Tìm kiếm Bài giảng
Biền pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp và hợp tác lớp 3

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Hà
Ngày gửi: 11h:56' 27-10-2022
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 729
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Hà
Ngày gửi: 11h:56' 27-10-2022
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 729
Số lượt thích:
0 người
PHÒNG GD VÀ ĐT THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH HẢI 3
HỘI THI
GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP GIỎI TIỂU HỌC CẤP TỈNH
NĂM HỌC 2021-2022
Giáo viên: Lâm Thị Kim Hiền
Đơn vị: Trường Tiểu học Vĩnh Hải 3
BIỆN PHÁP RÈN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC
SINH LỚP 5A3 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH HẢI 3
2
1
Lí do chọn
Nội dung biện
pháp
biện pháp
CẤU TRÚC
BÁO CÁO
4
3
Kết luận
Hiệu quả
của biện pháp
I. LÍ DO VÀ THỰC TRẠNG CỦA BIỆN PHÁP
- Mục tiêu giáo dục Tiểu học hướng vào việc trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản ban
đầu làm cơ sở để học sinh tiếp tục học ở các cấp cao hơn. Nội dung giáo dục Tiểu học
tập trung vào các môn học văn hóa, giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh,….
- Giao tiếp và hợp tác là năng lực quan trọng đối với mỗi công dân trong thế kỉ 21.
Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới của Việt Nam, giao tiếp và hợp
tác là một trong các năng lực chung cần trang bị cho học sinh. Giúp học sinh lớp 5 tiếp
cận với CTGDPT 2018 đang là yêu cầu đặt ra đối với các cơ sở giáo dục, trong đó có
nội dung giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác.
- Trường Tiểu học Vĩnh Hải 3 là một trường vùng đặc biệt khó khăn của thị xã Vĩnh
Châu, với đa số các em học sinh là dân tộc thiểu số.
I. LÍ DO VÀ THỰC TRẠNG CỦA BIỆN PHÁP
- Thực trạng thường gặp ở lớp tôi là đa phần các em sử dụng tiếng dân tộc để giao
tiếp, vậy nên khi các em giao tiếp bằng tiếng phổ thông gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều
em còn e ngại, xấu hổ không mạnh dạn trình bày trước đám đông. Trong giao tiếp các
em cũng chỉ nói ngắn gọn, không đủ thành phần câu. Ở trường các em được nghe thầy,
cô giáo giảng bài, được luyện đọc nhưng chưa nắm được nội dung bài, được luyện viết
nhưng không thể viết thành bài văn hoàn chỉnh được.
- Khi ra chơi các em giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Khi về với gia đình các
em sống trong môi trường thuần tiếng dân tộc, vốn Tiếng Việt tạm thời chìm vào dạng
tiềm năng.
Môi trường giao tiếp bị hạn hẹp chính là nguyên nhân lớn nhất của sự hình thành
Tiếng Việt của các em học sinh dân tộc thiểu số, làm cho kỹ năng giao tiếp của các em
gặp nhiều khó khăn.
THỰC TRẠNG
Tổng số
HS
35
Học sinh nói
mạch lạc
Học sinh nói
đủ ý
Học sinh nói
chưa đủ ý
SL
%
SL
%
SL
%
6
17,1
10
28,6
14
40
Học sinh
nhút nhát
SL
%
5
14,3
II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP
1
Hướng dẫn một số kỹ năng giao tiếp giữa cô
và trò, giữa trò với trò.
2
Rèn kỹ năng giao tiếp chuẩn mực
3
Thay đổi thói quen sử dụng ngôn ngữ nắm
bắt tâm lý học sinh, tạo không khí lớp học
nhẹ nhàng, sôi nổi.
4
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn
kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
1
Hướng dẫn một số kỹ năng giao tiếp giữa
cô và trò, giữa trò với trò.
Nhóm có kỹ
năng giao
tiếp tốt
Phân loại
HS
Nhóm có kỹ
năng giao tiếp
chưa tốt
1
Hướng dẫn một số kỹ năng giao tiếp giữa
cô và trò, giữa trò với trò.
- Trong khi giảng dạy, đặc biệt là khi tổ chức các hoạt động rèn kỹ năng sống,
tôi lựa chọn tình huống phù hợp với hai nhóm đối tượng. Nhóm giao tiếp
tương đối tốt có cơ hội tiếp tục phát triển kỹ năng giao tiếp tốt hơn nữa, còn
nhóm đối tượng có kỹ năng giao tiếp chưa tốt được rèn luyện và phát triển
thêm kỹ năng của bản thân. Ngoài ra trong quá trình giao tiếp hằng ngày tôi
tiến hành sửa câu nói cho các em học sinh trong mọi lúc, mọi nơi.
- Ban đầu tôi hướng dẫn cho các em nói theo lời tôi. Tiếp theo tôi tổ chức cho
các em trải nghiệm thực tế bằng cách đóng vai vào các trò chơi dân gian. Qua
việc trải nghiệm các em sẽ tự mình học được các lời nói đúng, lời nói hay.
1
Hướng dẫn một số kỹ năng giao tiếp giữa
cô và trò, giữa trò với trò.
Khi bạn gặp thầy
bạn nói gì?
Chào thầy!
Bạn phải nói em chào
thầy ạ!
2
Rèn kỹ năng giao tiếp chuẩn mực
1
Trải nghiệm đóng vai
2
Hoạt động ngoại khóa
2
Bạn nên xưng
mình với bạn!
Rèn kỹ năng giao tiếp chuẩn mực
Bạn không nên
xưng mày tao!
Đôi dép
mày đẹp
quá?
3
Thay đổi thói quen sử dụng ngôn ngữ nắm bắt
tâm lý học sinh, tạo không khí lớp học nhẹ
nhàng, sôi nổi.
- Thay đổi thói quen sử dụng tiếng dân tộc bằng tiếng phổ thông ở
trường mọi lúc mọi nơi, để học sinh nắm được vốn từ Tiếng Việt, để rèn
thói quen trong giao tiếp hằng ngày, khuyến khích học sinh sử dụng
tiếng phổ thông.
- Tạo không khí lớp học nhẹ nhàng hấp dẫn, để tiết dạy đạt hiệu quả
cao. Đây cũng là giải pháp đặc trưng trong quá trình giảng dạy, đối với
học sinh dân tộc thiểu số, ở tất cả các bậc học đặc biệt là ở Tiểu học.
- Nắm bắt tâm lý học sinh dân tộc thiểu số, đổi mới phương pháp
dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, tùy theo các môn học nên
chú trọng đến các yếu tố, vừa truyền đạt kiến thức của bài học đồng thời
tăng cường Tiếng Việt bằng những trò chơi ở tất cả các môn học.
3
Thay đổi thói quen sử dụng ngôn ngữ nắm bắt
tâm lý học sinh, tạo không khí lớp học nhẹ
nhàng, sôi nổi.
Các em giơ tay
xung phong phát
biểu ý kiến
4
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn
kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
1
Phương
pháp
Phương pháp thảo luận nhóm
2
3
Trò chơi học tập
Phương pháp thuyết trình, kể
chuyện, đóng vai
4
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn
kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
Các nhóm đang hoạt động thảo
luận trong giờ học.
III. HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP
Qua quá trình nghiên cứu và không ngừng học hỏi
của bản thân, tôi đã áp dụng biện pháp rèn năng lực
giao tiếp cho học sinh lớp tôi hiện nay đã được nâng
lên vượt bậc. Các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự
tin trước đám đông, sôi nổi trong giờ học, tôi nhận
thấy một số biện pháp của tôi đưa ra mang lại kết quả
khả quan, kỹ năng giao tiếp của các em có sự thay đổi
rõ rệt và đạt kết quả như sau:
Đầu năm học 2021 – 2022 đến giữa học kì 1
Tổng số
HS
35
Học sinh nói
mạch lạc
Học sinh nói đủ
ý
Học sinh nói
chưa đủ ý
SL
%
SL
%
SL
%
11
31,4
14
40
8
22,9
Dự kiến đến cuối năm học 2021 2022
Tổng số
HS
35
Học sinh nói
mạch lạc
Học sinh nói đủ
ý
Học sinh nói
chưa đủ ý
SL
%
SL
%
SL
%
22
62,9
13
37,1
0
0
Học sinh nhút
nhát
SL
%
2
5,7
Học sinh nhút
nhát
SL
%
0
0
IV. KẾT LUẬN
Qua thời gian thực hiện biện pháp, tôi rút ra một số kết luận:
- Bản thân người giáo viên phải kiên nhẫn, gần gũi với học sinh.
Bởi lẽ, chỉ khi học sinh cảm thấy thoải mái, thân thiết các em
mới cởi mở giao tiếp với giáo viên, bạn bè, người thân... Từ đó,
chúng ta mới dễ dàng khuyến khích, động viên giúp các em tự
tin hơn trong giao tiếp với mọi người.
- Cách ứng xử, giao tiếp của giáo viên cũng ít nhiều ảnh hưởng
đến cách ứng xử, giao tiếp của học sinh. Giáo viên phải là tấm
gương sáng để học sinh noi theo. Chính vì vậy, tôi luôn nhắc nhở
mình ứng xử nhẹ nhàng, đúng mực, gần gũi, động viên, khuyến
khích và tuyên dương những em tiến bộ.
- Luôn gần gũi, bên cạnh, quan tâm tới hoàn cảnh sống của học
sinh (nhất là học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn), từ đó sẽ
giúp cho hoạt động của lớp có hiệu quả hơn.
TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH HẢI 3
HỘI THI
GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP GIỎI TIỂU HỌC CẤP TỈNH
NĂM HỌC 2021-2022
Giáo viên: Lâm Thị Kim Hiền
Đơn vị: Trường Tiểu học Vĩnh Hải 3
BIỆN PHÁP RÈN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC
SINH LỚP 5A3 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH HẢI 3
2
1
Lí do chọn
Nội dung biện
pháp
biện pháp
CẤU TRÚC
BÁO CÁO
4
3
Kết luận
Hiệu quả
của biện pháp
I. LÍ DO VÀ THỰC TRẠNG CỦA BIỆN PHÁP
- Mục tiêu giáo dục Tiểu học hướng vào việc trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản ban
đầu làm cơ sở để học sinh tiếp tục học ở các cấp cao hơn. Nội dung giáo dục Tiểu học
tập trung vào các môn học văn hóa, giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh,….
- Giao tiếp và hợp tác là năng lực quan trọng đối với mỗi công dân trong thế kỉ 21.
Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới của Việt Nam, giao tiếp và hợp
tác là một trong các năng lực chung cần trang bị cho học sinh. Giúp học sinh lớp 5 tiếp
cận với CTGDPT 2018 đang là yêu cầu đặt ra đối với các cơ sở giáo dục, trong đó có
nội dung giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác.
- Trường Tiểu học Vĩnh Hải 3 là một trường vùng đặc biệt khó khăn của thị xã Vĩnh
Châu, với đa số các em học sinh là dân tộc thiểu số.
I. LÍ DO VÀ THỰC TRẠNG CỦA BIỆN PHÁP
- Thực trạng thường gặp ở lớp tôi là đa phần các em sử dụng tiếng dân tộc để giao
tiếp, vậy nên khi các em giao tiếp bằng tiếng phổ thông gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều
em còn e ngại, xấu hổ không mạnh dạn trình bày trước đám đông. Trong giao tiếp các
em cũng chỉ nói ngắn gọn, không đủ thành phần câu. Ở trường các em được nghe thầy,
cô giáo giảng bài, được luyện đọc nhưng chưa nắm được nội dung bài, được luyện viết
nhưng không thể viết thành bài văn hoàn chỉnh được.
- Khi ra chơi các em giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Khi về với gia đình các
em sống trong môi trường thuần tiếng dân tộc, vốn Tiếng Việt tạm thời chìm vào dạng
tiềm năng.
Môi trường giao tiếp bị hạn hẹp chính là nguyên nhân lớn nhất của sự hình thành
Tiếng Việt của các em học sinh dân tộc thiểu số, làm cho kỹ năng giao tiếp của các em
gặp nhiều khó khăn.
THỰC TRẠNG
Tổng số
HS
35
Học sinh nói
mạch lạc
Học sinh nói
đủ ý
Học sinh nói
chưa đủ ý
SL
%
SL
%
SL
%
6
17,1
10
28,6
14
40
Học sinh
nhút nhát
SL
%
5
14,3
II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP
1
Hướng dẫn một số kỹ năng giao tiếp giữa cô
và trò, giữa trò với trò.
2
Rèn kỹ năng giao tiếp chuẩn mực
3
Thay đổi thói quen sử dụng ngôn ngữ nắm
bắt tâm lý học sinh, tạo không khí lớp học
nhẹ nhàng, sôi nổi.
4
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn
kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
1
Hướng dẫn một số kỹ năng giao tiếp giữa
cô và trò, giữa trò với trò.
Nhóm có kỹ
năng giao
tiếp tốt
Phân loại
HS
Nhóm có kỹ
năng giao tiếp
chưa tốt
1
Hướng dẫn một số kỹ năng giao tiếp giữa
cô và trò, giữa trò với trò.
- Trong khi giảng dạy, đặc biệt là khi tổ chức các hoạt động rèn kỹ năng sống,
tôi lựa chọn tình huống phù hợp với hai nhóm đối tượng. Nhóm giao tiếp
tương đối tốt có cơ hội tiếp tục phát triển kỹ năng giao tiếp tốt hơn nữa, còn
nhóm đối tượng có kỹ năng giao tiếp chưa tốt được rèn luyện và phát triển
thêm kỹ năng của bản thân. Ngoài ra trong quá trình giao tiếp hằng ngày tôi
tiến hành sửa câu nói cho các em học sinh trong mọi lúc, mọi nơi.
- Ban đầu tôi hướng dẫn cho các em nói theo lời tôi. Tiếp theo tôi tổ chức cho
các em trải nghiệm thực tế bằng cách đóng vai vào các trò chơi dân gian. Qua
việc trải nghiệm các em sẽ tự mình học được các lời nói đúng, lời nói hay.
1
Hướng dẫn một số kỹ năng giao tiếp giữa
cô và trò, giữa trò với trò.
Khi bạn gặp thầy
bạn nói gì?
Chào thầy!
Bạn phải nói em chào
thầy ạ!
2
Rèn kỹ năng giao tiếp chuẩn mực
1
Trải nghiệm đóng vai
2
Hoạt động ngoại khóa
2
Bạn nên xưng
mình với bạn!
Rèn kỹ năng giao tiếp chuẩn mực
Bạn không nên
xưng mày tao!
Đôi dép
mày đẹp
quá?
3
Thay đổi thói quen sử dụng ngôn ngữ nắm bắt
tâm lý học sinh, tạo không khí lớp học nhẹ
nhàng, sôi nổi.
- Thay đổi thói quen sử dụng tiếng dân tộc bằng tiếng phổ thông ở
trường mọi lúc mọi nơi, để học sinh nắm được vốn từ Tiếng Việt, để rèn
thói quen trong giao tiếp hằng ngày, khuyến khích học sinh sử dụng
tiếng phổ thông.
- Tạo không khí lớp học nhẹ nhàng hấp dẫn, để tiết dạy đạt hiệu quả
cao. Đây cũng là giải pháp đặc trưng trong quá trình giảng dạy, đối với
học sinh dân tộc thiểu số, ở tất cả các bậc học đặc biệt là ở Tiểu học.
- Nắm bắt tâm lý học sinh dân tộc thiểu số, đổi mới phương pháp
dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, tùy theo các môn học nên
chú trọng đến các yếu tố, vừa truyền đạt kiến thức của bài học đồng thời
tăng cường Tiếng Việt bằng những trò chơi ở tất cả các môn học.
3
Thay đổi thói quen sử dụng ngôn ngữ nắm bắt
tâm lý học sinh, tạo không khí lớp học nhẹ
nhàng, sôi nổi.
Các em giơ tay
xung phong phát
biểu ý kiến
4
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn
kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
1
Phương
pháp
Phương pháp thảo luận nhóm
2
3
Trò chơi học tập
Phương pháp thuyết trình, kể
chuyện, đóng vai
4
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn
kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
Các nhóm đang hoạt động thảo
luận trong giờ học.
III. HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP
Qua quá trình nghiên cứu và không ngừng học hỏi
của bản thân, tôi đã áp dụng biện pháp rèn năng lực
giao tiếp cho học sinh lớp tôi hiện nay đã được nâng
lên vượt bậc. Các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự
tin trước đám đông, sôi nổi trong giờ học, tôi nhận
thấy một số biện pháp của tôi đưa ra mang lại kết quả
khả quan, kỹ năng giao tiếp của các em có sự thay đổi
rõ rệt và đạt kết quả như sau:
Đầu năm học 2021 – 2022 đến giữa học kì 1
Tổng số
HS
35
Học sinh nói
mạch lạc
Học sinh nói đủ
ý
Học sinh nói
chưa đủ ý
SL
%
SL
%
SL
%
11
31,4
14
40
8
22,9
Dự kiến đến cuối năm học 2021 2022
Tổng số
HS
35
Học sinh nói
mạch lạc
Học sinh nói đủ
ý
Học sinh nói
chưa đủ ý
SL
%
SL
%
SL
%
22
62,9
13
37,1
0
0
Học sinh nhút
nhát
SL
%
2
5,7
Học sinh nhút
nhát
SL
%
0
0
IV. KẾT LUẬN
Qua thời gian thực hiện biện pháp, tôi rút ra một số kết luận:
- Bản thân người giáo viên phải kiên nhẫn, gần gũi với học sinh.
Bởi lẽ, chỉ khi học sinh cảm thấy thoải mái, thân thiết các em
mới cởi mở giao tiếp với giáo viên, bạn bè, người thân... Từ đó,
chúng ta mới dễ dàng khuyến khích, động viên giúp các em tự
tin hơn trong giao tiếp với mọi người.
- Cách ứng xử, giao tiếp của giáo viên cũng ít nhiều ảnh hưởng
đến cách ứng xử, giao tiếp của học sinh. Giáo viên phải là tấm
gương sáng để học sinh noi theo. Chính vì vậy, tôi luôn nhắc nhở
mình ứng xử nhẹ nhàng, đúng mực, gần gũi, động viên, khuyến
khích và tuyên dương những em tiến bộ.
- Luôn gần gũi, bên cạnh, quan tâm tới hoàn cảnh sống của học
sinh (nhất là học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn), từ đó sẽ
giúp cho hoạt động của lớp có hiệu quả hơn.
 








Các ý kiến mới nhất