Tìm kiếm Bài giảng
Bài 4. Chuyện người con gái Nam Xương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Nhường
Ngày gửi: 15h:41' 19-09-2022
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 404
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Nhường
Ngày gửi: 15h:41' 19-09-2022
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 404
Số lượt thích:
1 người
(Lê Thị Tuyết Nhung)
*VĂN HỌC TRUNG ĐẠI *(TK X – NỬA CUỐI TK XIX
*Lớp 6
*Lớp 7
*Lớp 9
*Lớp 8
*Truyện
*Nghị luận
*Thơ
*?
*Con hổ có nghĩa
*Thầy thuốc giỏi….
*Nam quốc ....
*Qua đèo Ngang
*Bánh trôi nước
*Bạn đến chơi nhà
*Hịch tướng sĩ
*Nước Đại Việt ta
*Chiếu dời đô
*Bàn luận về …
*?
*?
*Mẹ hiền dạy con
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG * (Trích: “Truyền kì mạn lục” - Nguyễn Dữ)
*V¨n b¶n:
*Lại bài viếng Vũ Thị
*Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương, *Miếu ai như miếu vợ chàng Trương. *Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ, *Cung nước chi cho lụy đến nàng. *Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt, *Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng. *Qua đây bàn bạc mà chơi vậy, *Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng. * _Lê Thánh Tông_
*I. Tìm hiểu chung: * 1. Tác giả :
*Nguyễn Dữ *- Ông sống vào nửa đầu thế kỉ XVI, là học trò giỏi của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. *- Ông là con của Nguyễn Tưởng Phiên ( Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 27- đời vua Lê Thánh Tông 1496) * - Sống vào thời kì chế độ phong kiến Lê-Mạc -Trịnh tranh giành quyền lực, là thời kì triều Lê đã bắt đầu khủng hoảng- mở đầu cho một chặng dài lịch sử tối tăm của XH nước ta thời PK: loạn lạc triền miên, dân tình khốn khổ. * - Thi đỗ hương cống, chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi rừng Thanh Hoá. *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
*- Nguyễn Dữ- sống ở thế kỷ XVI, lúc chế độ phong kiến lâm vào tình trạng loạn li suy yếu * - Quê ở Hải Dương, là người học rộng tài cao; sống ẩn dật, thanh cao.
* *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
*Trích Truyền kì mạn lục , tác phẩm viết chữ Hán, gồm 20 truyện *Truyện truyền kì thường mô phỏng những cốt truyện dân gian hoặc dã sử vốn đã lưu truyền rộng rãi trong nhân dân *Tác phẩm được xem là _“một áng thiên cổ kì bút”_ (áng văn hay của ngàn đời)- ( Vũ Khâm Lân đời hậu Lê). *Có thể nói Nguyễn Dữ đã gửi gắm vào tác phẩm tất cả tâm tư, tình cảm, nhận thức và khát vọng của người trí thức có lương tri trước những vấn đề lớn của thời đại, của con người. * * * * * *
*2.Tác phẩm: *
*-CNCGNX là truyện thứ 16 trong 20 truyện của TKML. Truyện được tái tạo trên cơ sở truyện cổ tích: _vợ chàng Trương._
*- Tác phẩm ra đời vào thế kỉ XVI, triều đình nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền binh, gây ra nội chiến kéo dài, làm nhân dân vô cùng cực khổ cũng như gây ra bi kịch cho biết bao gia đình.
*a. Hoàn cảnh sáng tác:
*b. Xuất xứ: *
* - Ghi chép những điều kỳ lạ được lưu truyền trong dân gian. *- Viết bằng chữ Hán.
*c. Nhan đề:Truyền kì mạn lục: *
* *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
* NHÂN VẬT *- Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) – *- Trương Sinh *- Mẹ chồng Vũ Nương *- Bé Đản
* TÓM TẮT *Vũ Nương và Trương Sinh kết hôn, đang sum họp đầm ấm thì có nạn binh đao, Trương Sinh phải đăng lính. *Nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi con nhỏ. *Khi Trương Sinh về, đứa bé ngây thơ kể với Trương Sinh về người (chiếc bóng) đêm đêm vẫn đến với mẹ con nó. Chàng nổi máu ghen, mắng nhiếc vợ thậm tệ, rồi đánh đuổi đi. *Nàng phẫn uất, chạy ra bến Hoàng Giang tự trẫm. *Một đêm cùng con bên ngọn đèn khuya, Trương Sinh mới vỡ lẽ về nỗi oan của vợ. *Vũ Nương được tiên cứu và ở dưới cung nước rùa thần Linh Phi. *Nghe lời Phan Lang, Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho Vũ Nương ở bến Hoàng Giang. *Vũ Nương hiện về trong chốc lát rồi biến mất. *
*Nhân vật chính
* *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
** Bố cục:
* 3 phần:
*ND bố cục
*Cuộc hôn nhân của Vũ Nương * và Trương Sinh. *
*Nỗi oan khuất và cái chết * bi thảm của Vũ Nương. *
*-Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương * và Phan Lang dưới động *Linh Phi. *-Vũ Nương được giải oan *
*P.2
*P.1
*P.3
*P.1.Từ đầu ”như cha mẹ đẻ mình”. *P.2.Tiếp “đã qua rồi”. *P.3.Còn lại
* *Phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương * *a. Giới thiệu *Tính thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp. *=> Vũ Nương mang vẻ đẹp chuẩn mực của người phụ nữ theo quan *niệm Nho giáo xưa, gồm đủ “công-dung-ngôn-hạnh”. * *b. Diễn biến cuộc đời VN * * ** Trong cuộc sống vợ chồng : _nàng luôn giữ gìn khuôn phép, _ *_ *không để vợ chồng phải bất hoà_. * * ** Khi tiễn chồng đi lính: *- Không mong hiển vinh, cầu mong cho chồng bình an trở về. *- Cảm thông trước nỗi vất vả gian lao mà chồng phải chịu đựng.
*II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
*VN rót chén rượu nồng ấm và dành cho chồng những lời dặn dò thiết tha, tình nghĩa: Không trông mong vinh hiển mà chỉ mong chồng bình an trở về “ thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mạc áo gấm trở về quê cũ chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” *VN thấy trước những khó khăn mà TS phải đối mặt. nàng bộc lộ nỗi lo lắng và cả niềm cảm thông trước bao gian lao, hiểm nguy mà người chồng sẽ phải trải quan nơi chiến trận: “ Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường…” *Lời nói của VN trong giây phút chia xa thắm đẫm nối nhớ nhung khắc khoải, đợi chờ: “ Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa…”. Những lời nói rất mực ân tình,cảm động, nghẹn ngào, thổn thức trong hàng lệ nhớ thương. Không chỉ VN khóc mà “ mói người đều ứa hai hàng lệ” xót xa. *Vn luôn khát khao hp gia đình, khát khao sum họp, đoàn tụ “ Nàng không muốn xa cách những buộc phải cách xa. Bởi vậy buổi chia tay này, lòng người nặng trĩu “ nhuộm mối tình muôn dặm quan san”
Gi¶i thÝch v× sao Vò Nư¬ng chØ mong chång b×nh an chø kh«ng cÇu hiÓn vinh?
* Gi¶i thÝch v× sao Vò Nư¬ng chØ mong chång b×nh an chø kh«ng cÇu hiÓn vinh?
* Khi tiễn chồng đi tòng quân, tính cách của Vũ nương được thể hiện ở lời đưa tiễn. Nàng nói với chồng: _“Lang quân đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”._ Nàng nghĩ đến những khó nhọc, gian nguy của người chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi của mình. Từ cách nói đến nội dung của những câu nói hiện lên một Vũ nương dịu dàng, thiết tha với hạnh phúc, không hư danh, thương chồng và giàu lòng vị tha, một tâm hồn có văn hoá.
*- Suốt tg xa cách, VN mang trong lòng một nỗi nhớ, niềm thương trĩu nặng. *- Nàng không nguôi nhớ đến TS, nỗi nhớ nhung cứ khắc khoải dài theo năm tháng: “ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Tác giả đã dùng những hình ảnh ước lệ để diễn tả dòng chảy của thời gian: Bướm lượn đầy vườn- mùa xuân tươi vui. Mây che kín núi - mùa đông ảm đạm *-> những hình ảnh ước lệ vừa là cảnh sắc thiên nhiên, vừa là biểu tượng của thời gian luôn tác động đến tâm trạng nhứ mong của nàng. *- Dẫu xa cách cô đơn nhưng nàng luôn giữ gìn đức hạnh, một lòng thủy chung sắt son.
* ** Khi xa chồng: * * *- Là người vợ thuỷ chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ *chồng dài theo năm tháng. * *- Là người mẹ hiền, một mình vừa nuôi con nhỏ. *- Là người con dâu hiếu thảo: * *+ Khi mẹ chồng bệnh: nàng chăm sóc, lo thuốc thang và lấy *lời ngọt ngào, khôn khéo khuyên lơn. * *+ Khi mẹ chồng mất: lo việc ma chay tế lễ như đối với cha mẹ *đẻ mình.
*
*
*Thể hiện sự ghi nhận nhân cách và đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình nhà chồng, niềm tin Vũ Nương có hạnh phúc khi Trương Sinh trở về.
* “- Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng ăn miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song, lòng tham không cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. *
*Nhận xét về lời trăng trối của mẹ chồng Vũ Nương:
*_* Nỗi oan khuất._
*- ThiÕp vèn con kÎ khã, ®îc n¬ng tùa nhµ giµu./Sum häp cha tháa t×nh ch¨n gèi, chia ph«i v× ®éng viÖc löa binh./ C¸ch biÖt ba n¨m gi÷ g×n mét tiÕt. T« son ®iÓm phÊn tõng ®· ngu«i lßng, ngâ liÔu têng hoa cha hÒ bÐn gãt. §©u cã sù mÊt nÕt h th©n nh lêi chµng nãi./D¸m xin bµy tá ®Ó cëi mèi nghi ngê. Mong chµng ®õng mét mùc nghi oan cho thiÕp./
*_ Nµng_ _ph©n trÇn ®Ó chång hiÓu râ tÊm lßng m×nh, cÇu xin chång ®õng nghi oan._
*Lời thoại 1
* Nói đến tình nghĩa vợ chồng
* Nói đến thân phận
* Khẳng định tấm lòng sắt son
* Cầu xin chồng đừng nghi oan
*_* Nỗi oan khuất:_
*-Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất./ Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió;/ khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.
*_ Nỗi đau đớn, thất vọng của Vũ Nương khi hạnh phúc gia đình tan vỡ, tình yêu không còn và không hiểu vì sao mình bị đối xử bất công._
* Hạnh phúc gia đình tan vỡ.
* Khát khao hạnh phúc.
* Đau đớn tột cùng vì tình yêu không còn.
*Lời thoại 2
Bao nhiêu công sức, tâm sức chắt chiu để vun đắp gìn giữ cái gia đình bé nhỏ đã trở nên hoàn toàn vô nghĩa, nàng đã tuyệt vọng, bơ vơ, không lối thoát, nên phải tìm đến cái chết ...
*_* Nỗi oan khuất:_
*Đọc đoạn trích: * “ Đoạn rồi nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng: *-Kẻ bạc mệnh này…mọi người phỉ nhổ. * Nói xong nàng gieo mình xuống sông mà chết.”
*Có cho rằng trong hành động của Vũ Nương có nỗi đắng cay, tuyệt vọng nhưng không phải là hành động bột phát trong cơn nóng giận. Em có tán thành với ý kiến của bạn không?
*Thảo luận
*Bao nhiêu công sức, tâm sức chắt chiu để vun đắp gìn giữ cái gia đình bé nhỏ đã trở nên hoàn toàn vô nghĩa, nàng đã tuyệt vọng, bơ vơ, không lối thoát, nên phải tìm đến cái chết ... * Thực chất là Vũ Nương đã bị bức tử, nhưng nàng đi đến cái chết thật bình tĩnh : tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng ... * Cái chết ấy là sự đầu hàng số phận nhưng cũng là lời tố cáo thói ghen tuông ích kỉ, sự hồ đồ, vũ phu của đàn ông và luật lệ phong kiến hà khắc dung túng cho sự độc ác, tối tăm.
*Lời thoại 3
** Khi bị chồng nghi oan * *Lần thứ nhất : Nàng hết lời giải thích “...” *-> Thuyết phục Trương Sinh, mong muốn hàn gắn *hạnh phúc gia đình. * * * Lần thứ hai : Bày tỏ tâm trạng đau đớn, thất vọng *khi hạnh phúc, tình yêu tan vỡ ; khi bị chồng đối xử *bất công. * * * Lần thứ ba : Gieo mình xuống sông Hoàng Giang *. *tự tử * *-> Một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, đảm *đang, tháo vát, dâu thảo, vợ hiền … nhưng phải chết *oan nghiệt.
*=> Cái chết ấy là sự đầu hàng số phận nhưng cũng là lời tố cáo thói ghen tuông ích kỉ, sự hồ đồ, vũ phu của đàn ông và luật lệ phong kiến hà khắc dung túng cho sự độc ác, tối tăm.
* Diễn biến tâm trạng của Vũ Nương khi gặp Phan Lang.
* Phần truyền kì trong câu chuyện là chuyện * Vũ nương không chết, trở về sống trong Quy động của * Nam Hải Long Vương… đó là cuộc sống đời đời. *Nhà văn đã tạo ra một cuộc gặp gỡ kì thú giữa Phan Lang – *một người dương thế - với Vũ Nương nơi động tiên. *Cuộc gặp gỡ ấy đã làm sáng tỏ thêm những phẩm chất * của Vũ nương. Ban đầu, Vũ Nương còn do dự vì vẫn còn *chút uất ức, nhưng Khi Phan Lang nhắc đến chuyện nhà *của tổ tiên thì Vũ nương “ứa nước mắt khóc”. Nàng quả *Thật là một con người thiện căn, thiết tha gắn bó với quê *hương đời sống mà không được sống. Tính cách của *nàng và bi kịch như được tô đậm khơi sâu một lần nữa. *Nhưng dụng ý của nhà văn đưa phần truyền kì vào câu *chuyện không chỉ có thế. Nguyễn Dữ muốn khẳng định * một chân lí nghệ thuật: Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp *của Vũ Nương, đồng thời khẳng định cái Ðẹp là bất tử. *Vũ nương không sống được ở cõi đời thì sẽ sống vĩnh * hằng ở cõi tiên, vì nàng là hiện thân của cái Ðẹp.
* * Hình ảnh Vũ Nương hiện về, lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất.
*Vũ Nương đầu tiên không muốn về vì nghĩ mình oan chưa * được giải. Nàng vẫn đành cam chịu số phận. *Nhưng sau đó nàng lại gửi hoa vàng, nhắn chồng lập đàn *giải oan rồi sẽ trở về. Trước hết và chủ yếu là nàng muốn * được thanh minh, được bảo toàn danh dự. Nhưng rồi * nàng cũng chỉ hiện về lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất. *=>Qua đó, tác giả mơ ước sự thật phải được sáng tỏ, người hiền *phải được đền đáp. Đó là một kết thúc có hậu, thể hiện *ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về lẽ công bằng. *Mặt khác, sự thật vẫn là sự thật: Vũ Nương đã chết, không *còn cơ hội để có thể sum họp cùng chồng con. Một chân * lý nữa được bày tỏ: hạnh phúc đã trôi vuột khỏi tầm tay, * không thể cứu vãn được nữa. Xã hội và gia đình *phong kiến phụ quyền không có chỗ cho những người *như Vũ Nương. Tính bi kịch vẫn còn tiềm ẩn đâu đó trong *Cái lung linh huyền ảo ấy.
* Đền Vũ Điện, còn gọi là Đền Bà Vũ, *miếu vợ chàng Trương, thuộc thôn *Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam. *
*Một đoạn sông Hoµng Giang trước đền
* *b. Nhân vật Trương Sinh *- Có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. *- Lại là người ít học. *- Tâm trạng Trương Sinh khi trở về rất u uất, nặng nề (Vì *mẹ mất) *- Vốn sẵn tính ghen, chàng tin ngay lời con trẻ. *-> Vội vàng mắng nhiếc đuổi vợ đi . *+ Không để cho vợ biện minh . *+ Không tin cả hàng xóm . * *Hồ đồ, độc đoán, vũ phu, ghen tuông mù quáng -> đẩy *vợ đến cái chết .
*_NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN BI KỊCH CỦA VŨ NƯƠNG_ *_- Nguyên nhân trực tiếp:_ *+ Lời nói ngây thơ của bé Đản đã vô tình gây nên mối hiểu lầm của Trương Sinh. *+ Nguyên nhân đáng trách nhất để dẫn đến cái chết oan khuất của Vũ Nương đó là tính cách đa nghi, ít học của Trương Sinh. Khi nghe lời nói ngây thơ của con trẻ, chàng chẳng thèm suy xét đúng sai hay lắng nghe những lời phân trần mà vội vàng kết tội vợ mình. Chính sự hồ đồ, độc đoán, tệ bạc này của Trương Sinh là nguyên nhân quan trọng nhất đẩy Vũ Nương đến đường cùng không lối thoát. Nếu Trương Sinh là một người tỉnh táo và biết lắng nghe, suy xét, có lẽ bi kịch này sẽ không xảy ra. *_- Nguyên nhân gián tiếp:_ *+ Do chế độ nam quyền độc đoán, một xã hội mà nam nữ không bình đẳng, hôn nhân không có tình yêu và tự do. *+ Do chiến tranh phong kiến phi nghĩa dẫn đến sự chia lìa, hiểu lầm dẫn đến tan nát gia đình.
*3. Yếu tố truyền kì *+ Phan Lang lạc vào động rùa. *+ Linh Phi cứu sống và đãi yến tiệc. *+ Gặp lại Vũ Nương người cùng làng. *+ Vũ Nương ngồi trên kiệu hoa khi Trương Sinh lập đàn giải oan. * *=> Thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng trong *cuộc đời. Niềm oan khuất của Vũ Nương được giải toả. * *_ _
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
*- Tác phẩm là bản án đanh thép tố cáo bản chất vô nhân đạo của XHPK. *- Khẳng định và ngợi ca phẩm chất, tâm hồn cao đẹp truyền thống của người phụ nữ VN. *- Thái độ cảm thông chân thành của nhà văn. * GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO. *
*III.Tổng kết:
*1. Nội dung.
*1. Nghệ thuật.
*- Khai thác vốn văn học dân gian. *- Nghệ thuật kể chuyện đầy sáng tạo: * + Những nhân vật có tính cách rõ nét, đặc biệt là Vũ Nương. * + Cách kể chuyện hấp dẫn, sử dụng yếu tố truyền kỳ, xây dựng hình ảnh “cái bóng” đầy dụng ý. *- Kết thúc tác phẩm bất ngờ, không mòn sáo, hàm ý sâu sắc.
*VI. Luyện tập:
*1. Kể tóm tắt văn bản _Chuyện người con gái Nam Xương:_ * Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương là người con gái thùy mị nết na tư dung tốt đẹp nên Trương Sinh đem lòng yêu mến bảo mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng làm vợ. Biết chồng có tính đa nghi Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép ăn ở đúng mực. Gả cho Trương Sinh chưa được bao lâu thì phải tiễn chồng đi lính. Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già, con trẻ. Bà mẹ vì quá nhớ con buồn rầu mà chết. Nàng ma chay tế lễ chu đáo. Vũ Nương hàng đêm thường chỉ bóng mình trên vách bảo với con đấy là cha Đản. Khi giặc tan Trương Sinh trở về đứa trẻ không nhận là cha mình. Trương Sinh tình cờ biết con còn có một người khác mà đêm đêm vẫn đến, nghi ngờ vợ mình thất tiết, về đến nhà chàng mắng chửi thậm tệ và ruồng bỏ đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà mặc cho hàng xóm và nàng đã hết sức thanh minh. Vũ Nương uất ức tự tử ở bến Hoàng Giang được Linh Phi - vợ vua Nam Hải cứu sống và đưa về ở trong động rùa. Ở nhà, đêm tối bóng Trương Sinh in trên vách thấy con gọi cha Trương Sinh mới vỡ lẽ ra nỗi oan của vợ thì quá muộn. Ở dưới thủy cung, Vũ Nương luôn hướng về gia đinh nhờ sự giúp đỡ của Linh Phi và Phan Lang (người cùng làng) Vũ Nương được Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang. Sự trở về của nàng vô cùng lộng lẫy lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất. *2. Viết đoạn văn 8 – 10 dòng trình bày cảm nhận của em về Trương Sinh (hoặc mẹ chồng Vũ Nương)
* *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
* NHÂN VẬT *- Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) – *- Trương Sinh *- Mẹ chồng Vũ Nương *- Bé Đản
* TÓM TẮT *Vũ Nương và Trương Sinh kết hôn, đang sum họp đầm ấm thì có nạn binh đao, Trương Sinh phải đăng lính. *Nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi con nhỏ. *Khi Trương Sinh về, đứa bé ngây thơ kể với Trương Sinh về người (chiếc bóng) đêm đêm vẫn đến với mẹ con nó. Chàng nổi máu ghen, mắng nhiếc vợ thậm tệ, rồi đánh đuổi đi. *Nàng phẫn uất, chạy ra bến Hoàng Giang tự trẫm. *Một đêm cùng con bên ngọn đèn khuya, Trương Sinh mới vỡ lẽ về nỗi oan của vợ. *Vũ Nương được tiên cứu và ở dưới cung nước rùa thần Linh Phi. *Nghe lời Phan Lang, Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho Vũ Nương ở bến Hoàng Giang. *Vũ Nương hiện về trong chốc lát rồi biến mất. *
*Nhân vật chính
*Lớp 6
*Lớp 7
*Lớp 9
*Lớp 8
*Truyện
*Nghị luận
*Thơ
*?
*Con hổ có nghĩa
*Thầy thuốc giỏi….
*Nam quốc ....
*Qua đèo Ngang
*Bánh trôi nước
*Bạn đến chơi nhà
*Hịch tướng sĩ
*Nước Đại Việt ta
*Chiếu dời đô
*Bàn luận về …
*?
*?
*Mẹ hiền dạy con
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG * (Trích: “Truyền kì mạn lục” - Nguyễn Dữ)
*V¨n b¶n:
*Lại bài viếng Vũ Thị
*Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương, *Miếu ai như miếu vợ chàng Trương. *Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ, *Cung nước chi cho lụy đến nàng. *Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt, *Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng. *Qua đây bàn bạc mà chơi vậy, *Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng. * _Lê Thánh Tông_
*I. Tìm hiểu chung: * 1. Tác giả :
*Nguyễn Dữ *- Ông sống vào nửa đầu thế kỉ XVI, là học trò giỏi của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. *- Ông là con của Nguyễn Tưởng Phiên ( Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 27- đời vua Lê Thánh Tông 1496) * - Sống vào thời kì chế độ phong kiến Lê-Mạc -Trịnh tranh giành quyền lực, là thời kì triều Lê đã bắt đầu khủng hoảng- mở đầu cho một chặng dài lịch sử tối tăm của XH nước ta thời PK: loạn lạc triền miên, dân tình khốn khổ. * - Thi đỗ hương cống, chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi rừng Thanh Hoá. *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
*- Nguyễn Dữ- sống ở thế kỷ XVI, lúc chế độ phong kiến lâm vào tình trạng loạn li suy yếu * - Quê ở Hải Dương, là người học rộng tài cao; sống ẩn dật, thanh cao.
* *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
*Trích Truyền kì mạn lục , tác phẩm viết chữ Hán, gồm 20 truyện *Truyện truyền kì thường mô phỏng những cốt truyện dân gian hoặc dã sử vốn đã lưu truyền rộng rãi trong nhân dân *Tác phẩm được xem là _“một áng thiên cổ kì bút”_ (áng văn hay của ngàn đời)- ( Vũ Khâm Lân đời hậu Lê). *Có thể nói Nguyễn Dữ đã gửi gắm vào tác phẩm tất cả tâm tư, tình cảm, nhận thức và khát vọng của người trí thức có lương tri trước những vấn đề lớn của thời đại, của con người. * * * * * *
*2.Tác phẩm: *
*-CNCGNX là truyện thứ 16 trong 20 truyện của TKML. Truyện được tái tạo trên cơ sở truyện cổ tích: _vợ chàng Trương._
*- Tác phẩm ra đời vào thế kỉ XVI, triều đình nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền binh, gây ra nội chiến kéo dài, làm nhân dân vô cùng cực khổ cũng như gây ra bi kịch cho biết bao gia đình.
*a. Hoàn cảnh sáng tác:
*b. Xuất xứ: *
* - Ghi chép những điều kỳ lạ được lưu truyền trong dân gian. *- Viết bằng chữ Hán.
*c. Nhan đề:Truyền kì mạn lục: *
* *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
* NHÂN VẬT *- Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) – *- Trương Sinh *- Mẹ chồng Vũ Nương *- Bé Đản
* TÓM TẮT *Vũ Nương và Trương Sinh kết hôn, đang sum họp đầm ấm thì có nạn binh đao, Trương Sinh phải đăng lính. *Nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi con nhỏ. *Khi Trương Sinh về, đứa bé ngây thơ kể với Trương Sinh về người (chiếc bóng) đêm đêm vẫn đến với mẹ con nó. Chàng nổi máu ghen, mắng nhiếc vợ thậm tệ, rồi đánh đuổi đi. *Nàng phẫn uất, chạy ra bến Hoàng Giang tự trẫm. *Một đêm cùng con bên ngọn đèn khuya, Trương Sinh mới vỡ lẽ về nỗi oan của vợ. *Vũ Nương được tiên cứu và ở dưới cung nước rùa thần Linh Phi. *Nghe lời Phan Lang, Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho Vũ Nương ở bến Hoàng Giang. *Vũ Nương hiện về trong chốc lát rồi biến mất. *
*Nhân vật chính
* *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
** Bố cục:
* 3 phần:
*ND bố cục
*Cuộc hôn nhân của Vũ Nương * và Trương Sinh. *
*Nỗi oan khuất và cái chết * bi thảm của Vũ Nương. *
*-Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương * và Phan Lang dưới động *Linh Phi. *-Vũ Nương được giải oan *
*P.2
*P.1
*P.3
*P.1.Từ đầu ”như cha mẹ đẻ mình”. *P.2.Tiếp “đã qua rồi”. *P.3.Còn lại
* *Phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương * *a. Giới thiệu *Tính thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp. *=> Vũ Nương mang vẻ đẹp chuẩn mực của người phụ nữ theo quan *niệm Nho giáo xưa, gồm đủ “công-dung-ngôn-hạnh”. * *b. Diễn biến cuộc đời VN * * ** Trong cuộc sống vợ chồng : _nàng luôn giữ gìn khuôn phép, _ *_ *không để vợ chồng phải bất hoà_. * * ** Khi tiễn chồng đi lính: *- Không mong hiển vinh, cầu mong cho chồng bình an trở về. *- Cảm thông trước nỗi vất vả gian lao mà chồng phải chịu đựng.
*II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
*VN rót chén rượu nồng ấm và dành cho chồng những lời dặn dò thiết tha, tình nghĩa: Không trông mong vinh hiển mà chỉ mong chồng bình an trở về “ thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mạc áo gấm trở về quê cũ chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” *VN thấy trước những khó khăn mà TS phải đối mặt. nàng bộc lộ nỗi lo lắng và cả niềm cảm thông trước bao gian lao, hiểm nguy mà người chồng sẽ phải trải quan nơi chiến trận: “ Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường…” *Lời nói của VN trong giây phút chia xa thắm đẫm nối nhớ nhung khắc khoải, đợi chờ: “ Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa…”. Những lời nói rất mực ân tình,cảm động, nghẹn ngào, thổn thức trong hàng lệ nhớ thương. Không chỉ VN khóc mà “ mói người đều ứa hai hàng lệ” xót xa. *Vn luôn khát khao hp gia đình, khát khao sum họp, đoàn tụ “ Nàng không muốn xa cách những buộc phải cách xa. Bởi vậy buổi chia tay này, lòng người nặng trĩu “ nhuộm mối tình muôn dặm quan san”
Gi¶i thÝch v× sao Vò Nư¬ng chØ mong chång b×nh an chø kh«ng cÇu hiÓn vinh?
* Gi¶i thÝch v× sao Vò Nư¬ng chØ mong chång b×nh an chø kh«ng cÇu hiÓn vinh?
* Khi tiễn chồng đi tòng quân, tính cách của Vũ nương được thể hiện ở lời đưa tiễn. Nàng nói với chồng: _“Lang quân đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”._ Nàng nghĩ đến những khó nhọc, gian nguy của người chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi của mình. Từ cách nói đến nội dung của những câu nói hiện lên một Vũ nương dịu dàng, thiết tha với hạnh phúc, không hư danh, thương chồng và giàu lòng vị tha, một tâm hồn có văn hoá.
*- Suốt tg xa cách, VN mang trong lòng một nỗi nhớ, niềm thương trĩu nặng. *- Nàng không nguôi nhớ đến TS, nỗi nhớ nhung cứ khắc khoải dài theo năm tháng: “ Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Tác giả đã dùng những hình ảnh ước lệ để diễn tả dòng chảy của thời gian: Bướm lượn đầy vườn- mùa xuân tươi vui. Mây che kín núi - mùa đông ảm đạm *-> những hình ảnh ước lệ vừa là cảnh sắc thiên nhiên, vừa là biểu tượng của thời gian luôn tác động đến tâm trạng nhứ mong của nàng. *- Dẫu xa cách cô đơn nhưng nàng luôn giữ gìn đức hạnh, một lòng thủy chung sắt son.
* ** Khi xa chồng: * * *- Là người vợ thuỷ chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ *chồng dài theo năm tháng. * *- Là người mẹ hiền, một mình vừa nuôi con nhỏ. *- Là người con dâu hiếu thảo: * *+ Khi mẹ chồng bệnh: nàng chăm sóc, lo thuốc thang và lấy *lời ngọt ngào, khôn khéo khuyên lơn. * *+ Khi mẹ chồng mất: lo việc ma chay tế lễ như đối với cha mẹ *đẻ mình.
*
*
*Thể hiện sự ghi nhận nhân cách và đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình nhà chồng, niềm tin Vũ Nương có hạnh phúc khi Trương Sinh trở về.
* “- Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng ăn miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song, lòng tham không cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. *
*Nhận xét về lời trăng trối của mẹ chồng Vũ Nương:
*_* Nỗi oan khuất._
*- ThiÕp vèn con kÎ khã, ®îc n¬ng tùa nhµ giµu./Sum häp cha tháa t×nh ch¨n gèi, chia ph«i v× ®éng viÖc löa binh./ C¸ch biÖt ba n¨m gi÷ g×n mét tiÕt. T« son ®iÓm phÊn tõng ®· ngu«i lßng, ngâ liÔu têng hoa cha hÒ bÐn gãt. §©u cã sù mÊt nÕt h th©n nh lêi chµng nãi./D¸m xin bµy tá ®Ó cëi mèi nghi ngê. Mong chµng ®õng mét mùc nghi oan cho thiÕp./
*_ Nµng_ _ph©n trÇn ®Ó chång hiÓu râ tÊm lßng m×nh, cÇu xin chång ®õng nghi oan._
*Lời thoại 1
* Nói đến tình nghĩa vợ chồng
* Nói đến thân phận
* Khẳng định tấm lòng sắt son
* Cầu xin chồng đừng nghi oan
*_* Nỗi oan khuất:_
*-Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất./ Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió;/ khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.
*_ Nỗi đau đớn, thất vọng của Vũ Nương khi hạnh phúc gia đình tan vỡ, tình yêu không còn và không hiểu vì sao mình bị đối xử bất công._
* Hạnh phúc gia đình tan vỡ.
* Khát khao hạnh phúc.
* Đau đớn tột cùng vì tình yêu không còn.
*Lời thoại 2
Bao nhiêu công sức, tâm sức chắt chiu để vun đắp gìn giữ cái gia đình bé nhỏ đã trở nên hoàn toàn vô nghĩa, nàng đã tuyệt vọng, bơ vơ, không lối thoát, nên phải tìm đến cái chết ...
*_* Nỗi oan khuất:_
*Đọc đoạn trích: * “ Đoạn rồi nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng: *-Kẻ bạc mệnh này…mọi người phỉ nhổ. * Nói xong nàng gieo mình xuống sông mà chết.”
*Có cho rằng trong hành động của Vũ Nương có nỗi đắng cay, tuyệt vọng nhưng không phải là hành động bột phát trong cơn nóng giận. Em có tán thành với ý kiến của bạn không?
*Thảo luận
*Bao nhiêu công sức, tâm sức chắt chiu để vun đắp gìn giữ cái gia đình bé nhỏ đã trở nên hoàn toàn vô nghĩa, nàng đã tuyệt vọng, bơ vơ, không lối thoát, nên phải tìm đến cái chết ... * Thực chất là Vũ Nương đã bị bức tử, nhưng nàng đi đến cái chết thật bình tĩnh : tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng ... * Cái chết ấy là sự đầu hàng số phận nhưng cũng là lời tố cáo thói ghen tuông ích kỉ, sự hồ đồ, vũ phu của đàn ông và luật lệ phong kiến hà khắc dung túng cho sự độc ác, tối tăm.
*Lời thoại 3
** Khi bị chồng nghi oan * *Lần thứ nhất : Nàng hết lời giải thích “...” *-> Thuyết phục Trương Sinh, mong muốn hàn gắn *hạnh phúc gia đình. * * * Lần thứ hai : Bày tỏ tâm trạng đau đớn, thất vọng *khi hạnh phúc, tình yêu tan vỡ ; khi bị chồng đối xử *bất công. * * * Lần thứ ba : Gieo mình xuống sông Hoàng Giang *. *tự tử * *-> Một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục, đảm *đang, tháo vát, dâu thảo, vợ hiền … nhưng phải chết *oan nghiệt.
*=> Cái chết ấy là sự đầu hàng số phận nhưng cũng là lời tố cáo thói ghen tuông ích kỉ, sự hồ đồ, vũ phu của đàn ông và luật lệ phong kiến hà khắc dung túng cho sự độc ác, tối tăm.
* Diễn biến tâm trạng của Vũ Nương khi gặp Phan Lang.
* Phần truyền kì trong câu chuyện là chuyện * Vũ nương không chết, trở về sống trong Quy động của * Nam Hải Long Vương… đó là cuộc sống đời đời. *Nhà văn đã tạo ra một cuộc gặp gỡ kì thú giữa Phan Lang – *một người dương thế - với Vũ Nương nơi động tiên. *Cuộc gặp gỡ ấy đã làm sáng tỏ thêm những phẩm chất * của Vũ nương. Ban đầu, Vũ Nương còn do dự vì vẫn còn *chút uất ức, nhưng Khi Phan Lang nhắc đến chuyện nhà *của tổ tiên thì Vũ nương “ứa nước mắt khóc”. Nàng quả *Thật là một con người thiện căn, thiết tha gắn bó với quê *hương đời sống mà không được sống. Tính cách của *nàng và bi kịch như được tô đậm khơi sâu một lần nữa. *Nhưng dụng ý của nhà văn đưa phần truyền kì vào câu *chuyện không chỉ có thế. Nguyễn Dữ muốn khẳng định * một chân lí nghệ thuật: Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp *của Vũ Nương, đồng thời khẳng định cái Ðẹp là bất tử. *Vũ nương không sống được ở cõi đời thì sẽ sống vĩnh * hằng ở cõi tiên, vì nàng là hiện thân của cái Ðẹp.
* * Hình ảnh Vũ Nương hiện về, lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất.
*Vũ Nương đầu tiên không muốn về vì nghĩ mình oan chưa * được giải. Nàng vẫn đành cam chịu số phận. *Nhưng sau đó nàng lại gửi hoa vàng, nhắn chồng lập đàn *giải oan rồi sẽ trở về. Trước hết và chủ yếu là nàng muốn * được thanh minh, được bảo toàn danh dự. Nhưng rồi * nàng cũng chỉ hiện về lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất. *=>Qua đó, tác giả mơ ước sự thật phải được sáng tỏ, người hiền *phải được đền đáp. Đó là một kết thúc có hậu, thể hiện *ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về lẽ công bằng. *Mặt khác, sự thật vẫn là sự thật: Vũ Nương đã chết, không *còn cơ hội để có thể sum họp cùng chồng con. Một chân * lý nữa được bày tỏ: hạnh phúc đã trôi vuột khỏi tầm tay, * không thể cứu vãn được nữa. Xã hội và gia đình *phong kiến phụ quyền không có chỗ cho những người *như Vũ Nương. Tính bi kịch vẫn còn tiềm ẩn đâu đó trong *Cái lung linh huyền ảo ấy.
* Đền Vũ Điện, còn gọi là Đền Bà Vũ, *miếu vợ chàng Trương, thuộc thôn *Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam. *
*Một đoạn sông Hoµng Giang trước đền
* *b. Nhân vật Trương Sinh *- Có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. *- Lại là người ít học. *- Tâm trạng Trương Sinh khi trở về rất u uất, nặng nề (Vì *mẹ mất) *- Vốn sẵn tính ghen, chàng tin ngay lời con trẻ. *-> Vội vàng mắng nhiếc đuổi vợ đi . *+ Không để cho vợ biện minh . *+ Không tin cả hàng xóm . * *Hồ đồ, độc đoán, vũ phu, ghen tuông mù quáng -> đẩy *vợ đến cái chết .
*_NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN BI KỊCH CỦA VŨ NƯƠNG_ *_- Nguyên nhân trực tiếp:_ *+ Lời nói ngây thơ của bé Đản đã vô tình gây nên mối hiểu lầm của Trương Sinh. *+ Nguyên nhân đáng trách nhất để dẫn đến cái chết oan khuất của Vũ Nương đó là tính cách đa nghi, ít học của Trương Sinh. Khi nghe lời nói ngây thơ của con trẻ, chàng chẳng thèm suy xét đúng sai hay lắng nghe những lời phân trần mà vội vàng kết tội vợ mình. Chính sự hồ đồ, độc đoán, tệ bạc này của Trương Sinh là nguyên nhân quan trọng nhất đẩy Vũ Nương đến đường cùng không lối thoát. Nếu Trương Sinh là một người tỉnh táo và biết lắng nghe, suy xét, có lẽ bi kịch này sẽ không xảy ra. *_- Nguyên nhân gián tiếp:_ *+ Do chế độ nam quyền độc đoán, một xã hội mà nam nữ không bình đẳng, hôn nhân không có tình yêu và tự do. *+ Do chiến tranh phong kiến phi nghĩa dẫn đến sự chia lìa, hiểu lầm dẫn đến tan nát gia đình.
*3. Yếu tố truyền kì *+ Phan Lang lạc vào động rùa. *+ Linh Phi cứu sống và đãi yến tiệc. *+ Gặp lại Vũ Nương người cùng làng. *+ Vũ Nương ngồi trên kiệu hoa khi Trương Sinh lập đàn giải oan. * *=> Thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng trong *cuộc đời. Niềm oan khuất của Vũ Nương được giải toả. * *_ _
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
*- Tác phẩm là bản án đanh thép tố cáo bản chất vô nhân đạo của XHPK. *- Khẳng định và ngợi ca phẩm chất, tâm hồn cao đẹp truyền thống của người phụ nữ VN. *- Thái độ cảm thông chân thành của nhà văn. * GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO. *
*III.Tổng kết:
*1. Nội dung.
*1. Nghệ thuật.
*- Khai thác vốn văn học dân gian. *- Nghệ thuật kể chuyện đầy sáng tạo: * + Những nhân vật có tính cách rõ nét, đặc biệt là Vũ Nương. * + Cách kể chuyện hấp dẫn, sử dụng yếu tố truyền kỳ, xây dựng hình ảnh “cái bóng” đầy dụng ý. *- Kết thúc tác phẩm bất ngờ, không mòn sáo, hàm ý sâu sắc.
*VI. Luyện tập:
*1. Kể tóm tắt văn bản _Chuyện người con gái Nam Xương:_ * Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương là người con gái thùy mị nết na tư dung tốt đẹp nên Trương Sinh đem lòng yêu mến bảo mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng làm vợ. Biết chồng có tính đa nghi Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép ăn ở đúng mực. Gả cho Trương Sinh chưa được bao lâu thì phải tiễn chồng đi lính. Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già, con trẻ. Bà mẹ vì quá nhớ con buồn rầu mà chết. Nàng ma chay tế lễ chu đáo. Vũ Nương hàng đêm thường chỉ bóng mình trên vách bảo với con đấy là cha Đản. Khi giặc tan Trương Sinh trở về đứa trẻ không nhận là cha mình. Trương Sinh tình cờ biết con còn có một người khác mà đêm đêm vẫn đến, nghi ngờ vợ mình thất tiết, về đến nhà chàng mắng chửi thậm tệ và ruồng bỏ đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà mặc cho hàng xóm và nàng đã hết sức thanh minh. Vũ Nương uất ức tự tử ở bến Hoàng Giang được Linh Phi - vợ vua Nam Hải cứu sống và đưa về ở trong động rùa. Ở nhà, đêm tối bóng Trương Sinh in trên vách thấy con gọi cha Trương Sinh mới vỡ lẽ ra nỗi oan của vợ thì quá muộn. Ở dưới thủy cung, Vũ Nương luôn hướng về gia đinh nhờ sự giúp đỡ của Linh Phi và Phan Lang (người cùng làng) Vũ Nương được Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang. Sự trở về của nàng vô cùng lộng lẫy lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất. *2. Viết đoạn văn 8 – 10 dòng trình bày cảm nhận của em về Trương Sinh (hoặc mẹ chồng Vũ Nương)
* *
*CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
*Nguyễn Dữ
* NHÂN VẬT *- Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) – *- Trương Sinh *- Mẹ chồng Vũ Nương *- Bé Đản
* TÓM TẮT *Vũ Nương và Trương Sinh kết hôn, đang sum họp đầm ấm thì có nạn binh đao, Trương Sinh phải đăng lính. *Nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi con nhỏ. *Khi Trương Sinh về, đứa bé ngây thơ kể với Trương Sinh về người (chiếc bóng) đêm đêm vẫn đến với mẹ con nó. Chàng nổi máu ghen, mắng nhiếc vợ thậm tệ, rồi đánh đuổi đi. *Nàng phẫn uất, chạy ra bến Hoàng Giang tự trẫm. *Một đêm cùng con bên ngọn đèn khuya, Trương Sinh mới vỡ lẽ về nỗi oan của vợ. *Vũ Nương được tiên cứu và ở dưới cung nước rùa thần Linh Phi. *Nghe lời Phan Lang, Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho Vũ Nương ở bến Hoàng Giang. *Vũ Nương hiện về trong chốc lát rồi biến mất. *
*Nhân vật chính
 








Các ý kiến mới nhất