BÁO CÁO BIỆN PHÁP MÔN CHÍNH TẢ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Bích Hoan
Ngày gửi: 08h:19' 24-11-2022
Dung lượng: 271.9 KB
Số lượt tải: 332
Nguồn:
Người gửi: Hồ Bích Hoan
Ngày gửi: 08h:19' 24-11-2022
Dung lượng: 271.9 KB
Số lượt tải: 332
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Thị Yên)
UBND THỊ XÃ NINH HÒA
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 NINH HIỆP
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
“RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 2”
HỘI THI GIÁO VIÊN
NĂM HỌC: 2022- 2023
DẠY
GIỎI
CẤP
Giáo viên: Hồ Thị Bích Hoan
UBND thị xã Ninh Hòa
Trường Tiểu học số 1 Ninh Hiệp
Báo cáo biện pháp nâng cao chất lượng công tác giảng dạy
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
I. Đặt vấn đề
II. Thực trạng, nguyên nhân
III. Biện pháp áp dụng
IV. Kết quả đạt được
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
I. Đặt vấn đề:
Chính tả là một phân môn trong môn tiếng
Việt ở tiểu học. Phân môn chính tả có một vị trí
rất quan trọng, bởi phân môn này dạy cho học
sinh tri thức và kĩ năng viết, phát triển năng lực
sử dụng chữ viết vào hoạt động giao tiếp. Trẻ em
đến tuổi đi học thường bắt đầu quá trình học tập
bằng việc học chữ. Ở giai đoạn đầu ( bậc tiểu
học) trẻ tiếp tục hoàn thiện năng lực tiếng mẹ đẻ.
Từ đó bắt đầu dạy em học chữ. Muốn đọc thông
viết thạo trẻ phải được học viết chính tả.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
II. Thực trạng, nguyên nhân
1. Đặc điểm tình hình chung của lớp
a. Thuận lợi
-Đa số các em có đầy đủ đồ dùng học tập. Có nền móng
học tập từ lớp 1 là lớp đầu tiên tiếp cận CTGD 2018.
- Đây là CT dạy học chú trọng vào phát triển năng lực và
phẩm chất cho học sinh và để cho học sinh tự do khám
phá phần kiến thức của mình.
- Các em được học hai buổi/ ngày, thuận lợi cho việc rèn
luyện và kiểm tra
- Học sinh có đầy đủ vở bài tập Tiếng Việt ( ghi sẵn nội
dung từng bài tập) Ngay từ đầu năm học, nhà trường đã
có chỉ đạo cho giáo viên lên kế hoạch rèn học sinh viết
đúng chính tả
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
II. Thực trạng, nguyên nhân
1. Đặc điểm tình hình chung của lớp
b. Khó khăn
-Tình hình thực tế học sinh lớp Hai đọc, viết các em còn
hạn chế. Các em chỉ hiểu nghĩa của các từ ngữ ở mức độ
đơn giản trong khi từ ngữ Tiếng Việt vô cùng phong phú.
-Một số em thiếu sự quan tâm của gia đình, do bố mẹ đi
làm ăn xa, gởi cho ông bà chăm.
- Phần đông học sinh lớp chưa có ý thức tự giác về học
tập.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
II. Thực trạng, nguyên nhân
2. Nhận định nguyên nhân
- Với chương trình mới như hiện nay thì đòi hỏi phải thay
đổi về phương pháp dạy học. Mà các em từ lớp 1 mới lên,
khi mà chưa hiểu hết nghĩa của từ. Bên cạnh đó, ý thức
tự học, tự rèn chưa cao. Thái độ chú ý trong giờ viết
chính tả còn lơ là, ham chơi. Nhiều em lại chưa đọc
thông, viết thạo hoặc tốc độ viết còn quá chậm.
- Các em chưa nắm vững âm, vần và dấu thanh, chưa
phân biệt được rõ ràng giữa âm vần và dấu thanh khi viết.
Qua tình hình thực tế của lớp, tôi nhận thấy các em viết
sai chính tả do những lỗi sau:
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
-Lỗi viết sai do thiếu dấu phụ hoặc nhầm lẫn giữa
các dấu phụ như : ươ /uơ/ưo, uô viết uo, âm/ ăm
( châm biếm/ chăm sóc) , au/ âu ( rau canh/ bộ
râu), ưa/ua (thửa/ thủa), o/ô (ong: nước
trong/ông: trông em), .…
- Lỗi viết sai hoặc nhầm các vần khó như: uya
viết uia hoặc ya , uyu viết yu , uênh viết uên ,
oang viết aong, oeo viết eo, oăc/oăt,..
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
- Lỗi viết sai hoặc nhầm phụ âm cuối như t/c:
(ăt/ăc – khuôn mặt/ mặc đồ) (at/ac – tát nước /
hợp tác) (uôt/uôc, iêt/ iêc,….) n/ng uôn/uông
( mong muốn/ rau muống, iên /iêng, an/ ang, (i/y
:ai/ ay mái nhà/ máy xúc), t/ch : êt/ êch (bạc
phếch)
- Lỗi viết sai nghĩa của từ như: dành/giành/ rành
( dành dụm/ tranh giành/ rành rọt), dang/giang/
vang ( dang tay/ giang sơn/vẻ vang …).
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
- Lỗi viết sai quy tắc chính tả (gh, ngh, k chỉ
ghép với e, ê, i ). Còn lại đi với g, ng, c
+Ví dụ: kỉ niệm viết là cỉ niệm, nghe ngóng
viết là nge ngóng
- Lỗi viết sai hoặc nhầm về thanh điệu như
thanh hỏi/ thanh ngã
+ Ví dụ: nghỉ/ nghĩ ( nghỉ ngơi/ nghĩ
ngợi) ,ngả/ ngã ( ngả nghiêng/ ngã ba),…
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
-Lỗi viết sai hay nhầm về âm đầu:
+ ví dụ: v/qu : (va chạm/ qua cầu),… s/ x : (con
sẻ/ xẻ gỗ)…. , tr/ ch: trống/ chống ( cái trống/
chống gậy) hoặc tre/che ( cây tre/ mái che),
- Lỗi viết nhầm âm r/d/gi:
+ ví dụ: d/gi : dữ/ giữ (dữ dằn/ giữ gìn), v/d vào/
dào (ra vào/ dạt dào), ( về/ dề),. … r/gi: ra/ gia
( đi ra/ gia vị)
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
-Lỗi viết sai hoặc nhầm về phần vần như sau :
* uôi/ui : ví dụ: muối/ múi ( muối biển/ múi
bưởi) – uôn/ un: buồn/bùn( buồn bã/ bùn đất)
* ao/au: lao/lau ( lao động/ lau nhà),..
* im / iêm ( tim/ tiêm ( quả tim/ tiêm thuốc),..
* iu/iêu: chìu/ chiều ( chìu chuộng/ buổi chiều),...
* iêu/yêu: yêu thương/ iêu thương
* ưi/ ươi: số mười/ số mừi
* ưu/iêu/ ươu: con hươu/ con hiêu/ con hưu
* uôn/uông: chuồn/ chuồng ( chuồn chuồn/ cái
chuồng)
* ươn/ương: vươn lên / vương vãi
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
- Lỗi viết sai chữ hoa
Lỗi này các em thường gặp ở các dạng sau :
* Không viết hoa chữ đầu câu:
-Ví dụ: (Nghe – viết): Ngày hôm qua đâu rồi? ( Sách
TV 2 tập 1 trang 13) – Viết 2 khổ thơ cuối
-Ngày hôm qua ở lại
Trong hạt lúa mẹ trồng
Cánh đồng chờ gặt hái
Chín vàng màu ước mong.
-Ngày hôm qua ở lại
Trong vở hồng của
con
Con học hành chăm
chỉ
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
- Hầu như các em quên không viết hoa các chữ đầu câu
hoặc có viết hoa nhưng có chữ không viết hoa.
* Không viết hoa danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh:
+ Ví dụ: Dạy (Nghe - viết): Một giờ học (SáchTV tập1
trang 28) - Viết đoạn tóm tắt:
“ Đúng là nói trước cả lớp thì chẳng dễ chút nào. Lúc
đầu, Quang còn ngượng nghịu. Nhưng nhờ thầy giáo và
các bạn động viên, Quang đã tự tin hơn và nói một cách
lưu loát.”
- Khi các em viết thì không viết hoa tên riêng ( quang)
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
- Viết hoa tùy ý
+ Ví dụ: Nghe – viết: Tớ nhớ cậu ( Sách TV tập 1 trang
83) – Viết đoạn tóm tắt:
“Kiến là bạn thân của sóc. Hằng ngày, hai bạn rủ
nhau đi học. Một ngày nọ, nhà kiến chuyển sang rừng
khác. Sóc và kiến rất buồn. Hai bạn tìm cách gửi thư cho
nhau để bày tỏ nỗi nhớ.”
- Khi viết các em thường nhầm viết hoa chữ “Kiến”,“Sóc”
- Ngoài ra ở một số bài viết, các em còn mắc các lỗi về
phần Trình bày, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét giữa chữ
m và n hay u, i, không ghi dấu thanh …
Với thực trạng trên đây đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải
nghiên cứu và tìm ra nhiều biện pháp giúp đỡ các em khắc
phục lỗi chính tả.
Người báo cáo: Hồ Thị B ích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 1: Dạy chính tả kết hợp với giải nghĩa từ:
-Do ngôn ngữ của từng vùng miền khác nhau, nên cách
phát âm đôi lúc chưa thống nhất với chữ viết nên học
sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng
-Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe – viết): Em học vẽ ( sách
TV 2 tập 1 trang 58)
Hôm nay trong lớp học
Với giấy trắng, bút màu
Nắn nót em ngồi vẽ
Lung linh bầu trời sao.
-Vẽ ông trăng trên cao
Rải ánh vàng đầy ngõ
Vẽ cánh diều no gió
Vi vu giữa trời xanh.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
GV đọc câu: Nắn nót em ngồi vẽ
Nhưng HS lại viết: Nắng nót em ngồi vẽ
Do đó cần giúp cho HS hiểu “ nắn” là nắn nót từng nét
chữ cho đều và đẹp. Còn “ nắng” là tia nắng hay ánh nắng
mặt trời. Vì vậy phải viết là “ Nắn nót”
Hoặc chữ “vẽ ”- HS sẽ viết nhầm là “vẻ”. Nên GV cần giúp
các em hiểu nghĩa của “ vẽ ” là chỉ hoạt động, thao tác.
Còn “ vẻ” là chỉ biểu cảm hay đặc điểm.
Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc,
Luyện từ và câu, Tập làm văn hơn, nhưng trong tiết chính tả
khi mà học sinh khó phân biệt vào lúc phát âm hay phân
tích cấu tạo tiếng. Thì GV cần đến việc giải nghĩa từ.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
tả:
Biện pháp 2: Giúp học sinh ghi nhớ luật chính
- Ở lớp Một, các em đã được làm quen với luật chính tả
đơn giản như : k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm
g, ng, c kết hợp với : a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư. Trong quá trình
ghép âm với vần tạo tiếng. Lên lớp 2 các em được khắc
sâu lại qua các bài tập chính tả.
- ví dụ: Bài tập 2 trang 60 ( sách TV 2 tập 1)
Chọn ng hay ngh thay cho ô vuông
a. Trăm e không bằng một thấy
b. Có công mài sắt, có ày nên kim.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 3:Dạy chính tả kết hợp với phân tích so sánh:
- Khi luyện phát âm cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn
các em phân tích so sánh tiếng, từ khó, qua việc áp dụng
biện pháp phân tích cấu tạo tiếng để so sánh các tiếng, từ
mà các em dễ nhầm lẫn như đã nêu trên :
+ Ví dụ: Dạy bài chính tả ( nghe- viết): Làm việc thật là
vui ( TV2 tập 1 trang 21)
Quanh ta, mọi vật, mọi người đều làm việc.
Cái đồng hồ báo phút, báo giờ. Con gà trống gáy
vang báo trời sắp sáng. Con tu hú gọi mùa vải chín. Cành
đào nở hoa cho sắc xuân thêm rực rỡ, ngày xuân thêm
tưng bừng.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
-Trước khi học sinh viết bài giáo viên hướng dẫn học
sinh phân tích một số tiếng dễ nhầm lẫn như:
việc ≠ việt: làm việc ≠ Việt Nam
phút ≠ phúc : Giúp HS hiểu “phút” là đơn vị của thời
gian. Còn “phúc” nói về hạnh phúc hay phúc đức.Nếu HS
không hiểu GV có thể đặt câu để HS hiểu hơn
Ví dụ: Mẹ tôi đi chợ hơn 50 phút. / Mẹ tôi là người hạnh
phúc nhất.
trống ≠chống: tiếng trống ≠ chống bão
sắc ≠ sắt: sắc đẹp ( đặc điểm) ≠ thanh sắt ( đồ vật)
Giáo viên cần nhấn mạnh những điểm khác biệt hay
nhầm lẫn để học sinh ghi nhớ.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 4: Dạy chính tả gắn với việc luyện phát âm
- Hướng dẫn học sinh luyện phát âm đúng, phân tích để
phân biệt âm đầu, vần và thanh. Giáo viên cần phát âm
chuẩn.
- Đối với học sinh hạn chế dùng từ địa phương như vậy
hạn chế cho việc các em có thói quen phát âm sai dẫn đến
viết sai chính tả.
+ Ví dụ: đi về / đi dìa - tôi / tui- ti vi/ tu vi- quyển vở/
quyển dở, thôi/ thoi,…
- Khi dạy giáo viên cần đọc chậm, rõ ràng chữ để học
sinh viết đúng
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 5: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các
bài tập phân biệt:
-Theo CTGDPT 2018. Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc
sống. Các dạng bài tập chính tả lớp Hai trong HKI đến
HKII thường xoay quanh dạng bài tập điền âm hay vần
hay tiếng thay cho ô vuông; Bài tập tìm tiếng, từ (thông
qua tranh ảnh); Bài tập lựa chọn. Bài tập phân biệt thanh
hỏi và thanh ngã
- Bài tập điền vào ô vuông
+Ví dụ: Bài tập 3 a. trang 52 TV 2 tập 1
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
a. Chọn s hoặc x thay cho ô vuông rồi giải câu đố
- Giữa đám lá mượt
anh
Treo từng chùm chuông nhỏ
Trắng anh và hồng đỏ
Bừng áng cả vườn quê.
( là quả gì ?)
Ví dụ: Bài tập 2 trang 51 TV2 tập 2
Chọn ươc hoặc ươt thay cho ô vuông
-Hoa thược d
nở rực rỡ trong vườn
- Những hàng liễu rũ th
tha bên hồ.
- N ngập mênh mông.
.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
- Hoặc phân biệt theo nghĩa từ ( BT lựa chọn)
+Ví dụ bài tập 3b trang 68 TV2 tập 1
-b. Chọn tiếng trong ngoặc đơn thay cho ô vuông.
- ( gắn/ gắng):
bó, cố
,
sức
- (nắn/ nắng): ánh
, uốn
,
nót
- (vần/ vầng):
thơ,
trăng,
trán
- (vân/ vâng):
gỗ,
lời,
tay.
*Bài tập tìm từ : có hai dạng
1) Tìm từ thông qua tranh ảnh
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
+Ví dụ: Bài tập 2 trang 52 TV2 tập 1
Dựa vào tranh, viết từ ngữ có tiếng bắt đầu bằng g hoặc gh
2) Tìm từ có tiếng chứa vần
+ Ví dụ: Bài tập 3b trang 89 TV2 tập 2
Tìm từ ngữ có tiếng chứa ên hoặc ênh
M:
ên: bến tàu
ênh: mênh mông
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
* Bài tập phân biệt dấu thanh
+ Ví dụ: Bài tập 3b. trang 65 TV2 tập 2
Chọn dấu hỏi hoặc dấu ngã cho chữ in đậm
+ Nhát như tho.
- Khoe như trâu.
- Dư như
hổ.
- Ngoài ra giáo viên cần đưa ra những trường hợp viết sai
(bỏ dấu, hoặc nhầm dấu huyền với dấu sắc) để hướng dẫn
học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó hướng học sinh đi đến
cái đúng.
- Sau mỗi bài tập chính tả giáo viên cần luyện học sinh phát
âm lại từ khó, phân tích so sánh tiếng, từ khó, giải nghĩa từ,
ghi nhớ mẹo luật chính tả.Từ mỗi bài tập, giáo viên giúp các
em rút ra các qui tắc chính tả để các em ghi nhớ
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 6: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các
môn học khác:
-Trong các môn học khác GV cũng cần theo dõi giúp cho
các em viết đúng chính tả như: Tập làm văn, Luyện từ và
câu, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Toán,… thông qua
việc ghi bài vào vở, học sinh thường ghi đề sai, giáo viên
thường xuyên theo dõi vở học hằng ngày để phát hiện lỗi
sai và sửa chữa kịp thời.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
+ Môn Âm nhạc: Học hát: Con chim chích chòe
Có học sinh lại viết: Học hát: Con chim chích chèo
+ Môn Toán : Khi giải bài toán có lời văn, học sinh thường
viết sai khi ghi câu lời giải. Ví dụ: Số hành khách trên
thuyền có tất cả là:
Có em lại viết: số hành khách chên thuyền có tất cả là:
Hoặc câu: Số quyển vở có là:
Có em lại viết: Số quiển vở có là:
- Giáo viên cần sửa chữa kịp thời để các em không mắc
lại lần nữa
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
+ Đạo đức: Bài 1: Vẻ đẹp quê hương
Có học sinh lại viết: Vẽ đẹp quê hương
+ Tự nhiên và xã hội: Bài 3: Phòng tránh ngộ độc khi ở nhà
Có học sinh viết: Phòng chánh ngộ độc khi ở nhà/ Phòng
tránh ngộ đọc khi ở nhà
+ Môn Luyện từ và câu hay Tập làm văn: Khi học sinh đặt
câu. GV thường xuyên kiểm tra và sửa sai kịp thời để các
em ghi nhớ.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
IV. Kết quả đạt được:
+ Trong quá trình giảng dạy lớp Hai cho đến nay, tôi đã
áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy học sinh có tiến bộ
rõ rệt. Học sinh hứng thú hơn trong giờ học chính tả. Tỉ lệ
học sinh viết sai chính tả giảm đáng kể.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
IV. Kết quả đạt được:
Kết quả tổng hợp số lỗi của phân môn chính tả cụ thể qua
từng đợt kiểm tra năm học 2021-2022 như sau:
Tổng hợp số lỗi chính tả
Thời
điểm
Từ 0-1
Từ 2-3
Từ 4-5
Trên 5
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
%
Khảo sát
Đầu năm
35
5
14,3%
10
28,6%
12
34,3%
8
22,8%
GKI
35
9
25,7%
12
34,3%
9
25,7%
5
14,3%
CKI
35
12
34,3%
14
40,0% 5
14,3%
4
11,4%
GKII
35
14
40,0% 15
42,8%
8,6%
3
8,6%
3
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
IV. Kết luận:
Tôi cũng đã áp dụng một số biện pháp này vào các
giờ học chính tả trong nhiều năm giảng dạy lớp Hai và
nhận thấy chất lượng học phân môn Chính tả đạt kết quả
cao dần theo từng kì của mỗi năm.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám khảo đã tạo mọi
điều kiện để bản thân tham dự Hội thi. Bản thân tôi xin
lắng nghe, học tập những đóng góp, ý kiến từ Ban giám
khảo.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
UBND thị xã Ninh Hòa
Trường Tiểu học số 1 Ninh Hiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Xin chân thành cảm ơn
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
Năm học: 2022- 2023
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 NINH HIỆP
BÁO CÁO BIỆN PHÁP
“RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 2”
HỘI THI GIÁO VIÊN
NĂM HỌC: 2022- 2023
DẠY
GIỎI
CẤP
Giáo viên: Hồ Thị Bích Hoan
UBND thị xã Ninh Hòa
Trường Tiểu học số 1 Ninh Hiệp
Báo cáo biện pháp nâng cao chất lượng công tác giảng dạy
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
I. Đặt vấn đề
II. Thực trạng, nguyên nhân
III. Biện pháp áp dụng
IV. Kết quả đạt được
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
I. Đặt vấn đề:
Chính tả là một phân môn trong môn tiếng
Việt ở tiểu học. Phân môn chính tả có một vị trí
rất quan trọng, bởi phân môn này dạy cho học
sinh tri thức và kĩ năng viết, phát triển năng lực
sử dụng chữ viết vào hoạt động giao tiếp. Trẻ em
đến tuổi đi học thường bắt đầu quá trình học tập
bằng việc học chữ. Ở giai đoạn đầu ( bậc tiểu
học) trẻ tiếp tục hoàn thiện năng lực tiếng mẹ đẻ.
Từ đó bắt đầu dạy em học chữ. Muốn đọc thông
viết thạo trẻ phải được học viết chính tả.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
II. Thực trạng, nguyên nhân
1. Đặc điểm tình hình chung của lớp
a. Thuận lợi
-Đa số các em có đầy đủ đồ dùng học tập. Có nền móng
học tập từ lớp 1 là lớp đầu tiên tiếp cận CTGD 2018.
- Đây là CT dạy học chú trọng vào phát triển năng lực và
phẩm chất cho học sinh và để cho học sinh tự do khám
phá phần kiến thức của mình.
- Các em được học hai buổi/ ngày, thuận lợi cho việc rèn
luyện và kiểm tra
- Học sinh có đầy đủ vở bài tập Tiếng Việt ( ghi sẵn nội
dung từng bài tập) Ngay từ đầu năm học, nhà trường đã
có chỉ đạo cho giáo viên lên kế hoạch rèn học sinh viết
đúng chính tả
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
II. Thực trạng, nguyên nhân
1. Đặc điểm tình hình chung của lớp
b. Khó khăn
-Tình hình thực tế học sinh lớp Hai đọc, viết các em còn
hạn chế. Các em chỉ hiểu nghĩa của các từ ngữ ở mức độ
đơn giản trong khi từ ngữ Tiếng Việt vô cùng phong phú.
-Một số em thiếu sự quan tâm của gia đình, do bố mẹ đi
làm ăn xa, gởi cho ông bà chăm.
- Phần đông học sinh lớp chưa có ý thức tự giác về học
tập.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
II. Thực trạng, nguyên nhân
2. Nhận định nguyên nhân
- Với chương trình mới như hiện nay thì đòi hỏi phải thay
đổi về phương pháp dạy học. Mà các em từ lớp 1 mới lên,
khi mà chưa hiểu hết nghĩa của từ. Bên cạnh đó, ý thức
tự học, tự rèn chưa cao. Thái độ chú ý trong giờ viết
chính tả còn lơ là, ham chơi. Nhiều em lại chưa đọc
thông, viết thạo hoặc tốc độ viết còn quá chậm.
- Các em chưa nắm vững âm, vần và dấu thanh, chưa
phân biệt được rõ ràng giữa âm vần và dấu thanh khi viết.
Qua tình hình thực tế của lớp, tôi nhận thấy các em viết
sai chính tả do những lỗi sau:
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
-Lỗi viết sai do thiếu dấu phụ hoặc nhầm lẫn giữa
các dấu phụ như : ươ /uơ/ưo, uô viết uo, âm/ ăm
( châm biếm/ chăm sóc) , au/ âu ( rau canh/ bộ
râu), ưa/ua (thửa/ thủa), o/ô (ong: nước
trong/ông: trông em), .…
- Lỗi viết sai hoặc nhầm các vần khó như: uya
viết uia hoặc ya , uyu viết yu , uênh viết uên ,
oang viết aong, oeo viết eo, oăc/oăt,..
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
- Lỗi viết sai hoặc nhầm phụ âm cuối như t/c:
(ăt/ăc – khuôn mặt/ mặc đồ) (at/ac – tát nước /
hợp tác) (uôt/uôc, iêt/ iêc,….) n/ng uôn/uông
( mong muốn/ rau muống, iên /iêng, an/ ang, (i/y
:ai/ ay mái nhà/ máy xúc), t/ch : êt/ êch (bạc
phếch)
- Lỗi viết sai nghĩa của từ như: dành/giành/ rành
( dành dụm/ tranh giành/ rành rọt), dang/giang/
vang ( dang tay/ giang sơn/vẻ vang …).
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
- Lỗi viết sai quy tắc chính tả (gh, ngh, k chỉ
ghép với e, ê, i ). Còn lại đi với g, ng, c
+Ví dụ: kỉ niệm viết là cỉ niệm, nghe ngóng
viết là nge ngóng
- Lỗi viết sai hoặc nhầm về thanh điệu như
thanh hỏi/ thanh ngã
+ Ví dụ: nghỉ/ nghĩ ( nghỉ ngơi/ nghĩ
ngợi) ,ngả/ ngã ( ngả nghiêng/ ngã ba),…
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
-Lỗi viết sai hay nhầm về âm đầu:
+ ví dụ: v/qu : (va chạm/ qua cầu),… s/ x : (con
sẻ/ xẻ gỗ)…. , tr/ ch: trống/ chống ( cái trống/
chống gậy) hoặc tre/che ( cây tre/ mái che),
- Lỗi viết nhầm âm r/d/gi:
+ ví dụ: d/gi : dữ/ giữ (dữ dằn/ giữ gìn), v/d vào/
dào (ra vào/ dạt dào), ( về/ dề),. … r/gi: ra/ gia
( đi ra/ gia vị)
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
-Lỗi viết sai hoặc nhầm về phần vần như sau :
* uôi/ui : ví dụ: muối/ múi ( muối biển/ múi
bưởi) – uôn/ un: buồn/bùn( buồn bã/ bùn đất)
* ao/au: lao/lau ( lao động/ lau nhà),..
* im / iêm ( tim/ tiêm ( quả tim/ tiêm thuốc),..
* iu/iêu: chìu/ chiều ( chìu chuộng/ buổi chiều),...
* iêu/yêu: yêu thương/ iêu thương
* ưi/ ươi: số mười/ số mừi
* ưu/iêu/ ươu: con hươu/ con hiêu/ con hưu
* uôn/uông: chuồn/ chuồng ( chuồn chuồn/ cái
chuồng)
* ươn/ương: vươn lên / vương vãi
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
- Lỗi viết sai chữ hoa
Lỗi này các em thường gặp ở các dạng sau :
* Không viết hoa chữ đầu câu:
-Ví dụ: (Nghe – viết): Ngày hôm qua đâu rồi? ( Sách
TV 2 tập 1 trang 13) – Viết 2 khổ thơ cuối
-Ngày hôm qua ở lại
Trong hạt lúa mẹ trồng
Cánh đồng chờ gặt hái
Chín vàng màu ước mong.
-Ngày hôm qua ở lại
Trong vở hồng của
con
Con học hành chăm
chỉ
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
- Hầu như các em quên không viết hoa các chữ đầu câu
hoặc có viết hoa nhưng có chữ không viết hoa.
* Không viết hoa danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh:
+ Ví dụ: Dạy (Nghe - viết): Một giờ học (SáchTV tập1
trang 28) - Viết đoạn tóm tắt:
“ Đúng là nói trước cả lớp thì chẳng dễ chút nào. Lúc
đầu, Quang còn ngượng nghịu. Nhưng nhờ thầy giáo và
các bạn động viên, Quang đã tự tin hơn và nói một cách
lưu loát.”
- Khi các em viết thì không viết hoa tên riêng ( quang)
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
- Viết hoa tùy ý
+ Ví dụ: Nghe – viết: Tớ nhớ cậu ( Sách TV tập 1 trang
83) – Viết đoạn tóm tắt:
“Kiến là bạn thân của sóc. Hằng ngày, hai bạn rủ
nhau đi học. Một ngày nọ, nhà kiến chuyển sang rừng
khác. Sóc và kiến rất buồn. Hai bạn tìm cách gửi thư cho
nhau để bày tỏ nỗi nhớ.”
- Khi viết các em thường nhầm viết hoa chữ “Kiến”,“Sóc”
- Ngoài ra ở một số bài viết, các em còn mắc các lỗi về
phần Trình bày, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét giữa chữ
m và n hay u, i, không ghi dấu thanh …
Với thực trạng trên đây đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải
nghiên cứu và tìm ra nhiều biện pháp giúp đỡ các em khắc
phục lỗi chính tả.
Người báo cáo: Hồ Thị B ích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 1: Dạy chính tả kết hợp với giải nghĩa từ:
-Do ngôn ngữ của từng vùng miền khác nhau, nên cách
phát âm đôi lúc chưa thống nhất với chữ viết nên học
sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng
-Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe – viết): Em học vẽ ( sách
TV 2 tập 1 trang 58)
Hôm nay trong lớp học
Với giấy trắng, bút màu
Nắn nót em ngồi vẽ
Lung linh bầu trời sao.
-Vẽ ông trăng trên cao
Rải ánh vàng đầy ngõ
Vẽ cánh diều no gió
Vi vu giữa trời xanh.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
GV đọc câu: Nắn nót em ngồi vẽ
Nhưng HS lại viết: Nắng nót em ngồi vẽ
Do đó cần giúp cho HS hiểu “ nắn” là nắn nót từng nét
chữ cho đều và đẹp. Còn “ nắng” là tia nắng hay ánh nắng
mặt trời. Vì vậy phải viết là “ Nắn nót”
Hoặc chữ “vẽ ”- HS sẽ viết nhầm là “vẻ”. Nên GV cần giúp
các em hiểu nghĩa của “ vẽ ” là chỉ hoạt động, thao tác.
Còn “ vẻ” là chỉ biểu cảm hay đặc điểm.
Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc,
Luyện từ và câu, Tập làm văn hơn, nhưng trong tiết chính tả
khi mà học sinh khó phân biệt vào lúc phát âm hay phân
tích cấu tạo tiếng. Thì GV cần đến việc giải nghĩa từ.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
tả:
Biện pháp 2: Giúp học sinh ghi nhớ luật chính
- Ở lớp Một, các em đã được làm quen với luật chính tả
đơn giản như : k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê và âm
g, ng, c kết hợp với : a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư. Trong quá trình
ghép âm với vần tạo tiếng. Lên lớp 2 các em được khắc
sâu lại qua các bài tập chính tả.
- ví dụ: Bài tập 2 trang 60 ( sách TV 2 tập 1)
Chọn ng hay ngh thay cho ô vuông
a. Trăm e không bằng một thấy
b. Có công mài sắt, có ày nên kim.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 3:Dạy chính tả kết hợp với phân tích so sánh:
- Khi luyện phát âm cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn
các em phân tích so sánh tiếng, từ khó, qua việc áp dụng
biện pháp phân tích cấu tạo tiếng để so sánh các tiếng, từ
mà các em dễ nhầm lẫn như đã nêu trên :
+ Ví dụ: Dạy bài chính tả ( nghe- viết): Làm việc thật là
vui ( TV2 tập 1 trang 21)
Quanh ta, mọi vật, mọi người đều làm việc.
Cái đồng hồ báo phút, báo giờ. Con gà trống gáy
vang báo trời sắp sáng. Con tu hú gọi mùa vải chín. Cành
đào nở hoa cho sắc xuân thêm rực rỡ, ngày xuân thêm
tưng bừng.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
-Trước khi học sinh viết bài giáo viên hướng dẫn học
sinh phân tích một số tiếng dễ nhầm lẫn như:
việc ≠ việt: làm việc ≠ Việt Nam
phút ≠ phúc : Giúp HS hiểu “phút” là đơn vị của thời
gian. Còn “phúc” nói về hạnh phúc hay phúc đức.Nếu HS
không hiểu GV có thể đặt câu để HS hiểu hơn
Ví dụ: Mẹ tôi đi chợ hơn 50 phút. / Mẹ tôi là người hạnh
phúc nhất.
trống ≠chống: tiếng trống ≠ chống bão
sắc ≠ sắt: sắc đẹp ( đặc điểm) ≠ thanh sắt ( đồ vật)
Giáo viên cần nhấn mạnh những điểm khác biệt hay
nhầm lẫn để học sinh ghi nhớ.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 4: Dạy chính tả gắn với việc luyện phát âm
- Hướng dẫn học sinh luyện phát âm đúng, phân tích để
phân biệt âm đầu, vần và thanh. Giáo viên cần phát âm
chuẩn.
- Đối với học sinh hạn chế dùng từ địa phương như vậy
hạn chế cho việc các em có thói quen phát âm sai dẫn đến
viết sai chính tả.
+ Ví dụ: đi về / đi dìa - tôi / tui- ti vi/ tu vi- quyển vở/
quyển dở, thôi/ thoi,…
- Khi dạy giáo viên cần đọc chậm, rõ ràng chữ để học
sinh viết đúng
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 5: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các
bài tập phân biệt:
-Theo CTGDPT 2018. Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc
sống. Các dạng bài tập chính tả lớp Hai trong HKI đến
HKII thường xoay quanh dạng bài tập điền âm hay vần
hay tiếng thay cho ô vuông; Bài tập tìm tiếng, từ (thông
qua tranh ảnh); Bài tập lựa chọn. Bài tập phân biệt thanh
hỏi và thanh ngã
- Bài tập điền vào ô vuông
+Ví dụ: Bài tập 3 a. trang 52 TV 2 tập 1
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
a. Chọn s hoặc x thay cho ô vuông rồi giải câu đố
- Giữa đám lá mượt
anh
Treo từng chùm chuông nhỏ
Trắng anh và hồng đỏ
Bừng áng cả vườn quê.
( là quả gì ?)
Ví dụ: Bài tập 2 trang 51 TV2 tập 2
Chọn ươc hoặc ươt thay cho ô vuông
-Hoa thược d
nở rực rỡ trong vườn
- Những hàng liễu rũ th
tha bên hồ.
- N ngập mênh mông.
.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
- Hoặc phân biệt theo nghĩa từ ( BT lựa chọn)
+Ví dụ bài tập 3b trang 68 TV2 tập 1
-b. Chọn tiếng trong ngoặc đơn thay cho ô vuông.
- ( gắn/ gắng):
bó, cố
,
sức
- (nắn/ nắng): ánh
, uốn
,
nót
- (vần/ vầng):
thơ,
trăng,
trán
- (vân/ vâng):
gỗ,
lời,
tay.
*Bài tập tìm từ : có hai dạng
1) Tìm từ thông qua tranh ảnh
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
+Ví dụ: Bài tập 2 trang 52 TV2 tập 1
Dựa vào tranh, viết từ ngữ có tiếng bắt đầu bằng g hoặc gh
2) Tìm từ có tiếng chứa vần
+ Ví dụ: Bài tập 3b trang 89 TV2 tập 2
Tìm từ ngữ có tiếng chứa ên hoặc ênh
M:
ên: bến tàu
ênh: mênh mông
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
* Bài tập phân biệt dấu thanh
+ Ví dụ: Bài tập 3b. trang 65 TV2 tập 2
Chọn dấu hỏi hoặc dấu ngã cho chữ in đậm
+ Nhát như tho.
- Khoe như trâu.
- Dư như
hổ.
- Ngoài ra giáo viên cần đưa ra những trường hợp viết sai
(bỏ dấu, hoặc nhầm dấu huyền với dấu sắc) để hướng dẫn
học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó hướng học sinh đi đến
cái đúng.
- Sau mỗi bài tập chính tả giáo viên cần luyện học sinh phát
âm lại từ khó, phân tích so sánh tiếng, từ khó, giải nghĩa từ,
ghi nhớ mẹo luật chính tả.Từ mỗi bài tập, giáo viên giúp các
em rút ra các qui tắc chính tả để các em ghi nhớ
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
III. Các biện pháp áp dụng:
Biện pháp 6: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các
môn học khác:
-Trong các môn học khác GV cũng cần theo dõi giúp cho
các em viết đúng chính tả như: Tập làm văn, Luyện từ và
câu, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Toán,… thông qua
việc ghi bài vào vở, học sinh thường ghi đề sai, giáo viên
thường xuyên theo dõi vở học hằng ngày để phát hiện lỗi
sai và sửa chữa kịp thời.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
+ Môn Âm nhạc: Học hát: Con chim chích chòe
Có học sinh lại viết: Học hát: Con chim chích chèo
+ Môn Toán : Khi giải bài toán có lời văn, học sinh thường
viết sai khi ghi câu lời giải. Ví dụ: Số hành khách trên
thuyền có tất cả là:
Có em lại viết: số hành khách chên thuyền có tất cả là:
Hoặc câu: Số quyển vở có là:
Có em lại viết: Số quiển vở có là:
- Giáo viên cần sửa chữa kịp thời để các em không mắc
lại lần nữa
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
+ Đạo đức: Bài 1: Vẻ đẹp quê hương
Có học sinh lại viết: Vẽ đẹp quê hương
+ Tự nhiên và xã hội: Bài 3: Phòng tránh ngộ độc khi ở nhà
Có học sinh viết: Phòng chánh ngộ độc khi ở nhà/ Phòng
tránh ngộ đọc khi ở nhà
+ Môn Luyện từ và câu hay Tập làm văn: Khi học sinh đặt
câu. GV thường xuyên kiểm tra và sửa sai kịp thời để các
em ghi nhớ.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
IV. Kết quả đạt được:
+ Trong quá trình giảng dạy lớp Hai cho đến nay, tôi đã
áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy học sinh có tiến bộ
rõ rệt. Học sinh hứng thú hơn trong giờ học chính tả. Tỉ lệ
học sinh viết sai chính tả giảm đáng kể.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
IV. Kết quả đạt được:
Kết quả tổng hợp số lỗi của phân môn chính tả cụ thể qua
từng đợt kiểm tra năm học 2021-2022 như sau:
Tổng hợp số lỗi chính tả
Thời
điểm
Từ 0-1
Từ 2-3
Từ 4-5
Trên 5
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
%
Khảo sát
Đầu năm
35
5
14,3%
10
28,6%
12
34,3%
8
22,8%
GKI
35
9
25,7%
12
34,3%
9
25,7%
5
14,3%
CKI
35
12
34,3%
14
40,0% 5
14,3%
4
11,4%
GKII
35
14
40,0% 15
42,8%
8,6%
3
8,6%
3
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
“Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”
IV. Kết luận:
Tôi cũng đã áp dụng một số biện pháp này vào các
giờ học chính tả trong nhiều năm giảng dạy lớp Hai và
nhận thấy chất lượng học phân môn Chính tả đạt kết quả
cao dần theo từng kì của mỗi năm.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám khảo đã tạo mọi
điều kiện để bản thân tham dự Hội thi. Bản thân tôi xin
lắng nghe, học tập những đóng góp, ý kiến từ Ban giám
khảo.
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
UBND thị xã Ninh Hòa
Trường Tiểu học số 1 Ninh Hiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Xin chân thành cảm ơn
Người báo cáo: Hồ Thị Bích Hoan
Năm học: 2022- 2023
 







Các ý kiến mới nhất