Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Bài 7. Kiều ở lầu Ngưng Bích

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Được tặng
Người gửi: Nguyễn Duy Hoài Nam
Ngày gửi: 10h:18' 17-10-2022
Dung lượng: 762.2 KB
Số lượt tải: 113
Số lượt thích: 0 người
Lời dẫn vào bài
Đề tài về người phụ nữ luôn là nỗi trăn trở của các nhà thơ lớn. Không chỉ
khắc họa những nét đẹp trong tâm hồn, tính cách mà các nhà thơ còn cảm
nhận rõ được nỗi bất hạnh của người phụ nữ. Và Nguyễn Du đã rất thành
công khi chọn người phụ nữ làm đề tài trong tác phẩm của mình với kiệt
tác dựa theo cốt truyện của Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm ở Trung
Quốc đó là Truyện Kiều. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích được trích trong
tác phẩm đó là một đoạn trích hay và giàu cảm xúc. Bằng ngòi bút tả cảnh
ngụ tình nhà thơ đã diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều trong hoàn cảnh bị
giam cầm, nỗi nhớ Kim Trọng, nhớ gia đình và đặc biệt là tâm trạng của
Kiều trước cảnh vật ở lầu Ngưng Bích

Kiều ở
lầu
Ngưng
Bích

Trích “Truyện Kiều”- Nguyễn Du

I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Vị trí, nội dung đoạn trích

 Vị trí: nằm ở phần 2: Gia biến và lưu lạc, gồm 22 câu (từ
câu 1033-1054).
 Nội dung: Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, làm nhục, bị
Tú bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu tiếp
khách làng chơi, không chịu chấp nhận cuộc sống lầu
xanh. Đau đớn, phẫn uất, tủi nhục nàng định tự vẫn. Tú
bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều. Mụ
vờ chăm sóc thuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ
gả nàng cho người tử tế. Tú bà đưa Kiều ra sống riêng ở
lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực
hiện âm mưu mới đê tiện hơn, tàn bạo hơn.

I. TÌM HIỂU CHUNG
2. Đọc – chia bố cục
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu ?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mạt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
(TRÍCH TRUYỆN KIỀU-NGUYỄN DU)

I. TÌM HIỂU CHUNG
2. Đọc – chia bố cục

Kiều ở lầu
Ngưng Bích

Đoạn 1
(6 câu đầu): Khung cảnh lầu Ngưng Bích và tâm
trạng của Kiều
Đoạn 2
(8 câu tiếp): Nỗi nhớ người thân
Đoạn 3
(8 câu cuối): Tâm trạng buồn lo của Kiều

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
1. Cảnh ngộ và nỗi niềm của Kiều
- Hai chữ khóa xuân:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung..
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.

 thường được sử dụng để chỉ người con gái đẹp trong gia đình quyền quý thời xưa
bị khóa kín tuổi xuân trong những khuôn khổ, phép tắc của gia đình và xã hội.
 Ở đây, Nguyễn Du đã sử dụng từ khóa xuân để mỉa mai nói về cảnh ngộ xót xa,
trớ trêu của Kiều đang bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích của Kiều

 Quang cảnh xung quanh lầu Ngưng Bích:
+ Hình ảnh non xa, trăng ngần
 Gợi không gian dài, rộng, cao, sâu vô tận. Đồng thời gợi sự chơ vơ, chênh vênh,
trơ trọi của lầu Ngưng Bích
+ Từ láy: bát ngát
 Tô đậm hơn cái vô cùng, vô tận của không gian

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
1. Cảnh ngộ và nỗi niềm của Kiều
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung..
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.

- Hình ảnh liệt kê: cát vàng, bụi hồng
 Đã nói đến sự phai nhạt của sự sống và ngổn ngang của cảnh vật

- Cặp tiểu đối: mây sớm, đèn khuya
 Gợi nỗi hắt hiu, trống vắng mênh mông của thiên nhiên

 Quang cảnh xung quanh lầu Ngưng Bích cô liêu, thiếu vắng
sự sống, gợi nỗi buồn cho thân phận nhân vật

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
1. Cảnh ngộ và nỗi niềm của Kiều

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

 Quang cảnh gợi ở Kiều bao nỗi niềm tâm trạng
- Sự cô đơn, lẻ loi
đến cùng cực

+ Cụm từ: mây sớm đèn khuya
 Gợi thời gian tuần hoàn, khép kín. Tất cả như giam
hãm con người và để khắc sâu thêm nỗi cô đơn

+ Khung cảnh: bốn bề bát ngát

 Kiều chỉ biết bầu bạn với những vật vô tri, vô giác

- Sự ngổn ngang
trăm mối, day dứt,
âu lo

+ Xa trông
 Gợi lên sự trông ngóng của Thúy Kiều
+ Hình ảnh liệt kê “non xa” “trăng gần”,
“cát vàng”, “bụi hồng”

 Gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không
gian, qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
1. Cảnh ngộ và nỗi niềm của Kiều

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

 Quang cảnh gợi ở Kiều bao nỗi niềm tâm trạng

- Nỗi chua xót, bẽ
bàng cho thân phận:

+ Bị đày đọa trong không gian vô cùng và thời gian vô tận
đã khắc sâu nỗi cùng cực khiến nàng cảm thấy bẽ bàng

+ Cụm từ như chia tấm lòng  diễn tả nỗi chua xót, nỗi
lòng tan nát của Kiều
 Tiểu kết 6 câu đầu: Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp hệ thống thi ảnh ước lệ,
ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm, Nguyễn Du đã khắc họa bức tranh thiên nhiên mênh
mông, vắng lặng. Và trên nền của khung cảnh ấy là hình ảnh nàng Kiều lẻ loi, cô độc
với bao nỗi niềm tâm sự đau thương.

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
2. Nỗi nhớ người thân

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

a, Nỗi nhớ về Kim Trọng

? Tại sao Kiều không
nhớ về Cha mẹ trước mà
lại nhớ về Chàng Kim?

 Bởi vì khi Kiều bán mình chuộc cha là nàng đã làm tròn chữ Hiếu mà
dang dở chữ tình. Cái mặc cảm một kẻ phụ tình luôn thường trực trong
suy nghĩ của nàng nên nó đã xuất hiện trước

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
2. Nỗi nhớ người thân

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

a, Nỗi nhớ về Kim Trọng

 Nói đến nỗi nhớ của Thúy Kiều, Nguyễn Du không dùng từ nhớ mà
dùng từ tưởng:
 Từ tưởng vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu
 Kiều tưởng như thấy lại đêm trăng đẹp nhất của cuộc đời mình. Cái đêm mà nàng
cùng với Kim Trọng thề nguyền đính ước bên nhau.
 Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về mình,
đang ngày đêm đau đáu nhờ tin nàng: tin sương luống những rày trông mai chờ.

 Càng nhớ chàng Kim, càng nuối tiếc mối tình đầu, Kiều càng
thấm thía tình cảnh của mình
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
2. Nỗi nhớ người thân
a, Nỗi nhớ về Kim Trọng

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

 Càng nhớ chàng Kim, càng nuối tiếc mối tình đầu, Kiều càng thấm thía tình cảnh
của mình:
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

+ Kiều tủi nhục khi tấm lòng son sắc đã bị vùi dập, hoen ố, không biết bao giờ mới gột rửa
được.
+ Dẫu vậy, tấm lòng thủy chung, son sắt của nàng vẫn không nguôi nhớ về Kim Trọng

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
2. Nỗi nhớ người thân
b, Nỗi nhớ cha mẹ ở nơi xa

Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

 Chữ xót: đã diễn tả một
cách chính xác tấm lòng
của Kiều dành cho cha
mẹ:

 Thành ngữ quạt nồng ấp lạnh:
cho thấy sự day dứt khôn nguôi
vì không thể tự hầu hạ, chăm
sóc, nâng giấc cho cha mẹ.

+ Nàng xót xa khi hình dung ra chốn quê
nhà, cha mẹ vẫn ngày đêm tựa cửa ngóng
trông, lo lắng cho nàng.
+ Nàng tự trách bản thân mình vì chưa
làm tròn chữ Hiếu

+ Nàng lo lắng không biết giờ đây ai là người
chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay
+ Nàng tưởng tượng nơi quê nhà đã đổi thay, gốc
tử vừa người ôm, thời gian trôi đi mẹ ngày càng
già yếu mà mình thì không thể phụng dưỡng.

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
2. Nỗi nhớ người thân
b, Nỗi nhớ cha mẹ ở nơi xa

Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

 Cụm từ: cách mấy nắng
mưa
+ Vừa gợi được sự xa cách bao mùa
mưa nắng, vừa gợi sự tàn phá của thời
gian đối với cảnh vật của con người,
làm cho cha mẹ ngày càng già yếu, và
cần bàn tay chăm sóc của nàng
+ Nỗi nhớ được bộc lộ qua ngôn ngữ
độc thoại nội tâm nên càng chân thực
cảm động.

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
2. Nỗi nhớ người thân
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Nỗi nhớ thương của Kiều đã nói lên nhân cách đáng trân trọng của nàng. Hoàn cảnh
của nàng lúc này thật xót xa, đau đớn. Nhưng quên đi cảnh ngộ bản thân, nàng đã
hướng yêu thương vào những người thân yêu nhất. Trái tim nàng thật giàu yêu thương
giàu đức hi sinh. Nàng thật sự là một người tình thuỷ chung, một người con hiếu thảo,
một người có tấm lòng vị tha cao cả đáng quý.

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
3. Tâm tráng
trạng của Kiều qua cách nhìn cảnh vật
 Mọi cảnh vật qua con mắt Kiều đều
gợi lên những nét buồn da diết

+ Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại và điệp từ: Mỗi cặp lục bát làm thành
một cảnh được khắc họa qua điệp từ buồn trông
+ Buồn trông có nghĩa là buồn mà nhìn ra xa trông ngóng một cái gì đó
mơ hồ
+ Buồn trông có cả cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ cuốn hút tầm nhìn của
người con gái ngây thơ, lần đầu lạc bước giữa cuộc đời ngang trái, mang
tính dự cảm hãi hùng  diễn tả nỗi buồn vô vọng, vô tận.

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
3. Tâm trạng của Kiều qua cách nhìn cảnh vật

4 cảnh diễn tả tâm trạng của Kiều
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Cảnh 1
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Cảnh 2
Hoa trôi man mác biết là về đâu ?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Cảnh 3
Chân mây mạt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Cảnh 4
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
3. Tâm trạng của Kiều qua cách nhìn cảnh vật
Cảnh 1
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?

- Thời gian buổi chiều hôm: khiến cho nỗi
buồn thân phận trở nên thấm thía.
- Hình ảnh ẩn dụ cánh buồm: là hình ảnh rất
đắt để thể hiện ngoại cảnh và nội tâm nhân
vật. Cánh buồm nhỏ nhoi đơn độc giữa biển
nước mênh mông trong ánh sáng le lói cuối
cùng của mặt trời sắp tắt. Còn thuyền mỗi lúc
một xa, rồi gần như mất hút.
=> Ẩn dụ cho số phận của Kiều đang lênh đênh
giữa dòng đời, biết bao giờ mới trở về sum họp,
đoàn tụ với những người thân yêu. Nỗi nhớ quê
hương da diết

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
3. Tâm trạng của Kiều qua cách nhìn cảnh vật

Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Cảnh 2
- Hình ảnh hoa trôi cũng thể hiện cho nỗi buồn, cho thân phận lênh đênh, nổi chìm
giữa dòng đời của Thúy Kiều.
- Câu hỏi tu từ: biết là về đâu?
=> Cho thấy sự mất phương hướng, gợi một nỗi băn khoăn, thấp thỏm.
- Bức tranh tương phản: một bên là hình ảnh những cánh hoa tàn trôi man mác trên
mặt nước. Tác giả đã tô đậm sự nhỏ bé, lênh đênh, trôi dạt của con thuyền, của
những cánh hoa tàn đã rụng.

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
3. Tâm trạng của Kiều qua cách nhìn cảnh vật
Cảnh 3
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

- Hình ảnh: Nội cỏ + từ láy rầu rầu
=> Vẽ nên một vùng cỏ cây tàn héo, và gợi nỗi
sầu thương cô lẻ.
- Nét vẽ không gian: nội cỏ, chân mây, mặt đất
=> Gợi một không gian vô cùng rộng lớn đang
đầy ải Thúy Kiều
- Từ láy xanh xanh gợi một sắc xanh nhạt nhòa,
xa cách, nhạt phai
 Cảnh mờ mịt như tương lai mờ mịt, Thúy Kiều
càng cảm nhận rõ sự cô đơn nhỏ nhoi của thân
phận.

II. TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH
3. Tâm trạng của Kiều qua cách nhìn cảnh vật
Cảnh 4
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

- Bức tranh thiên nhiên dữ dội và đầy biến động:
Þ Gió cuốn mặt duềnh đầy giận dữ; sóng thì ầm
ầm kêu réo lên khi thủy triều lên.
Þ Thiên nhiên ẩn dụ cho những biến cố kinh
hoàng sắp ập xuống cuộc đời nàng; ẩn dụ cho
những con sóng của số phận sắp sửa chôn vùi
nàng; ẩn dụ cho một tương lai đầy song gió.
 8 câu cuối là đoạn thơ tiêu biểu cho bút pháp tả
cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Du. Đó là cách biểu
hiện tình trong cảnh, cảnh trong tình này, là thực
cảnh mà cũng là tâm cảnh.

III. TỔNG KẾT

Nội
dung
 Miêu
tả cảnh ngộ cô

đơn buồn tủi và tấm
lòng thuỷ chung, hiếu
thảo rất đáng thương,
đáng trân trọng của
Thuý Kiều khi bị giam
lỏng ở lầu Ngưng Bích.

Kiều ở lầu
Ngưng Bích

Nghệ
thuật
•Miêu tả nội tâm nhân vật đặc
sắc

•Bút pháp tả cảnh ngụ tình
tuyệt bút.

Diễn biến tâm trạng của Kiều
Buồn lo cho thân phận và số kiếp

Xót thương cho cha mẹ
Nhớ Kim Trọng
Cô đơn buồn tủi

Nhận định nào nói đúng nhất nội dung
đoạn trích ?
A

Thể hiện tâm trạng cô đơn, tội nghiệp của Kiều

B

Nói lên nỗi nhớ người yêu và cha mẹ của Kiều

C

Nói lên tâm trạng buồn bã, lo âu của Kiều

D

Cả 3 đáp án trên

Nhận định nào nói đầy đủ nhất những thủ
pháp nghệ thuật trong tám câu thơ cuối
A

B

Tả cảnh ngụ tình

Lặp cấu trúc.

C

Sử dụng ngôn ngữ độc thoại.

D

Cả 3 đáp án trên đều đúng.

Câu 1. Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình?
Câu 2. Thế nào là độc thoại nội tâm
Câu 3. Cảm nhận và suy nghĩ của em về tám
dòng cuối của đoạn trích” Kiều ở lầu Ngưng
Bích”. Từ đó nêu nhận xét về nghệ thuật tả
cảnh ngụ tình của Nguyễn Du?

ĐÁP ÁN

- Tả cảnh ngụ tình: là mượn cảnh vật để
(ngụ)gửi gắm tâm trạng. Cảnh không đơn thuần
là bức tranh thiên nhiên mà còn là tâm trạng
của con người. Cảnh là phương tiện để miêu tả
còn tâm trạng là mục đích miêu tả.

- Độc thoại nội tâm: Là lời nói thầm bên trong,
nhân vật tự nói với chính mình.

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
1. Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Văn bản ấy trích trong tác phẩm nào? Do ai sáng
tác?
2. Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trên?
3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ nghệ thuật có trong đoạn trên?
4. Viết đoạn văn từ 10 đến 15 câu nêu cảm nhận của em về đoạn trên?

* Gợi ý giải
1. Trích trong văn bản “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, văn bản trích trong tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
2. Phương thức biểu đạt chính: tự sự
3.
- Biện pháp ẩn dụ: “tấm son gột rửa”. Tác giả mượn hình ảnh trừu tượng “tấm son” để chỉ tấm lòng chung thủy, gắn bó của
con người. Hình ảnh này được đặt bên cạnh hình ảnh cụ thể “gột rửa”, tất cả đều có tác dụng giúp người đọc hình dung được
tâm trạng của Kiều đang day dứt, dằn vặt, tủi hổ vì thấy mình không còn trong trắng, đã phụ tình Kim Trọng.
- Nghệ thuật sử dụng thành ngữ “rày trông mai chờ”, “bên trời góc bể” để thể hiện tâm trạng, nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ
của Kiều
4. Tham khảo:
Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một tác gia văn học tài hoa và lỗi lạc của văn học Việt Nam. Ông được mệnh danh là thi sĩ
của các nhà thi sĩ. Truyện Kiều là một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Du là đỉnh cao chói lọi nhất của nghệ thuật thi ca. Đọc tác
phẩm, chúng ta không thể quên được đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích".. Lầu Ngưng Bích chơi vơi giữa biển khơi là điểm
dừng chân đầu tiên trên con đường lưu lạc đầy cay đắng và tủi nhục của Thúy Kiều. Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là nỗi
cô đơn buồn tủi, niềm nhớ thương da diết về quê hương gia đình và người thân của Kiều. Đó cũng là thể hiện tấm lòng thủy
chung hiếu thảo của nàng. Đến với tám câu thơ giữa là tâm trạng nhớ thương da diết của Kiều về gia đình và người thân.
Trước hết, Nguyễn Du để cho Kiều nhớ Kim Trọng (điều này khác hẳn với Thanh Tâm tài nhân). Nàng đã từng uống rượu ăn thề
cùng Kim Trọng dưới ánh trăng nhưng rồi đã phải xót xa trao mối tình ngọt ngào ấy cho Thúy Vân. Trên đường về Lâm Tri theo
Mã giám Sinh nàng vẫn thương cho Kim Trọng trong cô đơn buồn tủi: "Một trời thu để riêng ai một người". Giờ đây trong lúc
mà thời gian cứ trôi đi Kiều nhớ Kim Trọng là tưởng nhớ tới lời thề đôi lứa: "Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương
luống những rày trông mai chờ Bên trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai."

Những lời thề nguyền đâu còn nữa, cái cây cầu trần thế mà Kiều và Kim Trọng phải bước qua thật là éo le. Nàng
tưởng tượng cái cảnh Kim Trọng đang hướng về mình, đêm ngày đau đáu chờ tin mà uổng công vô ích "Tin sương
luống những rày trông mai chờ". Trong nỗi nhớ ấy người đọc nhận ra một tâm trạng xót xa đau đớn. Nàng tự hứa
"Tấm son gột rửa bao giờ cho phai". Đó là tấm lòng thủy chung son sắt thề non ước biển của kẻ chung tình. Tiếp
đó, là Kiều nhớ tới cha mẹ. Nghĩ tới song thân Kiều vô cùng thương xót: Xót người tựa cửa hôm mai/ Quạt nồng
ấp lạnh những ai đó giờ?/ Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm" Nàng nghĩ tới cái cảnh cha
mẹ ngồi tựa cửa ngóng con lúc sáng sớm hay buổi chiều tà. Vậy mà vẫn bặt vô âm tín. Nàng xót xa lúc cha mẹ già
yếu không có ai chăm sóc phụng dưỡng chăm nom. Tâm trạng nhớ thương vời vợi cùng với nỗi xót xa thể hiện
sâu sắc tấm lòng hiếu thảo của nàng. Rất nhiều từ ngữ lấy từ điển cố cùng với từ ngữ dân gian vừa nói được thời
gian xa cách, vừa nói đến sự tàn phai khốc liệt của thiên nhiên đối với con người. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm,
phong cách cổ điển hài hòa với phong cách dân tộc tạo nên những vần thơ biểu cảm thể hiện một tâm trạng bi
kịch, một cảnh ngộ đầy bi kịch của Kiều. Trong cảnh bình rơi trâm gãy Kiều là người đáng thương nhất nhưng
nàng không nghĩ đến mình mà vẫn nhớ thương cha mẹ và người thân. Kiều thực sự là người tình thủy chung một
người con hiếu thảo có tấm lòng vị tha đáng trân trọng. Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là một trong những
đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất Truyện Kiều. Ngòi bút của ông đi sâu vào từng ngõ ngách tâm tư sâu kín của
nàng Kiều khiến người đọc thực sự rung động xót xa. Cảnh trong tình, tình trong cảnh cứ hòa quyện đan xen làm
nổi bật chủ đề đoạn thơ. Bức tranh tâm trạng của người con gái họ Vương vì thế neo đậu mãi trong lòng người
đọc.

Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có những câu thơ:
...Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nựớc mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

(SGK Ngữ Văn 9, tập một)

Câu 1: Những câu thơ trên thuộc đoạn trích nào? Nêu vị trí của đoạn trích trong kết cấu “Truyện Kiều”.
Câu 2: Những câu thơ trên thể hiện tâm trạng gì của nhân vật? Bút pháp nghệ thuật đặc sắc nào đã được tác giả
sử dụng trong đoạn trích? Chép lại một câu thơ cũng sử dụng bút pháp nghệ thuật này trong một văn bản khác
của “Truyện Kiều” mà em đã học trong chương trình Ngữ Văn 9. Nêu rõ tên văn bản đó.
Câu 3: Từ “chân” trong câu thơ “Chân mây mặt đất một màu xanh xanh” được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa
chuyển? Nếu dùng với nghĩa chuyển, từ “chân” đã được chuyển nghĩa theo phương thức nào?
Câu 4: Bằng một đoạn văn nghị luận theo phép lập luận tổng-phân-hợp, có sử dụng ít nhất một lời gián tiếp,
một câu cảm thán, hãy phân tích đoạn thơ đề bài đã cho để làm rõ tâm trạng nhân vật.

* Gợi ý giải
1.
- Xuất xứ: Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
- Vị trí: Thuộc phần 2 của Truyện Kiều “Gia biến và lưu lạc”
- Nội dung đoạn trích: Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bá
vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở
lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới.
2.
- Tâm trạng đau buồn, lo sợ của Thúy Kiều trước một cuộc sống mênh mông, vô định đầy đe
dọa.
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình.
- Chép câu thơ: “Nao nao dòng nước uốn quanh”; trích trong văn bản “Cảnh ngày xuân”.
3.
- Từ “chân” trong câu “Chân mây mặt đất một màu xanh xanh” được dùng theo nghĩa chuyển.
- Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ

4. Đoạn văn cần đảm bảo các ý sau:
- Hai câu đầu: cảnh cánh buồm thấp thoáng trên cửa bể chiều hôm => Gợi lên trong
lòng Kiều nỗi cô đơn, nhớ nhà.
- Câu 3, 4: Cảnh hoa trôi giữa dòng nước chảy ẩn dụ cho thân phận chìm nổi của Kiều
=> Tâm trạng lo lắng của nàng trước tương lai mịt mờ.
- Câu 5, 6: Cảnh nội cỏ rầu rầu và chân mây mặt đất cùng một màu xanh héo úa
=> nỗi chán ngán, vô vọng của Kiều trước cuộc sống tẻ nhạt, bế tắc
- Câu 7, 8: Cảnh thiên nhiên dữ dội với gió cuốn mặt duềnh và tiếng sóng ầm ầm => Dự
cảm về một tương lai đầy sóng gió.
- Những đặc sắc nghệ thuật:
+ Bút pháp tả cảnh ngụ tình.
+ Phân tích được giá trị của các biện pháp nghệ thuật như từ láy, câu hỏi tu từ, điệp
ngữ, hình ảnh mang nhiều tầng ý nghĩa.
468x90
 
Gửi ý kiến