộc sống tù đọng, bế tắc, bị cái đói cái nghèo bám diết của tầng lớp dân nghèo thành thị trước Cách mạng tháng Tám.
- Miêu tả tấn bi kịch tinh thần của tầng lớp tiểu tư sản, muốn sống xứng đáng với hai chữ CON NGƯỜI nhưng lại bị cái xã hội thực dân phong kiến hủy hoại về nhân tính, bóp chết những ước mơ, bị đẩy vào tình trạng sống mòn không lối thoát.
- Đả kích, châm biếm, căm phẫn hằn học cái xã hội bẩn thỉu, giả dối, vô luân thực dân phong kiến đẻ ra nhiều kẻ quái thai vô đạo đức
3. Ngôi kể (Cách kể chuyện)
Ngôi thứ nhất: Nhân vật là người kể chuyện xưng tôi
Ngôi thứ ba: Tác giả kể truyện, người kể gọi tên các nhân vật
- Cách kể truyện nửa trực tiếp: kết hợp giữa ngôi kể thứ nhất với ngôi kể thứ ba.
4. Phương thức biểu đạt
- PTBĐ: Tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm
5. Giá trị nội dung
Giá trị hiện thực: Phán ánh chân thực bộ mặt xã hội thực dân phong kiến bất công, vô nhân đạo, lố lăng, đồi bại (không gian nghệ thuật: Nông thôn và Thành thị)
Giá trị nhân đạo: Lên án, phê phán sự tàn bạo, vô nhân tính của giai cấp thống trị; cảm thông thương xót đối với những con người nghèo khổ bị áp bức bị dồn đẩy vào bước đường cùng không lối thoát. Đồng thời phát hiện, ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của họ (Tình cảm của nhà văn đối với nhân vật).
7. Hạn chế trong nhận thức của các nhà văn trước CMT8
- Chưa phát hiện được sức mạnh cách mạng của quần chúng nhân dân nên kết chuyện các nhân vật chính đều rơi vào tình cảnh bế tắc, không lối thoát. Họ thường tìm đến cái chết để giải tỏa mọi thống khổ hay chọn cách sống bằng con đường tha hóa, bán rẻ nhân tính để được sống. Điều này khác với các nhà văn sau CMT8.
6. Điểm khác biệt trong cách xây dựng nhân vật của các tác giả văn học hiện đại so với các tác giả văn học trung đại.
- Các nhà văn hiện đại có biệt tài phân tích, mổ xẻ đời sống nội tâm của nhân vật.
THỰC HÀNH LUYỆN ĐỀ
Đề bài 1.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
        Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.
       Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.
(Trích Nhà mẹ Lê – Thạch Lam)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích.
Câu 2: Trong đoạn trích căn nhà của mẹ con bác Lê được miêu tả như thế nào?
Câu 3: Anh/chị cảm nhận như thế nào về nhân vật bác Lê trong đoạn trích?
Câu 4: Nhận xét tình cảm của nhà văn đối với nhân vật.
 
HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY VÀ TRẢ LỜI ĐỀ BÀI 1
Câu 1. Phương thức biểu đat:
Tự sự+Miêu tả

Câu 2. Trong đoạn trích căn nhà mẹ con bác Lê được miêu tả:
Cái nhà lụp xụp; một khoảng rộng bằng hai chiếc chiếu, có một chiếc giường nan đã gãy nát.

Câu 3. Cảm nhận về nhân vật bác Lê:
Bác Lê là nhân vật chính trong tác phẩm. Đó là một người phụ nữ cực khổ (đông con, nghèo đói, phải đi làm thuê làm mướn) song giàu tình thương con, chịu thương chịu khó (dậy sớm đi làm thuê suốt 4 mùa bất kể nắng mưa, rét mướt; ủ ấm cho đàn con).

Câu 4. Nhận xét về tình cảm của nhà văn đối với nhân vật:
Qua đoạn trích trên người đọc dễ dàng cảm nhận được tình yêu thương, sự xót xa, ái ngại của nhà văn đối với cảnh ngộ nghèo khổ của nhà bác Lê. Đó cũng chính là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Từ tấm long đôn hậu, giàu trắc ẩn của nhà văn Thạch Lam đã nhắc nhở chúng ta luôn sống biết yêu thương, san sẻ, giúp đỡ những con người, những mảnh đời còn nhiều khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống ngày hôm nay để họ có được cuộc sống hạnh phúc hơn, để xã hội này sẽ không còn những khổ đau, bất công như trong xã hội xưa.
Đề bài 2.
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi 
        … Điền thương con lắm. Vút cái, Điền thấy Điền không thể nào đi được. Điền không thể sung sướng khi con Điền còn khổ. Chao ôi! Trăng đẹp lắm! Trăng dịu dàng và trong trẻo và bình tĩnh. Nhưng trong trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng và chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than?... Không, không, Điền không thể nào mơ mộng được. Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy. Sự thực giết chết những ước mơ lãng mạn gieo trong đầu óc Điền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Điền muốn tránh sự thực, nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ Điền khổ, con Điền khổ, cha mẹ Điền khổ. Chính Điền cũng khổ. Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như Điền! Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả. Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời …

          Sáng hôm sau, Điền ngồi viết. Giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm. Và cả tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm mất gà.
(Trích Giăng sáng – Nam Cao)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Xác định ngôn ngữ kể chuyện của tác giả được sử dụng trong văn bản.
Câu 3: Anh/chị cảm nhận như thế nào về nhân vật Điền trong văn bản trên?
Câu 4: Điền quan niệm: “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”. Anh/chị có đồng ý với quan niệm đó hay không? Vì sao?
 
HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY VÀ TRẢ LỜI ĐỀ BÀI 2
Câu 1: PTBĐC: Biểu cảm
Câu 2: Ngôn ngữ trong văn bản là ngôn ngữ nửa trực tiếp, nhà văn hóa thân vào nhân vật để cất lên tiếng nói nội tâm của nhân vật ⟶ Ngôn ngữ đa thanh – một trong những đặc trưng của văn xuôi Nam Cao. Nó làm tăng sự chân thực cho đoạn văn.
Câu 3: Cảm nhận về nhân vật Điền:
Là 1 nhà văn có lí tưởng đẹp đẽ về văn chương nghệ thuật. Có cái nhìn chân thực, sâu sắc về cuộc đời, về mối quan hệ giữa văn chương nghệ thuật và cuộc sống: nghệ thuật phải vị nhân sinh chứ k phải nghệ thuật vị nghệ thuật. Điều đó cho thấy đây là nhà văn có tâm huyết, có tình thương và có hoài bão lớn.
Câu 4:  Tôi đồng tình với quan niệm “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”. Vì con người là đối tượng phản ánh của văn học, hiện thực cuộc sống chính là nguồn cảm hứng, là chất liệu tạo nên tác phẩm văn học. Con người cũng chính là đối tượng hướng tới của văn học. Nếu xa rời hiện thực, văn chương sẽ trở nên xáo rỗng; không có độc giả, văn chương sẽ “chết”. Văn chương phải cất lên tiếng nói sẻ chia, đồng cảm với con người mới là văn chương chân chính. Từ quan niệm này chúng ta biết trân trọng những nhà văn nhân đạo từ trong cốt tủy, trân trọng quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”; trân trọng và tìm đọc những tác phẩm văn chương thực sự có giá trị.
 
Gửi ý kiến