Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Từ láy, từ ngẫu hợp

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Quỳnh Nga
Ngày gửi: 20h:18' 22-11-2021
Dung lượng: 210.3 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích: 0 người
TỪ LÁY.
TỪ NGẪU HỢP
Chủ đề thảo luận
I. TỪ LÁY
1. Định nghĩa:
Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi từ lấp láy, từ láy âm).
Từ láy tiếng Việt có độ dài tổi thiếu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng. Tuy nhiên, loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt.
I. Từ láy
Một từ sẽ được gọi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lập (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối), ví dụ : dỏ dàn : điệp phần âm đầu, đối ở phần vần. Vì thế, nếu chỉ có điệp mà không có đối (chẳng hạn như : người người, nhà nhà, ngành ngành...thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy.
I. Từ láy
2. Phân loại
Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy, có thể phân loại từ láy như sau :
I. Từ láy
Từ láy gồm hai tiếng (hay từ láy đôi)
Từ láy gồm hai tiếng (cũng gọi là từ láy đôi) có các dạng cấu tạo như sau:
1. Láy hoàn toàn.
Gọi là láy hoàn toàn nhưng thực ra bộ mặt ngữ âm của hai thành tố (hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều là phần đối của chúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trong yếu tố được gọi là yếu tố láy. Có thể chia các từ láy hoàn toàn thành ba lớp nhỏ hơn :
a) Lớp những từ láy hoàn toàn, chỉ đối nhau ở trọng âm (một trong hai yếu tố được nói nhấn mạnh hoặc kéo dài)

Ví dụ : cào cào, ba ba, khăng khăng,
b) Lớp từ láy hoàn toàn, đối nhau ở thanh điệu. Nguyên tắc đối thanh điệu ở đây là : thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực ; và bằng đứng trước, trắc đứng sau.
Ví dụ : đo đỏ, ngay ngáy, sừng sững, chồm chỗm, vành vạnh, lừng lững, càu cạu, thoang thoảng...

Tuy nhiên, ở đây vẫn có một số ngoại lệ như : cỏn con, mảy may, cuống cuồng...
c) Lớp từ láy hoàn toàn, đối ở phần vẩn nhờ sự chuyển đổi âm cuối theo quy luật dị hóa
m-p ng-c
n-t nh-ch
Ví dụ:
chiêm chiếp, cầm cập, hèm hẹp...
chan chát, khin khít, ngùn ngụt...
khang khác, rừng rực, phưng phức,...
anh ách, chênh chếch, dành đạch,...
Thanh điệu của các yếu tố trong mỗi từ vẫn tuân theo quy luật của lớp b.
2. Láy bộ phận. Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp ở phần vần thi được gọi là từ láy bộ phận. Căn cứ vào đó, có thể chia từ láy bộ phận thành hai lớp:
Từ láy gồm hai tiếng (hay từ láy đôi)
a) Lớp từ láy (điệp) âm đầu, đối ở phần vần
Ví dụ như : bập bềnh, ho he, đẹp đẽ, ngơ ngác, say sưa, xoắn xuýt, vồ vập,...

Trong lớp này, có những từ xét về mặt lịch sử vốn không phải là từ láy, nhưng vì quan hệ về nghĩa giữa các yếu tố của chúng mất dần đi, làm cho quan hệ ngữ âm ngẫu.nhiên giữa các yếu tố đó nổi lên hàng đầu, và hiện giờ người Việt nhất loạt coi chúng là từ láy
Ví dụ : chùa chiền, tuổi tác, giữ gìn,... Nghĩa của những từ như vậy được tổ chức theo kiểu của các từ tre pheo, chó má, đường sá, xe cộ,...
Trong khi xét sự đổi vấn ở đây, cũng cần lưu ý tới hiện tượng đối ứng ở âm chính. Hiện tượng này không phải là quy luật toàn thể, nhưng khá đều đặn ở một số nhóm từ
u – i hú hí, xù xì, tùm tim , mũm mím...
ô – ê: ngô nghê, xồ xề, hổn hển...
o – e: ho he, vo ve, khò khè, nhỏ nhẹ...
i – a: hỉ hả, rỉ rả, xí xóa, hí hoáy...
u – ă:. tung tăng, hung hăng, vùng vằng,...
u – ơ: ngu ngơ, rù rờ, khù khờ, cũn cỡn...
ô – a: hốc hác, mộc mạc...
ê – a: nghê nga, khề khà, rề rà, xuề xòa, hể hả...
b) Lớp từ láy (điệp) phần vần, đối ở âm đầu
Ví dụ như : bâng khuâng, bơ vơ, lưng chừng, lã chã, lúng túng, co ro, lan man,...
Gần nửa số lượng từ láy vần có âm đầu của tiếng thứ nhất là âm l, và phần lớn chúng có chứa một tiếng còn rõ nghĩa. Tuy vậy, vẫn có không ít từ mà cả hai tiếng đều không rõ nghĩa
Ví dụ : bài hoải, hấp tấp, lập cập, bầy hầy, thình lình, lấc cấc...
Từ láy ba và bốn tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng. Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu.
Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, dửng dừng dưng, ,... đủng đà đủng đỉnh, lôi thôi lếch thếch, linh tinh lang tang, vội vội vàng vàng,...
Từ láy ba và bốn tiếng
Trên thực tế, số lượng từ láy ba tiếng và bổn tiếng không nhiều. Mặt khác, có thể coi chúng chi là hệ quả, là bước "tiếp theo” trên cơ chế láy của từ láy hai tiếng mà thôi.
Từ láy ba tiếng:
Từ láy ba tiếng là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến văn (ví dụ nhũn - nhũn nhùn nhùn ; xốp - xốp xồm xộp...).
Nhiều khi ta gặp những "cặp bài trùng" giữa từ láy hai tiếng và láy ba tiếng như: sát sạt - sát sàn sạt; trụi lủi - trụi thui lủi trụi thùi lụi; nhũn nhũn – nhũn nhùn nhùn ; khét lẹt - khét lèn lẹt.
Từ láy bốn tiếng:
Từ láy bốn tiếng thì cấu tạo có đa tạp hơn. Có thể là:
+ "Nhân đôi" từ láy hai tiếng nhưng biến vần của tiếng thứ hai thành e, a, ơ, à, cho phù hợp, hài hòa về âm vực giữa các vần, các thanh:
Vớ vẩn - Vớ va vớ vẩn
Lề mề - lề mà lề mề
+ Nhân đôi từ láy hai tiếng nhưng biến đối sao cho hai tiếng đầu có thanh điệu thuộc âm vực cao, hai tiếng sau mang thanh điệu âm vực thấp
Bồi hổi - Bồi hổi bồi hồi
+ Nhân đôi từng tiếng của từ láy hai tiếng
Hùng hổ - Hùng hùng hổ hổ
Vội vàng - Vội vội vàng vàng
+ Thực hiện cách thứ ba vừa nêu, những biến âm đầu của tiếng thứ nhất và thứ ba thành “l”
Nhồm nhoàm - Lồm ngồm làm nhoàm
Thơ thẩn - Lơ thơ lẩn thẩn
Ngoài ra, còn có một số từ khác không cấu tạo theo các cách nêu trên: hoặc từ một từ gốc có thể cấu tạo hai từ láy bốn tiếng chứ không phải chỉ có một. Chẳng hạn: bù lu bù loa ; bông lông ba,...
II. TỪ NGẪU HỢP
1. Khái niệm
-Kiểu từ ghép trong đó các thành tố trực tiếp được kết hợp với nhau một cách ngẫu nhiên, không dựa trên cơ sở quan hệ ý nghĩa, cũng không dựa trên cơ sở quan hệ ngữ âm, có thể tạm gọi là từ ghép ngẫu hợp.
II. Từ ngẫu hợp
-Số lượng từ ngẫu hợp qua thống kê là rất ít, chỉ có 2 có đơn vị ( chiếm 0,37%) tổng vốn từ chung. Các thành tố trực tiếp được kết hợp với nhau không dựa trên quan hệ ngữ nghĩa hoặc quan hệ ngữ âm. Các từ ngẫu hợp là: vô-lăng, móoc sĩa đoọc, cà phê, a xít, a pa tít,…cổ hũ, mè nheo, ba láp, ba hoa, bồ hóng,…Tất cả chúng đều có nguồn gốc Ấn - Âu, hoặc là thổ ngữ nhưng bị mờ nhạt về ngữ nghĩa.
2. Đặc điểm cấu tạo:
- Trong từ ghép ngẫu hợp, thành tố trực tiếp bao giờ cũng có cấu tạo đơn giản. Môi tiếng ở đây bao giờ cũng đồng thời là một thành tố trực tiếp. Không có loại thành tố trực tiếp gồm đến 2, 3 tiếng như ở một số kiểu từ ghép khác.
Ví dụ: bù nhìn, a xít, a pa tít
- Tiếng đứng làm thành tố trực tiếp trong từ ghép ngẫu hợp bao giờ cũng phải thuộc vào loại tiếng vô nghĩa không độc lập. Chúng chỉ có giá trị đơn thuần hình thái. Hễ vì một lý do nào đấy (vì từ nguyên thông tục hay vì chơi chữ) mà tiếng bắt đầu trở thành có nghĩa thì tức thời từ ngẫu hợp cũng được chuyển sang địa hạt của loại từ ghép nghĩa.
Chẳng hạn ở những người mà cà trong cà phê được nhận thức như là có nghĩa thì cà phê cũng chuyển sang địa hạt từ ghép nghia (cà phê lúc đó được nhận diện như là cũng cấu tạo theo kiểu cà chua, cà pháo,... ) Ở một số bài thơ đả kích khi tác giả dụng ý đổi 0ét mô len thành Vét mồ lên thì tác gia cũng đã làm thời chuyển một từ ngẫu hợp thành từ ghép nghĩa.
- Liên quan đến hai đặc điểm trên là đặc điểm về số lượng thành tố trực tiếp: trong từ ghép ngẫu hợp không có sự quy định về mặt số lượng thành tố trực tiếp: có thể có 2, có 3, 4 hay nhiều hơn nữa. Chính từ ghép ngẫu hợp là nơi thường gặp nhất những trường hợp có từ 3 thành tố trực tiếp trở lên
Ví dụ: pộ lơ lin, bất đắc dĩ; pe ni xi lin
- Cũng liên quan đến các đặc điểm trên là đặc điểm về mặt quan hệ. Trong từ ghép ngẫu hợp bao giờ cũng chỉ có một loại quan hệ: chỉ có quan hệ chính, bậc 1, chứ không có các loại quan hệ phụ bậc 2, bậc 3 v.v..
3. Từ ghép ngẫu hợp có nguồn gốc thuần Việt
Kiểu như: Bù nhìn, bồ hòn, bồ hóng, ễnh ương,... nói chung, không nhiều lắm. Nhưng số lượng từ ghép ngẫu hợp đang có xu thế ngày càng tăng nhanh, vì hai lý do:
a) Nhờ có từ ghép gồm hai tiếng Hán - Việt chuyển sang. Ví dụ: hy sinh, mâu thuẫn, trường hợp...
b) Nhờ có sự xuất hiện ngày càng nhiều của loại từ phiên âm.
Ví dụ: a xít, bù long, cà phê, mỳ chính, tài xế, xô viết, ra đi ô, a pa tít, bôn sẻ nich...
4. Có thể nói rằng bất kỳ từ ngoại quốc nào, nếu được du nhập vào tiếng Việt theo lối phiên âm thì cũng đều thuộc vào loại từ ghép ngẫu hợp này cả. Đây là nét khác căn bản với trường hợp vay mượn từ Hán. Ở Việt Nam có hiện tượng lý thú là tất cả mọi chữ Hán, trên nguyên tắc, đều có thể phát theo âm Hán Việt được cả
THANK YOU!
 
Gửi ý kiến