Tuần 3. Thương vợ.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Chi
Ngày gửi: 22h:23' 14-10-2022
Dung lượng: 48.9 MB
Số lượt tải: 25
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Chi
Ngày gửi: 22h:23' 14-10-2022
Dung lượng: 48.9 MB
Số lượt tải: 25
Số lượt thích:
0 người
THƯƠNG VỢ
TRẦN TẾ XƯƠNG
THÀNH VIÊN NHÓM I
Trương Gia Duy – Lê Viễn Dương
Lê Huỳnh Trúc Anh – Lê Mỹ Ngọc Lan Anh
Hồ Ngọc Duy – Lê Quốc Cảnh
Nguyễn Khánh Băng – Trần Tiểu Cát
THÀNH VIÊN NHÓM I
Trương Gia Duy
– THIẾT KẾ BÀI TRÌNH CHIẾU –
Lê Viễn Dương
– NHÓM TRƯỞNG KIÊM THUYẾT TRÌNH –
THÀNH VIÊN NHÓM I
Lê Huỳnh Trúc Anh
– VIẾT VÀ CHỈNH SỬA NỘI DUNG –
Lê Mỹ Ngọc Lan Anh
– TÌM HIỂU VỀ TIỂU SỬ –
THÀNH VIÊN NHÓM I
Hồ Ngọc Duy
– TÌM HIỂU VỀ CUỘC ĐỜI –
Lê Quốc Cảnh
– TÌM HIỂU VỀ BÀ TÚ –
THÀNH VIÊN NHÓM I
Nguyễn Khánh Băng
– TÌM HIỂU SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC –
Trần Tiểu Cát
– TÌM HIỂU VỀ TÁC PHẨM –
TÌM HIỂU CHUNG
Trần Tế Xương
陳濟昌
1
Tiểu Sử
2
Cuộc Đời
3
Sự Nghiệp Sáng Tác
4
Tác Phẩm “Thương Vợ”
1
TIỂU SỬ VỀ
TRẦN TẾ XƯƠNG
1
轮廓
• Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc
Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế
Xương.
• Ông sinh ngày 10/8/1871 tại làng Vi Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Định và mất
ngày 20/1/1907 ở làng Địa Tứ.
• Là người thông minh, tính tình thích trào lộng. Có rất nhiều giai thoại kể về
cá tính của ông
1
生活
• Tú Xương lận đận trong việc thi cử. Tám
khoa đều hỏng nên dấu ấn thi rớt in đậm
nét trong tiềm thức của ông.
• Ông cưới vợ rất sớm. Vợ ông là Phạm Thị
Mẫn, từ một cô gái quê Con gái nhà dòng,
lấy chồng kẻ chợ. Tiếng có nhưng không có
miếng. Bà là hậu duệ của danh sĩ Phạm
Qúy Thích, tức thuộc dòng dõi Nho giáo.
• Duyên phận đẩy đưa cho bà trở thành bà
Tú tần tảo một nắng hai sương. Quanh
năm buôn bán ở mom song. Nuôi đủ 1
chồng với 5 con.
2 CUỘC ĐỜI
TÚ XƯƠNG - TRẦN TẾ XƯƠNG
Cuộc đời tác giả vốn khốn khổ từ nhỏ. Sinh ra trong xã hội loạn lạc, thời điểm nước mất nhà tan.
Năm ông lên ba tức 1873, Pháp tiến đánh Hà Nội lần I rồi đến Nam Định. Khi mười bốn tuổi
(1884), triều đình nhà Nguyễn kí hiệp ước Giám Thân, dâng đất cho giặc.
Tuổi thơ Tú Xương là chuỗi ngày bất hạnh và đen tối với kí ức về những cuộc chiến của các phong
trào khởi nghĩa chống Pháp. Nhất là sau khởi nghĩa Phan Đình
Phùng 1896 thất bại khiến phong trào đấu tranh dần tắt hẵn.
Đầu 1897, Pháp đặt nền móng cai trị lên đất nước, xã hội loạn lạc.
Tú Xương sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kì chế độ thực
dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát triển ở
một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội và đời sống tinh
thần nhân dân lúc bấy giờ trong đó có Tú Xương.
Nhờ đó, tác giả đã sử dụng trải nghiệm bản thân mô tả sinh động
bức tranh xã hội và tâm trạng của mình.
Bởi đứng trước xã hội tha hóa bấy giờ, nguyên tắc Tam Cương Ngũ
Thường của Tú Xương không đậm như Nguyễn Khuyến, càng xa rời
Nguyễn Đình Chiểu.
Tú Xương có cuộc đời của một nghệ sĩ và là người có tri thức trong
xã hội phong kiến. Nói cách khác, ông thuộc loại nhà Nho dài lưng
tốn vải.
Mọi chi tiêu trong nhà đều do bà Tú lo liệu. Tú Xương chỉ việc ăn no
lo chuyện thi cử, ăn chơi, bài bạc hưởng thụ thú vui trên đời. Có thể
gọi Tú Xương là 1 người Nhàn Cư vi bất thiện theo đúng nghĩa
Đổi lại, ông là người cầu tiến bằng chứng là đã có tận 8 lần thi cử. Đỗ tú tài ở khoa thứ tư nhưng
cũng chỉ là “cài tú tài thiên thủ” không thể lên cử nhân dù rất kiên trì cố gắng.
Cuộc sống vật chất Tú Xương rất đỗi thiếu thốn còn trớ trêu cháy mất căn nhà số 247 phố Hàng
Nâu khi đậu tú tài. Nghèo đói bám lấy đời, thi 8 lần cũng chỉ đỗ 1 khoa và còn là “lấy thêm”
khiến ông đâm ra lối sống phóng khoáng, buông lơi dẫn đến khổ càng thêm khổ.
3
SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC
SÁNG TÁC
Tú Xương
• Tú xương mất sớm ở tuổi 36 khiến cho sự nghiệp sáng tác
của ông không thể trọn vẹn. Sự ra đi của ông để lại mất mát
cho nền văn học Việt Nam bấy giờ, các tác phẩm của ông
như bảng cáo trạng đanh thép lên án xã hội thối nát giai
đoạn nửa phong kiến.
• Kho tác phẩm của ông khá đồ sộ nhưng cũng bị thất lạc
không ít. Trong đó, có khoảng 151 bài thơ Nôm và ông còn
dịch một số thơ Đường.
• Một số tác phẩm để đời của Tú Xương:
Sông Lấp, Áo bông che bạn, Ba cái lăng nhăng, Đánh tổ
tôm, Than thân, Bỡn tri phủ Xuân Trường, Vợ chồng Ngâu,
Văn tế sống vợ, Thương Vợ,…..
Sơ lược về bà Tú – Phạm Thị Mẫn
Sinh năm 1870, lớn hơn Tú Xương
1 tuổi. Là hậu duệ của Phạm Qúy
Thích ở làng Lương Đường. Thuộc
dòng dõi Nho giáo, rất xứng đôi
với Tú Xương.
Là con nhà Nho nên bà Tú rất biết
chuyện, công dung ngôn hạnh có
đủ. Là người phụ nữ chuẩn mực
của xã hội xưa, hiếu thảo với nhà
chồng, thương yêu gia đình.
Cuối XIX, gia đình bà chịu ảnh
hưởng do cơn lóc đô thị hóa nên
vào Nam Định buôn bán. Duyên số
cho nhà bà với Tú Xương cùng một
dãy phố. Họ dần quen nhau từ
thuở thiếu thời, họ kết duyên vợ
chồng sau đó và bà Mẫn trở thành
bà Tú theo cách gọi lúc bấy giờ.
Bà Tú nuôi chồng đèn sách 10
năm mà không oán hận, than
trách mà còn là người bên cạnh
an ủi, động viên Tú Xương khi
thấy ông chán nản có lẽ thế ông
mới sáng tác bài thơ Thương Vợ.
Bà Tú yêu Tú Xương pha trong đó
là lòng bao dung, cam chịu cái sổ
phận hẩm hiu khi có người chồng
hờ hững vô tâm.
4
TÁC PHẨM “THƯƠNG VỢ”
THƯƠNG VỢ
HAI CÂU THỰC
HAI CÂU ĐỀ
HAI CÂU LUẬN
HAI CÂU KẾT
XUẤT XỨ
• Là một trong các tác phẩm tiêu biểu
của Tú Xương nằm trong chùm thơ
ông viết tặng vợ.
• Ra đời khoảng 1896 -1897, trong
thời gian khó khăn, bần túng của
gia đình ông.
THỂ THƠ
Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật
BỐ CỤC
Cách 1:
Đề – Thực – Luận – Kết
Cách 2:
Sáu câu đầu: Hình ảnh bà Tú
Hai câu cuối: Nỗi lòng của tác giả
ĐỀ TÀI
• Tác phẩm “Thương Vợ” nhằm để Tú Xương
kể những công lao to lớn của bà Tú đối với
ông, những nhọc nhằng và tận tụy của bà khi
phải lo cho chồng và 5 người con.
• Phần khác ông muốn chế giễu bản thân hờ
hững, vô tâm trước người vợ tần tảo với ông
10 năm đèn sách.
• Cũng như bày tỏ tình yêu thương của mình
đối với người vợ không chỉ với thơ mà còn
văn tế, câu đối. Cái đề tài hiếm hoi mà rất ít
khi xuất hiện ở thời đại ấy.
結束
TRẦN TẾ XƯƠNG
THÀNH VIÊN NHÓM I
Trương Gia Duy – Lê Viễn Dương
Lê Huỳnh Trúc Anh – Lê Mỹ Ngọc Lan Anh
Hồ Ngọc Duy – Lê Quốc Cảnh
Nguyễn Khánh Băng – Trần Tiểu Cát
THÀNH VIÊN NHÓM I
Trương Gia Duy
– THIẾT KẾ BÀI TRÌNH CHIẾU –
Lê Viễn Dương
– NHÓM TRƯỞNG KIÊM THUYẾT TRÌNH –
THÀNH VIÊN NHÓM I
Lê Huỳnh Trúc Anh
– VIẾT VÀ CHỈNH SỬA NỘI DUNG –
Lê Mỹ Ngọc Lan Anh
– TÌM HIỂU VỀ TIỂU SỬ –
THÀNH VIÊN NHÓM I
Hồ Ngọc Duy
– TÌM HIỂU VỀ CUỘC ĐỜI –
Lê Quốc Cảnh
– TÌM HIỂU VỀ BÀ TÚ –
THÀNH VIÊN NHÓM I
Nguyễn Khánh Băng
– TÌM HIỂU SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC –
Trần Tiểu Cát
– TÌM HIỂU VỀ TÁC PHẨM –
TÌM HIỂU CHUNG
Trần Tế Xương
陳濟昌
1
Tiểu Sử
2
Cuộc Đời
3
Sự Nghiệp Sáng Tác
4
Tác Phẩm “Thương Vợ”
1
TIỂU SỬ VỀ
TRẦN TẾ XƯƠNG
1
轮廓
• Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc
Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế
Xương.
• Ông sinh ngày 10/8/1871 tại làng Vi Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Định và mất
ngày 20/1/1907 ở làng Địa Tứ.
• Là người thông minh, tính tình thích trào lộng. Có rất nhiều giai thoại kể về
cá tính của ông
1
生活
• Tú Xương lận đận trong việc thi cử. Tám
khoa đều hỏng nên dấu ấn thi rớt in đậm
nét trong tiềm thức của ông.
• Ông cưới vợ rất sớm. Vợ ông là Phạm Thị
Mẫn, từ một cô gái quê Con gái nhà dòng,
lấy chồng kẻ chợ. Tiếng có nhưng không có
miếng. Bà là hậu duệ của danh sĩ Phạm
Qúy Thích, tức thuộc dòng dõi Nho giáo.
• Duyên phận đẩy đưa cho bà trở thành bà
Tú tần tảo một nắng hai sương. Quanh
năm buôn bán ở mom song. Nuôi đủ 1
chồng với 5 con.
2 CUỘC ĐỜI
TÚ XƯƠNG - TRẦN TẾ XƯƠNG
Cuộc đời tác giả vốn khốn khổ từ nhỏ. Sinh ra trong xã hội loạn lạc, thời điểm nước mất nhà tan.
Năm ông lên ba tức 1873, Pháp tiến đánh Hà Nội lần I rồi đến Nam Định. Khi mười bốn tuổi
(1884), triều đình nhà Nguyễn kí hiệp ước Giám Thân, dâng đất cho giặc.
Tuổi thơ Tú Xương là chuỗi ngày bất hạnh và đen tối với kí ức về những cuộc chiến của các phong
trào khởi nghĩa chống Pháp. Nhất là sau khởi nghĩa Phan Đình
Phùng 1896 thất bại khiến phong trào đấu tranh dần tắt hẵn.
Đầu 1897, Pháp đặt nền móng cai trị lên đất nước, xã hội loạn lạc.
Tú Xương sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kì chế độ thực
dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát triển ở
một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội và đời sống tinh
thần nhân dân lúc bấy giờ trong đó có Tú Xương.
Nhờ đó, tác giả đã sử dụng trải nghiệm bản thân mô tả sinh động
bức tranh xã hội và tâm trạng của mình.
Bởi đứng trước xã hội tha hóa bấy giờ, nguyên tắc Tam Cương Ngũ
Thường của Tú Xương không đậm như Nguyễn Khuyến, càng xa rời
Nguyễn Đình Chiểu.
Tú Xương có cuộc đời của một nghệ sĩ và là người có tri thức trong
xã hội phong kiến. Nói cách khác, ông thuộc loại nhà Nho dài lưng
tốn vải.
Mọi chi tiêu trong nhà đều do bà Tú lo liệu. Tú Xương chỉ việc ăn no
lo chuyện thi cử, ăn chơi, bài bạc hưởng thụ thú vui trên đời. Có thể
gọi Tú Xương là 1 người Nhàn Cư vi bất thiện theo đúng nghĩa
Đổi lại, ông là người cầu tiến bằng chứng là đã có tận 8 lần thi cử. Đỗ tú tài ở khoa thứ tư nhưng
cũng chỉ là “cài tú tài thiên thủ” không thể lên cử nhân dù rất kiên trì cố gắng.
Cuộc sống vật chất Tú Xương rất đỗi thiếu thốn còn trớ trêu cháy mất căn nhà số 247 phố Hàng
Nâu khi đậu tú tài. Nghèo đói bám lấy đời, thi 8 lần cũng chỉ đỗ 1 khoa và còn là “lấy thêm”
khiến ông đâm ra lối sống phóng khoáng, buông lơi dẫn đến khổ càng thêm khổ.
3
SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC
SÁNG TÁC
Tú Xương
• Tú xương mất sớm ở tuổi 36 khiến cho sự nghiệp sáng tác
của ông không thể trọn vẹn. Sự ra đi của ông để lại mất mát
cho nền văn học Việt Nam bấy giờ, các tác phẩm của ông
như bảng cáo trạng đanh thép lên án xã hội thối nát giai
đoạn nửa phong kiến.
• Kho tác phẩm của ông khá đồ sộ nhưng cũng bị thất lạc
không ít. Trong đó, có khoảng 151 bài thơ Nôm và ông còn
dịch một số thơ Đường.
• Một số tác phẩm để đời của Tú Xương:
Sông Lấp, Áo bông che bạn, Ba cái lăng nhăng, Đánh tổ
tôm, Than thân, Bỡn tri phủ Xuân Trường, Vợ chồng Ngâu,
Văn tế sống vợ, Thương Vợ,…..
Sơ lược về bà Tú – Phạm Thị Mẫn
Sinh năm 1870, lớn hơn Tú Xương
1 tuổi. Là hậu duệ của Phạm Qúy
Thích ở làng Lương Đường. Thuộc
dòng dõi Nho giáo, rất xứng đôi
với Tú Xương.
Là con nhà Nho nên bà Tú rất biết
chuyện, công dung ngôn hạnh có
đủ. Là người phụ nữ chuẩn mực
của xã hội xưa, hiếu thảo với nhà
chồng, thương yêu gia đình.
Cuối XIX, gia đình bà chịu ảnh
hưởng do cơn lóc đô thị hóa nên
vào Nam Định buôn bán. Duyên số
cho nhà bà với Tú Xương cùng một
dãy phố. Họ dần quen nhau từ
thuở thiếu thời, họ kết duyên vợ
chồng sau đó và bà Mẫn trở thành
bà Tú theo cách gọi lúc bấy giờ.
Bà Tú nuôi chồng đèn sách 10
năm mà không oán hận, than
trách mà còn là người bên cạnh
an ủi, động viên Tú Xương khi
thấy ông chán nản có lẽ thế ông
mới sáng tác bài thơ Thương Vợ.
Bà Tú yêu Tú Xương pha trong đó
là lòng bao dung, cam chịu cái sổ
phận hẩm hiu khi có người chồng
hờ hững vô tâm.
4
TÁC PHẨM “THƯƠNG VỢ”
THƯƠNG VỢ
HAI CÂU THỰC
HAI CÂU ĐỀ
HAI CÂU LUẬN
HAI CÂU KẾT
XUẤT XỨ
• Là một trong các tác phẩm tiêu biểu
của Tú Xương nằm trong chùm thơ
ông viết tặng vợ.
• Ra đời khoảng 1896 -1897, trong
thời gian khó khăn, bần túng của
gia đình ông.
THỂ THƠ
Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật
BỐ CỤC
Cách 1:
Đề – Thực – Luận – Kết
Cách 2:
Sáu câu đầu: Hình ảnh bà Tú
Hai câu cuối: Nỗi lòng của tác giả
ĐỀ TÀI
• Tác phẩm “Thương Vợ” nhằm để Tú Xương
kể những công lao to lớn của bà Tú đối với
ông, những nhọc nhằng và tận tụy của bà khi
phải lo cho chồng và 5 người con.
• Phần khác ông muốn chế giễu bản thân hờ
hững, vô tâm trước người vợ tần tảo với ông
10 năm đèn sách.
• Cũng như bày tỏ tình yêu thương của mình
đối với người vợ không chỉ với thơ mà còn
văn tế, câu đối. Cái đề tài hiếm hoi mà rất ít
khi xuất hiện ở thời đại ấy.
結束
 








Các ý kiến mới nhất