Bài 12. Ánh trăng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Quốc Việt
Ngày gửi: 19h:41' 24-11-2022
Dung lượng: 7.6 MB
Số lượt tải: 63
Nguồn:
Người gửi: Phạm Quốc Việt
Ngày gửi: 19h:41' 24-11-2022
Dung lượng: 7.6 MB
Số lượt tải: 63
Số lượt thích:
0 người
Bếp lửa
- Bằng Việt-
I. Tìm hiểu
chung
1. Tác giả
- Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt
Bằng, sinh năm 1941 ở Hà Tây ( nay là HN)
- Nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến
chống Mỹ
- Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, khai
thác những kỉ niệm và ước mơ của tuổi trẻ.
Tác phẩm chính
1986
1973
1968
1983
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh ra đời: Viết năm
1963, khi tác giả đang là sinh viên
ngành luật ở Liên Xô.
“Tôi viết bài thơ “Bếp lửa” năm
1963, lúc đang học năm thứ 2 đại học
Tổng hợp Quốc Gia Kiew (Ukraina).
Mùa đông nước Nga rất lạnh, phải đốt lò
để sưởi. Ngồi sưởi lửa, tôi bỗng nhớ đến
“bếp lửa” quê nhà, nhớ bà tôi, nhớ
người nhóm bếp. Xa bà, xa gia đình khi
đã trưởng thành tức là có độ lùi xa để
nhớ và suy ngẫm những giá trị tinh thần
nên bài thơ viết rất nhanh. Viết “Bếp
lửa” tôi chỉ muốn giãi bày tâm trạng thật
của lòng mình.”
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh ra đời: Viết năm
1963, khi tác giả đang là sinh viên
ngành luật ở Liên Xô.
- Xuất xứ: In trong tập “Hương
cây – Bếp lửa” – tập thơ đầu tay in
chung với Lưu Quang Vũ.
Thể thơ: Tám chữ
Thể loại: Tự sự + Miêu tả + Biểu cảm .
Phần 1- Khổ đầu: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc
- Bố cục: 4 phần
Phần 2 – các khổ 2,3,4,5 : tuổi thơ bên bà
Phần 3 – Khổ 6 : Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà
Phần cuối – Khổ cuối: Nỗi nhớ của người
cháu khi đi xa nhớ về bà
II. Đọc hiểu
văn bản
1. Hình ảnh bếp lửa khơi gợi dòng hồi tưởng
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”
- Điệp ngữ “Một bếp lửa”
- Từ láy tượng hình “chờn vờn”; “ấp iu”
- Ẩn dụ “nắng mưa”
Hình ảnh bếp lửa
(gần gũi, quen thuộc)
đã khơi nguồn nhớ
thương của cháu đối
với bà
2. Những kỉ niệm tuổi thơ bên bà
Năm lên bốn tuổi
Năm giặc đến đốt làng
a/ Lúc lên bốn tuổi
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại bây giờ sống mũi vẫn còn cay.”
a/ Lúc lên bốn tuổi
Đói mòn đói mỏi,
khô rạc ngựa gầy
(thành ngữ, từ ngữ
gợi hình gợi cảm)
Gian khó,
thiếu thốn,
nhọc nhằn
Khói hun
mắt cháu
Gợi kỉ niệm
ngậm ngùi,
khó quên
nhèm
Giọng
thơ trĩu
nặng,
gợi kỉ
niệm
khó
quên
b/ Kỉ niệm tám năm
sống bên bà:
“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà thường hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa.
- Tiếng chim tu hú
hay kể chuyên
- Bà
bảo cháu nghe
dạy cháu làm
chăm cháu học
Hình ảnh sáng tạo
làm cho nỗi nhớ
trở nên da diết
Tình bà cháu
quấn quýt,
tấm lòng đôn
hậu, tình
thương bao la
của bà
Nỗi nhớ
nhà, nhớ
quê hương,
thương bà
một mình
lận đận
Thị giác
Cảm giác
Bếp lửa
Xúc giác
Khứu giác
Hình ảnh bếp
lửa và bà đã
hằn sâu trong
tâm trí của
người cháu
Văng vẳng
Tiếng tu hú
Khắc khoải
Gần gũi
Dồn dập
Tiếng tu hú thể
hiện tâm trạng
của cháu mỗi
lúc một mạnh
mẽ, tha thiết
3. Tổng kết – ý nghĩa văn bản
Gợi lại những kỷ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu
trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình quê hương đất nước.
Phần trình bày của nhím
em đến đây là hết. Cảm ơn
cô và các bạn đã xem
- Bằng Việt-
I. Tìm hiểu
chung
1. Tác giả
- Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt
Bằng, sinh năm 1941 ở Hà Tây ( nay là HN)
- Nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến
chống Mỹ
- Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, khai
thác những kỉ niệm và ước mơ của tuổi trẻ.
Tác phẩm chính
1986
1973
1968
1983
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh ra đời: Viết năm
1963, khi tác giả đang là sinh viên
ngành luật ở Liên Xô.
“Tôi viết bài thơ “Bếp lửa” năm
1963, lúc đang học năm thứ 2 đại học
Tổng hợp Quốc Gia Kiew (Ukraina).
Mùa đông nước Nga rất lạnh, phải đốt lò
để sưởi. Ngồi sưởi lửa, tôi bỗng nhớ đến
“bếp lửa” quê nhà, nhớ bà tôi, nhớ
người nhóm bếp. Xa bà, xa gia đình khi
đã trưởng thành tức là có độ lùi xa để
nhớ và suy ngẫm những giá trị tinh thần
nên bài thơ viết rất nhanh. Viết “Bếp
lửa” tôi chỉ muốn giãi bày tâm trạng thật
của lòng mình.”
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh ra đời: Viết năm
1963, khi tác giả đang là sinh viên
ngành luật ở Liên Xô.
- Xuất xứ: In trong tập “Hương
cây – Bếp lửa” – tập thơ đầu tay in
chung với Lưu Quang Vũ.
Thể thơ: Tám chữ
Thể loại: Tự sự + Miêu tả + Biểu cảm .
Phần 1- Khổ đầu: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc
- Bố cục: 4 phần
Phần 2 – các khổ 2,3,4,5 : tuổi thơ bên bà
Phần 3 – Khổ 6 : Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà
Phần cuối – Khổ cuối: Nỗi nhớ của người
cháu khi đi xa nhớ về bà
II. Đọc hiểu
văn bản
1. Hình ảnh bếp lửa khơi gợi dòng hồi tưởng
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”
- Điệp ngữ “Một bếp lửa”
- Từ láy tượng hình “chờn vờn”; “ấp iu”
- Ẩn dụ “nắng mưa”
Hình ảnh bếp lửa
(gần gũi, quen thuộc)
đã khơi nguồn nhớ
thương của cháu đối
với bà
2. Những kỉ niệm tuổi thơ bên bà
Năm lên bốn tuổi
Năm giặc đến đốt làng
a/ Lúc lên bốn tuổi
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại bây giờ sống mũi vẫn còn cay.”
a/ Lúc lên bốn tuổi
Đói mòn đói mỏi,
khô rạc ngựa gầy
(thành ngữ, từ ngữ
gợi hình gợi cảm)
Gian khó,
thiếu thốn,
nhọc nhằn
Khói hun
mắt cháu
Gợi kỉ niệm
ngậm ngùi,
khó quên
nhèm
Giọng
thơ trĩu
nặng,
gợi kỉ
niệm
khó
quên
b/ Kỉ niệm tám năm
sống bên bà:
“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà thường hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa.
- Tiếng chim tu hú
hay kể chuyên
- Bà
bảo cháu nghe
dạy cháu làm
chăm cháu học
Hình ảnh sáng tạo
làm cho nỗi nhớ
trở nên da diết
Tình bà cháu
quấn quýt,
tấm lòng đôn
hậu, tình
thương bao la
của bà
Nỗi nhớ
nhà, nhớ
quê hương,
thương bà
một mình
lận đận
Thị giác
Cảm giác
Bếp lửa
Xúc giác
Khứu giác
Hình ảnh bếp
lửa và bà đã
hằn sâu trong
tâm trí của
người cháu
Văng vẳng
Tiếng tu hú
Khắc khoải
Gần gũi
Dồn dập
Tiếng tu hú thể
hiện tâm trạng
của cháu mỗi
lúc một mạnh
mẽ, tha thiết
3. Tổng kết – ý nghĩa văn bản
Gợi lại những kỷ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu
trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình quê hương đất nước.
Phần trình bày của nhím
em đến đây là hết. Cảm ơn
cô và các bạn đã xem
 







Các ý kiến mới nhất