Tìm kiếm Bài giảng
Bài 8. Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Được tặng
Người gửi: Nguyễn Duy Hoài Nam
Ngày gửi: 10h:22' 17-10-2022
Dung lượng: 623.3 KB
Số lượt tải: 338
Nguồn: Được tặng
Người gửi: Nguyễn Duy Hoài Nam
Ngày gửi: 10h:22' 17-10-2022
Dung lượng: 623.3 KB
Số lượt tải: 338
Số lượt thích:
0 người
Phần A :
Lục Vân Tiên cứu
Kiều Nguyệt Nga
(trích “Truyện Lục Vân Tiên”)
-Nguyễn Đình Chiểu-
I. ĐỌC HIỂU CHUNG :
1.Tác giả : Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5
năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822), tại
quê mẹ là làng Tân Thới , phủ Tân Bình,
huyện Bình Dương,
tỉnh Gia Định (thuộc
phường Cầu Kho, Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).
Ông xuất thân trong gia đình nhà nho
Thuở bé, Nguyễn Đình Chiểu được mẹ nuôi
dạy. Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo học với một
ông thầy đồ ở làng.
Năm Quý Mão (1843),
ông
đỗ Tú tài ở
trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Khi ấy, có
một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông
Năm 1848,
mẹ Nguyễn Đình Chiểu mất ở Gia Định
. Được tin, ông bỏ thi, dẫn em theo đường bộ trở
về Nam chịu tang mẹ.
Trên đường trở về, vì quá thương khóc mẹ, vì vất
vả và thời tiết thất thường, nên đến Quảng Nam
thì Nguyễn Đình Chiểu bị ốm nặng. Trong thời
gian nghỉ chữa bệnh ở nhà một thầy thuốc vốn
dòng dõi Ngự y, tuy bệnh không hết, nhưng ông
cũng đã học được nghề thuốc. Lâm cảnh mù mắt,
hôn thê bội ước, cửa nhà sa sút... Nguyễn Đình
Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ cho đến năm 1851,
thì mở trường dạy học và làm thuốc ở Bình Vi (
Gia Định). Truyện thơ Lục Vân Tiên(SGK ngữ văn
9) của ông có lẽ được bắt đầu sáng tác vào thời
gian này.
-Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (
1835-1886, người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc,
trước thuộc Gia Định; nay thuộc tỉnh Long An) làm vợ
Năm 1886, vợ ông là bà Lê Thị Điền mất lúc 51 tuổi.
Buồn rầu vì vợ mất, vì cảnh nước mất nhà tan đã bấy
lâu, vì bệnh tật ngày càng trầm trọng, hai năm sau,
ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý (3 tháng 7 năm 1888),
Nguyễn Đình Chiểu cũng qua đời tại Ba Tri, thọ 66
tuổi. Ngày đưa tiễn nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu về
cõi vĩnh hằng, cánh đồng An Đức rợp trắng khăn tang
của những người mến mộ ông.
Ông được an táng cạnh mộ vợ, nay thuộc ấp 3, xã An
Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
2.Tác phẩm :
-thể thơ : thơ lục bát
-số câu : 2082 câu
-thể loại : truyện thơ Nôm
-tóm tắt tác phẩm : SGK
Mở đầu “ Truyện Lục Vân Tiên”, Nguyễn
Đình Chiểu có viết :
Trước đèn xem truyện Tây minh,
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le.
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước, lành dè thân sau.
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Có người ở quận Đông Thanh,
Tu nhân tích đức, sớm sinh con hiền.
Đặt tên là Lục Vân Tiên,
Tuổi vừa hai tám, nghề chuyên học hành.
3.Đoạn trích “ Lục Vân Tiên cứu Kiều
Nguyệt Nga” :
-Vị trí : nằm ở phần đầu của tác phẩm.
-Đại ý : ca ngợi phẩm chất cao đẹp của Lục
Vân Tiên và nàng Kiều Nguyệt Nga.
II.ĐỌC HIỂU VĂN BẢN :
1.Hình tượng người anh hùng Lục Vân
Tiên :
a)Với bọn cướp :
- hành động :
+ghé lại bên đàng
+bẻ cây làm gậy xông vô
+ tả đột hữu xông (thành ngữ )
+ khác nào Triệu Tử (so sánh )
hành động quyết liệt để cứu giúp người gặp
nạn.
- bọn cướp :
+ lâu la : quăng gươm giáo – bỏ chạy
+ Phong Lai : thác rày thân vong
(miêu tả hành động )
người anh hùng dũng cảm, khí phách, hào
hiệp, trượng nghĩa
Hình ảnh Triệu Tử ( Triệu Vân )
phá vòng vây Tào Tháo cứu chúa
BÌNH LUẬN :
Lời thơ chân chất, mộc mạc song hồn thơ
thì chan chứa , dạt dào. Nêu bật một chân
lí : kẻ bất nhân độc ác thì sẽ bị trừng trị,
anh hùng làm việc nghĩa tất yếu sẽ chiến
thắng. Vân Tiên chiến thắng bởi sức mạnh
của nhân nghĩa, lẽ phải, sức mạnh tình yêu
thương và lòng dũng cảm.Chàng là hiện
thân của người anh hùng thượng võ, sẵn
sàng cứu nguy, dám bênh vực kẻ yếu, tiêu
diệt mọi thế lực bạo tàn.
b)Đối với Kiều Nguyệt Nga :
-hỏi thăm : ai than khóc
sự quan tâm, ân cần
-Khoan khoan…là phận trai
trọng lễ giáo phong kiến
-Làm ơn há dễ trông người trả ơn
-Nhớ câu kiến nghĩa…phi anh hùng
không cần trả ơn
( miêu tả qua lời nói )
người anh hùng trọng nghĩa khinh tài
Mẫu người anh hùng lí tưởng – đại diện cho
phẩm chất, tính cách con người Nam Bộ.
2. NHÂN VẬT KIỀU NGUYỆT NGA :
-xưng hô : quân tử - tiện thiếp, chút tôi
thái độ trân trọng, khiêm nhường
-xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng
-lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi
trả ơn cũng không đủ
(miêu tả qua lời nói )
người
con gái hiền hậu, trọng
tình nghĩa
3.NÉT NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC :
-Miêu tả tính cách nhân vật thông qua lời
nói, hành động, cử chỉ
-Ngôn ngữ mang đậm chất Nam Bộ, gần
với lời ăn tiếng nói hằng ngày.
(đàng, vô, kêu rằng, mầy, thiệt hơn…)
Tính cách Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga :
Hai nhân vật là hai mặt của một cách sống. Một
là làm ơn không cần người khác đền ơn. Hai là
chịu ơn thì phải nhớ ơn.
Đó chính là cách sống và truyền thống tốt đẹp
của người Việt Nam.
III.TỔNG KẾT : ghi nhớ SGK / 115
Lục Vân Tiên cứu
Kiều Nguyệt Nga
(trích “Truyện Lục Vân Tiên”)
-Nguyễn Đình Chiểu-
I. ĐỌC HIỂU CHUNG :
1.Tác giả : Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5
năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822), tại
quê mẹ là làng Tân Thới , phủ Tân Bình,
huyện Bình Dương,
tỉnh Gia Định (thuộc
phường Cầu Kho, Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).
Ông xuất thân trong gia đình nhà nho
Thuở bé, Nguyễn Đình Chiểu được mẹ nuôi
dạy. Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo học với một
ông thầy đồ ở làng.
Năm Quý Mão (1843),
ông
đỗ Tú tài ở
trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Khi ấy, có
một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông
Năm 1848,
mẹ Nguyễn Đình Chiểu mất ở Gia Định
. Được tin, ông bỏ thi, dẫn em theo đường bộ trở
về Nam chịu tang mẹ.
Trên đường trở về, vì quá thương khóc mẹ, vì vất
vả và thời tiết thất thường, nên đến Quảng Nam
thì Nguyễn Đình Chiểu bị ốm nặng. Trong thời
gian nghỉ chữa bệnh ở nhà một thầy thuốc vốn
dòng dõi Ngự y, tuy bệnh không hết, nhưng ông
cũng đã học được nghề thuốc. Lâm cảnh mù mắt,
hôn thê bội ước, cửa nhà sa sút... Nguyễn Đình
Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ cho đến năm 1851,
thì mở trường dạy học và làm thuốc ở Bình Vi (
Gia Định). Truyện thơ Lục Vân Tiên(SGK ngữ văn
9) của ông có lẽ được bắt đầu sáng tác vào thời
gian này.
-Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (
1835-1886, người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc,
trước thuộc Gia Định; nay thuộc tỉnh Long An) làm vợ
Năm 1886, vợ ông là bà Lê Thị Điền mất lúc 51 tuổi.
Buồn rầu vì vợ mất, vì cảnh nước mất nhà tan đã bấy
lâu, vì bệnh tật ngày càng trầm trọng, hai năm sau,
ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý (3 tháng 7 năm 1888),
Nguyễn Đình Chiểu cũng qua đời tại Ba Tri, thọ 66
tuổi. Ngày đưa tiễn nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu về
cõi vĩnh hằng, cánh đồng An Đức rợp trắng khăn tang
của những người mến mộ ông.
Ông được an táng cạnh mộ vợ, nay thuộc ấp 3, xã An
Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
2.Tác phẩm :
-thể thơ : thơ lục bát
-số câu : 2082 câu
-thể loại : truyện thơ Nôm
-tóm tắt tác phẩm : SGK
Mở đầu “ Truyện Lục Vân Tiên”, Nguyễn
Đình Chiểu có viết :
Trước đèn xem truyện Tây minh,
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le.
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước, lành dè thân sau.
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Có người ở quận Đông Thanh,
Tu nhân tích đức, sớm sinh con hiền.
Đặt tên là Lục Vân Tiên,
Tuổi vừa hai tám, nghề chuyên học hành.
3.Đoạn trích “ Lục Vân Tiên cứu Kiều
Nguyệt Nga” :
-Vị trí : nằm ở phần đầu của tác phẩm.
-Đại ý : ca ngợi phẩm chất cao đẹp của Lục
Vân Tiên và nàng Kiều Nguyệt Nga.
II.ĐỌC HIỂU VĂN BẢN :
1.Hình tượng người anh hùng Lục Vân
Tiên :
a)Với bọn cướp :
- hành động :
+ghé lại bên đàng
+bẻ cây làm gậy xông vô
+ tả đột hữu xông (thành ngữ )
+ khác nào Triệu Tử (so sánh )
hành động quyết liệt để cứu giúp người gặp
nạn.
- bọn cướp :
+ lâu la : quăng gươm giáo – bỏ chạy
+ Phong Lai : thác rày thân vong
(miêu tả hành động )
người anh hùng dũng cảm, khí phách, hào
hiệp, trượng nghĩa
Hình ảnh Triệu Tử ( Triệu Vân )
phá vòng vây Tào Tháo cứu chúa
BÌNH LUẬN :
Lời thơ chân chất, mộc mạc song hồn thơ
thì chan chứa , dạt dào. Nêu bật một chân
lí : kẻ bất nhân độc ác thì sẽ bị trừng trị,
anh hùng làm việc nghĩa tất yếu sẽ chiến
thắng. Vân Tiên chiến thắng bởi sức mạnh
của nhân nghĩa, lẽ phải, sức mạnh tình yêu
thương và lòng dũng cảm.Chàng là hiện
thân của người anh hùng thượng võ, sẵn
sàng cứu nguy, dám bênh vực kẻ yếu, tiêu
diệt mọi thế lực bạo tàn.
b)Đối với Kiều Nguyệt Nga :
-hỏi thăm : ai than khóc
sự quan tâm, ân cần
-Khoan khoan…là phận trai
trọng lễ giáo phong kiến
-Làm ơn há dễ trông người trả ơn
-Nhớ câu kiến nghĩa…phi anh hùng
không cần trả ơn
( miêu tả qua lời nói )
người anh hùng trọng nghĩa khinh tài
Mẫu người anh hùng lí tưởng – đại diện cho
phẩm chất, tính cách con người Nam Bộ.
2. NHÂN VẬT KIỀU NGUYỆT NGA :
-xưng hô : quân tử - tiện thiếp, chút tôi
thái độ trân trọng, khiêm nhường
-xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng
-lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi
trả ơn cũng không đủ
(miêu tả qua lời nói )
người
con gái hiền hậu, trọng
tình nghĩa
3.NÉT NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC :
-Miêu tả tính cách nhân vật thông qua lời
nói, hành động, cử chỉ
-Ngôn ngữ mang đậm chất Nam Bộ, gần
với lời ăn tiếng nói hằng ngày.
(đàng, vô, kêu rằng, mầy, thiệt hơn…)
Tính cách Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga :
Hai nhân vật là hai mặt của một cách sống. Một
là làm ơn không cần người khác đền ơn. Hai là
chịu ơn thì phải nhớ ơn.
Đó chính là cách sống và truyền thống tốt đẹp
của người Việt Nam.
III.TỔNG KẾT : ghi nhớ SGK / 115
 








Các ý kiến mới nhất