Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Tuần 11. Có chí thì nên

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Hiền Dịu
Ngày gửi: 20h:04' 25-11-2021
Dung lượng: 7.9 MB
Số lượt tải: 45
Số lượt thích: 0 người
TIẾNG VIỆT LỚP 4

Tiếng Việt
Bài 11A: Có chí thì nên (tiết 1)
(Sách HDH Tiếng Việt 4 tập 1 – trang 110)

Giáo viên: Bùi Thị Hiền Dựu
Trường Tiểu học xã Yên Nam – thị xã Duy Tiên – tỉnh Hà Nam
a) Tranh vẽ những gì?
b) Em có suy nghĩ gì về những hình ảnh trong tranh?
- Một chú bé chăn trâu đứng ngoài lớp nghe thầy giảng bài.
- Những em bé đội mưa gió đi học.
- Những em bé chăm chỉ, miệt mài học tập, nghiên cứu.
1. Quan sát tranh, trả lời câu hỏi
c) Bức tranh muốn nói gì với chúng ta?
Tiếng Việt
Bài 11A: Có chí thì nên (tiết 1)
Mục tiêu
- Đọc - hiểu bài Ông Trạng thả diều
- Giáo dục HS có ý chí vượt khó trong học tập, trong cuộc sống.
2. Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài sau:
Ông Trạng thả diều
Vào đời vua Trần Thái Tông, có một gia đình nghèo sinh được cậu con trai đặt tên là Nguyễn Hiền. Chú bé rất ham thả diều. Lúc còn bé, chú đã biết làm lấy diều để chơi.
Lên sáu tuổi, chú học ông thầy trong làng. Thầy phải kinh ngạc vì chú học đến đâu hiểu ngay đến đó và có trí nhớ lạ thường. Có hôm, chú thuộc hai mươi trang sách mà vẫn có thì giờ chơi diều.
Sau vì nhà nghèo quá, chú phải bỏ học. Ban ngày, đi chăn trâu, dù mưa gió thế nào, chú cũng đứng ngoài lớp học nghe giảng nhờ. Tối đến, chú đợi bạn học thuộc bài mới mượn vở về học. Đã học thì cũng phải đèn sách như ai nhưng sách của chú là lưng trâu, nền cát, bút là ngón tay hay mảnh gạch vỡ; còn đèn là vỏ trứng thả đom đóm vào trong. Bận làm, bận học như thế mà cánh diều của chú vẫn bay cao, tiếng sáo vẫn vi vút tầng mây. Mỗi lần có kì thi ở trường, chú làm bài vào lá chuối khô và nhờ bạn xin thầy chấm hộ. Bài của chú chữ tốt văn hay, vượt xa các học trò của thầy.
Thế rồi, vua mở khoa thi. Chú bé thả diều đỗ Trạng nguyên. Ông Trạng khi ấy mới có mười ba tuổi. Đó là Trạng nguyên trẻ nhất của nước Nam ta.
(theo TRINH ĐƯỜNG)
- Toàn bài đọc với giọng chậm rãi, cảm hứng ca ngợi.
- Đoạn kết của truyện đọc với giọng hào hứng.
- Đối với những câu văn dài chúng ta cần ngắt, nghỉ phù hợp.
Đoạn 1: Từ đầu … làm lấy diều để chơi
- Bài văn được chia thành 4 đoạn:
Đoạn 2 : Lên sáu tuổi …có thì giờ chơi diều
Đoạn 3: Sau vì nhà nghèo … học trò của thầy
Đoạn 4: Phần còn lại
+ Bài văn được chia thành mấy đoạn?
- làm lấy diều
- trong làng
- trang sách
- lưng trâu
4. Cùng luyện đọc:
Luyện đọc từ khó:
Ông Trạng thả diều
Vào đời vua Trần Thái Tông, có một gia đình nghèo sinh được cậu con trai đặt tên là Nguyễn Hiền. Chú bé rất ham thả diều. Lúc còn bé, chú đã biết làm lấy diều để chơi.
Lên sáu tuổi, chú học ông thầy trong làng. Thầy phải kinh ngạc vì chú học đến đâu hiểu ngay đến đó và có trí nhớ lạ thường. Có hôm, chú thuộc hai mươi trang sách mà vẫn có thì giờ chơi diều.
Sau vì nhà nghèo quá, chú phải bỏ học. Ban ngày, đi chăn trâu, dù mưa gió thế nào, chú cũng đứng ngoài lớp học nghe giảng nhờ. Tối đến, chú đợi bạn học thuộc bài mới mượn vở về học. Đã học thì cũng phải đèn sách như ai nhưng sách của chú là lưng trâu, nền cát, bút là ngón tay hay mảnh gạch vỡ; còn đèn là vỏ trứng thả đom đóm vào trong. Bận làm, bận học như thế mà cánh diều của chú vẫn bay cao, tiếng sáo vẫn vi vút tầng mây. Mỗi lần có kì thi ở trường, chú làm bài vào lá chuối khô và nhờ bạn xin thầy chấm hộ. Bài của chú chữ tốt văn hay, vượt xa các học trò của thầy.
Thế rồi, vua mở khoa thi. Chú bé thả diều đỗ Trạng nguyên. Ông Trạng khi ấy mới có mười ba tuổi. Đó là Trạng nguyên trẻ nhất của nước Nam ta.
(theo TRINH ĐƯỜNG)
- Kinh ngạc: Cảm thấy rất lạ trước điều hoàn toàn không ngờ
3. Đọc từ ngữ và lời giải nghĩa:
- Trạng: Tức Trạng Nguyên, người đỗ đầu trong kì thi cao nhất thời xưa
3. Đọc từ ngữ và lời giải nghĩa:
Trạng
Tức Trạng Nguyên, người đỗ đầu trong kì thi cao nhất thời xưa
Cảm thấy rất lạ trước điều hoàn toàn không ngờ
kinh ngạc
Ông Trạng thả diều
Vào đời vua Trần Thái Tông, có một gia đình nghèo sinh được cậu con trai đặt tên là Nguyễn Hiền. Chú bé rất ham thả diều. Lúc còn bé, chú đã biết làm lấy diều để chơi.
Lên sáu tuổi, chú học ông thầy trong làng. Thầy phải kinh ngạc vì chú học đến đâu hiểu ngay đến đó và có trí nhớ lạ thường. Có hôm, chú thuộc hai mươi trang sách mà vẫn có thì giờ chơi diều.
Sau vì nhà nghèo quá, chú phải bỏ học. Ban ngày, đi chăn trâu, dù mưa gió thế nào, chú cũng đứng ngoài lớp học nghe giảng nhờ. Tối đến, chú đợi bạn học thuộc bài mới mượn vở về học. Đã học thì cũng phải đèn sách như ai nhưng sách của chú là lưng trâu, nền cát, bút là ngón tay hay mảnh gạch vỡ; còn đèn là vỏ trứng thả đom đóm vào trong. Bận làm, bận học như thế mà cánh diều của chú vẫn bay cao, tiếng sáo vẫn vi vút tầng mây. Mỗi lần có kì thi ở trường, chú làm bài vào lá chuối khô và nhờ bạn xin thầy chấm hộ. Bài của chú chữ tốt văn hay, vượt xa các học trò của thầy.
Thế rồi, vua mở khoa thi. Chú bé thả diều đỗ Trạng nguyên. Ông Trạng khi ấy mới có mười ba tuổi. Đó là Trạng nguyên trẻ nhất của nước Nam ta.
(theo TRINH ĐƯỜNG)
Thầy phải kinh ngạc vì chú học đến đâu hiểu ngay đến đó và có trí nhớ lạ thường.
Đã học thì cũng phải đèn sách như ai nhưng sách của chú là lưng trâu, nền cát, bút là ngón tay hay mảnh gạch vỡ; còn đèn là vỏ trứng thả đom đóm vào trong.
Luyện đọc câu văn dài:
Ông Trạng thả diều
Vào đời vua Trần Thái Tông, có một gia đình nghèo sinh được cậu con trai đặt tên là Nguyễn Hiền. Chú bé rất ham thả diều. Lúc còn bé, chú đã biết làm lấy diều để chơi.
Lên sáu tuổi, chú học ông thầy trong làng. Thầy phải kinh ngạc vì chú học đến đâu hiểu ngay đến đó và có trí nhớ lạ thường. Có hôm, chú thuộc hai mươi trang sách mà vẫn có thì giờ chơi diều.
Sau vì nhà nghèo quá, chú phải bỏ học. Ban ngày, đi chăn trâu, dù mưa gió thế nào, chú cũng đứng ngoài lớp học nghe giảng nhờ. Tối đến, chú đợi bạn học thuộc bài mới mượn vở về học. Đã học thì cũng phải đèn sách như ai nhưng sách của chú là lưng trâu, nền cát, bút là ngón tay hay mảnh gạch vỡ; còn đèn là vỏ trứng thả đom đóm vào trong. Bận làm, bận học như thế mà cánh diều của chú vẫn bay cao, tiếng sáo vẫn vi vút tầng mây. Mỗi lần có kì thi ở trường, chú làm bài vào lá chuối khô và nhờ bạn xin thầy chấm hộ. Bài của chú chữ tốt văn hay, vượt xa các học trò của thầy.
Thế rồi, vua mở khoa thi. Chú bé thả diều đỗ Trạng nguyên. Ông Trạng khi ấy mới có mười ba tuổi. Đó là Trạng nguyên trẻ nhất của nước Nam ta.
(theo TRINH ĐƯỜNG)
TÌM HIỂU BÀI
5. Cùng tìm hiểu bài:
+ Nguyễn Hiền sống ở đời vua nào?
+ Hoàn cảnh của cậu bé ra sao?
+ Cậu bé ham thích trò chơi gì?
Nguyễn Hiền sống ở đời vua Trần Nhân Tông, cậu bé sinh ra trong một gia đình nghèo Từ nhỏ đã rất ham thả diều... Mặc dù vậy nhưng cậu bé vẫn rất ham học và thông minh.
5. Cùng tìm hiểu bài:
- Lên sáu tuổi đã theo học ông thầy trong làng.
- Học đến đâu, hiểu ngay đến đó.
- Có hôm học thuộc hai mươi trang sách mà vẫn có thời gian để chơi diều.
+ Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy chọn những chi tiết nói lên tư chất thông minh của Nguyễn Hiền trong các ý sau:
- Lúc còn bé, rất ham thả diều.
- Có trí nhớ lạ thường
- Học đến đâu, hiểu ngay đến đó.
- Có hôm học thuộc hai mươi trang sách mà vẫn có thời gian để chơi diều.
+ Những chi tiết nói lên tư chất thông minh của Nguyễn Hiền là:
- Có trí nhớ lạ thường
+ Đoạn 1 và 2 cho em biết điều gì?
- Tư chất thông minh của cậu bé Nguyễn Hiền.
+) Nguyễn Hiền chăm học và chịu khó như thế nào?
Nhà nghèo, phải nghỉ học.
Ban ngày đi chăn trâu, đứng ngoài cửa lớp nghe giảng nhờ.
Tối đến chờ bạn học thuộc bài rồi mượn vở của bạn.
Sách: lưng trâu hay nền cát
Bút: ngón tay hay mảnh gạch vỡ
Đèn: Vỏ trứng thả đom đóm vào trong
Đến kì thi: Nguyễn Hiền làm bài vào lá chuối khô và nhờ bạn xin thầy chấm hộ.
+ Nội dung đoạn 3 nói lên điều gì?
Ý đoạn 3:
Đức tính ham học và chịu khó của Nguyễn Hiền
+ Vì sao chú bé Hiền được gọi là “Ông Trạng thả diều”?
Vì : - Nguyễn Hiền đỗ Trạng Nguyên khi mới 13 tuổi.
- Khi ấy cậu vẫn còn nhỏ và vẫn thích chơi diều.
Nguyễn Hiền được gọi là “Ông Trạng thả diều”
+ Truyện Ông Trạng thả diều muốn nói với chúng ta điều gì?
Truyện Ông Trạng thả diều muốn nói với chúng ta: Dù hoàn cảnh có khó khăn nhưng chúng ta cố gắng vượt qua sẽ thực hiện được những điều mình muốn.
+) Câu tục ngữ hoặc thành ngữ nào dưới đây nói đúng ý nghĩa của câu chuyện Ông Trạng thả diều?
A. Tuổi trẻ tài cao.
C. Công thành danh toại.
B. Có chí thì nên.
Nội dung: Ca ngợi Nguyễn Hiền thông minh, có ý chí vượt khó nên đã đỗ Trạng Nguyên khi mới tròn 13 tuổi.
LUYỆN ĐỌC DIỄN CẢM
* Luyện đọc diễn cảm
- Giọng đọc: Giọng kể chậm rãi, cảm hứng ca ngợi, nhấn giọng những từ ngữ nói về đặc điểm tính cách, sự thông minh, tính cần cù chăm chỉ, sự vượt khó của Nguyễn Hiền: kinh ngạc, lạ thường, hai mươi trang sách, lưng trâu, nền cát, ngón tay, mảnh gạch vỡ, vỏ trứng.
Thầy phải kinh ngạc vì chú học đến đâu hiểu ngay đến đó và có trí nhớ lạ thường. Có hôm chú thuộc hai mươi trang sách mà vẫn có thì giờ chơi diều.
Sau vì nhà nghèo quá, chú phải bỏ học. Ban ngày, đi chăn trâu, dù mưa gió thế nào, chú cũng đứng ngoài lớp nghe giảng nhờ. Tối đến, chú đợi bạn học thuộc bài mới mượn vở về học. Đã học thì cũng phải đèn sách như ai nhưng sách của chú là lưng trâu, nền cát, bút là ngón tay hay mảnh gạch vỡ; còn đèn là vỏ trứng thả đom đóm vào trong.
Câu chuyện khuyên ta phải có ý chí, quyết tâm thì sẽ làm được điều mình mong muốn.
+ Câu chuyện khuyên chúng ta điều gì?
CHÀO CÁC EM
HẸN GẶP LẠI CÁC EM Ở TIẾT HỌC SAU!
468x90
 
Gửi ý kiến