Tìm kiếm Bài giảng
Bài 13. Làng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Lan
Ngày gửi: 10h:46' 19-12-2022
Dung lượng: 49.4 MB
Số lượt tải: 333
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Lan
Ngày gửi: 10h:46' 19-12-2022
Dung lượng: 49.4 MB
Số lượt tải: 333
Số lượt thích:
1 người
(Thùy Anh)
Làng
Kim Lân
I,Tìm hiểu chung
1/ Tác giả
Tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài (1920-2007)
Quê quán: Từ Sơn, Bắc Ninh
Học vấn: học hết bậc tiểu học rồi đi làm thuê
kiếm sống
Quá trình hoạt động: Năm 1944 ông tham gia
Hội Văn hóa cứu quốc: hoạt động văn nghệ,
phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến
Kim Lân (1920 2007)
Sự nghiệp sáng tác
Kim Lân là mẫu nhà văn: ''Qúy hồ tinh, bất quý hồ
đa''
Hồ Quang Lợi-Trưởng Ban Tuyên giáo
Thành ủy Hà Nội nhận định: “Gia tài sáng
tác của nhà văn Kim Lân không thật nhiều
về số lượng nhưng là tinh hoa quý báu.
Hầu hết các tác phẩm của ông đều trụ lại
với
thời
gian."
Vị trí: Là tác giả tiêu biểu của nền văn xuôi Việt
Nam hiện đại. Là cây bút chuyên viết truyện ngắn
Tác phẩm tiêu biểu: ''Nên vợ nên chồng'' (1955);
Kim Lân (1920 -2007)
“Con chó xấu xí” (1962); ''Hiệp sĩ gỗ” (1988)
Phong cách nghệ thuật
Nguyên Hồng đã từng nhận xét:
''Kim Lân là nhà văn một lòng đi về
với đất, với người, với thuần hậu
nguyên thủy của cuộc sống nông
thôn''
Hữu Thỉnh đã nhận xét về Kim Lân:
"Văn Kim Lân luôn mang đậm hồn
quê, sự kế tục ngôn ngữ, phong tục
của người Việt…''
Phong cách nghệ thuật
Kim Lân (1920 2007)
Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Kim
Lân: Là khung cảnh làng quê và hình tượng người
nông dân
Kim Lân có những trang viết đặc sắc về phong
tục và đời sống làng quê những thú chơi và sinh
hoạt văn hóa cổ truyền của người dân đồng
bằng bắc bộ còn được gọi là ''Thú đồng quê''
hay ''Phong lưu đồng ruộng'' như: chơi non bộ,
thả chim, đánh vật, chọi gà…
Nhân vật trong sáng tác của Kim Lân đa phần là
người nghèo khổ, lam lũ, vất vả, nhưng vẫn sáng
lên những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt
Nam: luôn yêu đời, chất phác, lạc quan, hóm hỉnh
và tài hoa.
Tóm tắt tác phẩm
Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống
Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng
nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng. Khi nghe tin đồn
làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu
hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn
về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi
có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là
làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra
ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi
nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin
cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà
cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị
Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu
và tự hào về cái làng của mình.
Ý nghĩa nhan đề:
Tác giả đã sử dụng một danh từ
chung là “Làng” mang ý nghĩa khái
quát để đặt tên cho tác phẩm. Đó sẽ là
câu chuyện về những làng quê nước ta
trong những năm đầu kháng chiến
chống Pháp; ông Hai sẽ trở thành nhân
vật biểu tượng cho người nông dân Việt
Nam yêu làng, yêu nước. Như vậy, chủ
đề tư tưởng, ý nghĩa của truyện được
mở rộng.
Bố cục: 3 đoạn:
- Đoạn 1: Từ đầu…đến… “ruột gan ông
lão cứ múa cả lên, vui quá!”: Ông Hai
trước khi nghe tin làng Chợ Dầu
theo giặc.
- Đoạn 2: Tiếp…đến…”cũng vợi được
đi đôi phần”: Tâm trạng của ông Hai
khi nghe tin làng mình theo giặc.
- Đoạn 3: Còn lại: Tâm trạng của ông
Hai khi tin làng mình theo giặc được
cải chính.
Ngôi kể
Truyện
được kể
theo ngôi thứ ba.
Tác dụng: làm
cho câu chuyện trở
nên khách quan và
tạo cảm giác chân
thực cho người đọc
Tình huống
truyện
Khái niệm tình huống truyện
Tình huống truyện là một
hoàn cảnh có vấn đề
xuất hiện trong tác
phẩm. Trong hoàn cảnh
đó, nhân vật sẽ có hành
động bộc lộ rõ nhất, điển
hình nhất bản tính của
mình. Tính cách nhân
vật sẽ rõ, chủ đề tác
phẩm sẽ bộc lộ trọn vẹn.
Tình huống truyện trong truyện ngắn “Làng”
Đó là khi ông Hai nghe được tin làng Chợ Dầu theo giặc.
- Ý nghĩa của tình huống truyện:
+ Tạo tâm lí, diễn biến gay gắt trong nhân vật, làm bộc lộ
sâu sắc tình cảm yêu làng,yêu nước ở ông Hai.
+ Về mặt kết cấu của truyện: tình huống này phù hợp với diễn
biến của truyện, tô đậm tình yêu làng, yêu nước của người nông
dân Việt Nam mà tiêu biểu là nhân vật ông Hai.
+ Về mặt nghệ thuật : tình huống truyện đã tạo nên một cái thắt
nút cho câu chuyện, tạo điều kiện để bộc lộ mạnh mẽ tâm trạng
và phẩm chất của nhân vật, góp phần thể hiện chủ đề của tác
phẩm
Diễn biến tâm trạng ông Hai (qua 3 thời
điểm)
Ông Hai
trước khi
nghe tin
làng theo
giặc
Ông Hai
khi nghe
tin làng
theo giặc
Ông Hai
khi nghe
tin làng cải
chính
… Và cuối cùng, khi câu chuyện tin tức hàng ngày đã nhạt rồi,
thì ông xoay đến chuyện cái làng của ông. Ông nói chuyện về
cái làng ấy một cách say mê và náo nức lạ thường. Hai con
mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động. Ông
khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa
rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre,
chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông
nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh.
Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió tha hồ đi
khắp đầu làng cuối xóm, bùn không dính đến gót chân. Tháng
năm ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng,
không có lấy một hạt thóc đất. Ông Hai vẫn có tính khoe làng
như thế xưa nay.
Cứ như vậy, suốt cả buổi tối, ông lão ngồi vén
quần lên tận bẹn trên chiếc chõng tre nhà bác Thứ
mà nói liên miên hết cái đường xóm kia tốt, cái
giếng xóm kia trong với những chuyện đẩu
chuyện đâu về cái làng của ông lão, làm như bác
Thứ cũng quen biết và bận tâm đến những thứ ấy
lắm. Thực ra ông lão chỉ nói cho sướng miệng và
đỡ nhớ cái làng của ông chứ cũng chẳng chú ý gì
đến người nghe có thích nghe lắm không.
Ông nằm vật lên giường vắt tay lên trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Ông lại nghĩ
về cái làng của ông, lại nghĩ đến những ngày cùng làm với anh em. A,
sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra. Cũng hát hỏng, bông
phèng, cũng đào, cũng cuốc mê man suốt ngày. Trong lòng ông lão lại
thấy náo nức hẳn lên. Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh
em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở
đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí mật chắc là còn
khướt lắm. Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá. Bên ngoài,
ánh nắng rọi xuống mặt sân sáng lóa, có mấy tiếng gà trưa cất lên eo
óc.
Gặp ai quen ông Hai cũng níu lại cười cười:
- Nắng này là bỏ mẹ chúng nó! Có người bỡ ngỡ hỏi lại:
“Chúng nó nào?”. Thì ông lão bật cười, giơ tay trỏ về
phía tiếng súng:
- Tây ấy chứ còn chúng nó nào nữa. Ngồi trong vị trí
giờ bằng ngồi tù. Dứt lời, ông lão lại đi, làm như đang
bận nhiều công việc lắm. Cũng như mọi hôm, việc đầu
tiên là ông vào phòng thông tin nghe đọc báo.
1. Ông Hai trước khi nghe tin làng theo giặc
ông là một người nông dân mang tình yêu làng tha
thiết.
Trước cách mạng
tháng Tám
Ông tự hào, hãnh diện về
làng và kể về nó với niềm
say mê, náo nức đến lạ
thường: Ông khoe con
đường làng lát đá xanh, trời
mưa đi chẳng lấm chân;
ông khoe sinh phần của một
vị quan tổng đốc trong
làng;...
Khi kháng chiến
bùng nổ
Ông khoe về làng quê của
mình đi theo kháng chiến làm
cách mạng; ông kể một cách
rành rọt những hố, những ụ ,
những giao thông hầm hào;...
Khi đi tản cư, ông
rất nhớ ngôi làng
+ Ông thường xuyên chạy sang
nhà bác Thứ để kể lể đủ thứ
chuyện về làng.
+ Ông kể cho sướng cái miệng,
mà không cần biết người nghe
có thích hay không
+ Nhớ làng da diết – muốn về
làng, muốn tham gia kháng
chiến
+ Ông thường xuyên
theo dõi
1. Ông Hai trước khi nghe tin làng theo giặc
ông là một người nông dân mang tình yêu làng tha
thiết.
Trước cách mạng
tháng Tám
Khi kháng chiến
bùng nổ
Khi đi tản cư, ông
rất nhớ ngôi làng
- Ông Hai là người nông dân có tính tình vui vẻ, chất phác, có tấm lòng gắn bó với làng
quê và cuộc kháng chiến.
- Ông yêu thương, gắn bó với làng quê, tự hào và có trách nhiệm với cuộc kháng
chiến của làng.
Tạo ra một hoàn cảnh đặc biệt, Kim Lân đã thể hiện một cách rất tự nhiên, chân
thực tình cảm, niềm tự hào của ông Hai với làng chợ Dầu của mình
Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Khi nghe tin do những người tản cư cho
biết: cả làng chúng nó Việt gian theo
Tây thì thái độ và tâm trạng ông Hai
ntn?
Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng
như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì
vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:
- Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại…
- Thì chúng tôi vừa ở dưới ấy lên đây mà lại. Việt gian từ thằng chủ tịch
mà đi cơ ông ạ. Tây vào làng chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hoan hô.
Thằng chánh Bệu thì khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, vải vóc lên xe cam
nhông, đưa vợ con lên vị trí với giặc ở ngoài tỉnh mà lại. Có người hỏi:
- Sao bảo làng chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà?…
- Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy!
Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng cười nhạt một tiếng,
vươn vai nói to:
- Hà, nắng gớm, về nào…
Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. […]
Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà.
2.Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Khi nghe tin xấu ông Hai sững sờ, xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão
nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như
không thở được”.
Lúc mới nghe tin
=>Từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tin ông Hai rơi xuống vực
thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ. Khi trấn
tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những
người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên”
làm ông không thể không tin. Niềm tự hào về làng thế là sụp đổ, tan
tành trước cái tin sét đánh ấy
+ Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó
thành một nỗi ám ảnh day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian,
ông“cúi gằm mặt mà đi”.
2.Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Về nhà nằm vật ra giường như bị
cảm, nhìn lũ con chơi với nhau tâm
trạng của ông Hai diễn biến ntn?
Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ
khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi
thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra… Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian
đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy
tuổi đầu… ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt
gian bán nước để nhục nhã thế này!
Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là
những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm
một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều
nhục nhã ấy!… Nhưng sao lại nẩy ra cái tin như vậy được? Mà
thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng không sai rồi.
Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra
những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt
gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa.
Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này
người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán
nước…
- Này thầy nó ạ.
Ông Hai nằm rũ ra trên giường không nói gì.
- Thầy nó ngủ rồi à?
- Gì? Ông lão khẽ nhúc nhích:
- Tôi thấy người ta đồn…
Ông lão gắt lên:
- Biết rồi!
Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi, hiu hắt. ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn
dầu lạc vờn trên nét mặt lo âu của bà lão. Tiếng thở của ba đứa trẻ chụm đầu
vào nhau ngủ nhẹ nhàng nổi lên, nghe như tiếng thở của gian nhà.
- Thế nhưng người ta đồn trên này người ta không chứa những người chợ
Dầu nữa thầy nó ạ.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Về đến nhà
+ Ông nằm vật ra giường, rồi tủi thân nhìn lũ con “nước mắt
ông lão cứ giàn ra”. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi
nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ
mang nỗi nhục ấy
+ Ông chửi thầm chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà
đi làm cái giống Việt gian bán nước …
Þ tâm trạng căm phẫn , uất ức , tủi nhục
+ Niềm tin bị phản bội, những mối nghi ngờ bùng lên và giằng xé
trong ông: " ông kiểm điểm từng người trong óc".
=> Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ trong tâm hồn
người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như
chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các
con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy.
II
TÌM HIỂU VĂN BẢN
2 Diễn biến tâm trạng ông Hai (qua 3 thời
điểm)
b. Ông
Hai khi nghe tin làng theo giặc
Những ngày sau nghe tin làng theo
Tây ông Hai có tâm trạng gì?
Đã ba bốn hôm nay, ông Hai không bước chân ra đến ngoài, cả
đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Suốt ngày ông chỉ
quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng.
Nghe ngóng xem binh tình bên ngoài ra sao? Một đám đông
xúm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa ông cũng
chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang
để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”.
Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam nhông… là
ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi! Nhưng
còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê hơn cả những tiếng
kia nhiều. Ấy là mụ chủ nhà.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Mấy ngày sau
Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông
quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên
ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý,
dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ.
+Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam –
nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại
chuyện ấy rồi!”
Tâm trạng nơm nớp lo sợ, ám ảnh, dằn vặt .
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Qua câu chuyện với mụ chủ nhà,
vợ chồng ông Hai đã bị đẩy tới tình
cảnh nào?
- Trên này họ đồn giăng giăng ra rằng thì là làng dưới nhà ta đi Việt gian theo
Tây đấy, ông bà đã biết chưa nhỉ?… Nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những
người làng chợ Dầu khỏi vùng này không cho ở nữa.
Bà Hai cúi mặt xuống rân rấn nước mắt, bà nói:
- Vâng… thôi thì dân làng đã chả cho ở nữa, chúng tôi cũng đành phải đi nơi
khác chứ biết làm thế nào. Nhưng xin ông bà trên ấy nghĩ lại thư thư cho vợ
chồng chúng tôi vài ba hôm nữa. Bây giờ bảo đi, vợ chồng chúng tôi cũng
không biết là đi đâu…
Mụ chủ đi rồi, bà Hai và con bé lớn nước mắt ròng ròng, lẳng lặng gánh hàng
ra quán. Vợ chồng cũng chẳng dám nói với nhau câu gì. Ông Hai ngồi lặng trên
một góc giường, bao nhiêu ý nghĩ đen tối, ghê rợn, nối tiếp bời bời trong đầu
óc ông lão. Biết đem nhau đi đâu bây giờ? Biết đâu người ta chứa bố con ông
mà đi bây giờ?… Thật là tuyệt đường sinh sống!
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Ông rơi vào tình
trạng bế tắc, tuyệt
vọng
+ Ông lo cho số phận của những đứa con rồi sẽ bị khinh
bỉ, hắt hủi vì là trẻ con làng Việt gian: "Chúng nó cũng
là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị
người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy
tuổi đầu".
+ Ông lo cho bao nhiêu người tản cư làng ông sẽ bị
khinh, tẩy chay, thù hằn, ghê tởm: " Chao ôi! Cực nhục
chưa, cả làng Việt gian!... Suốt cái nước Việt Nam này
người ta ghê tởm, người ta thù hận cái giống Việt gian
bán nước…"
+ Ông lo cho tương lai của gia đình rồi sẽ đi đâu, về
đâu, làm ăn sinh sống ra sao: "Rồi đi biết làm ăn, buôn
bán làm sao? Ai người ta chứa".
2.Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Trong bản thân ông Hai đã có sự
đấu tranh ntn? Sự đấu tranh đó thể
hiện điều gì ở ông Hai? (xung đột
nội tâm)
Hay là quay về làng ?… Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản
đối ngay. Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng
tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ… Nước mắt ông giàn ra, về làng tức là
chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây. Ông lão nghĩ đến mấy thằng kỳ lý
chuyên môn khua khoét như thế lại ra vào hống hách ở trong cái đình. Và
cái đình lại như của riêng chúng nó, lại thâm nghiêm ghê gớm, chứa toàn
những sự ức hiếp, đè nén. Ngày ngày chúng đóng ra, dong vào, đánh tổ
tôm mà bàn tư việc làng với nhau ở trong ấy. Những hạng khố rách áo ôm
như ông có đi qua cũng chỉ dám liếc trộm vào, rồi cắm đầu xuống mà lủi
đi. Anh nào ho he, hóc hách một tí thì chúng nó tìm hết cách để hại, cất
phần ruộng, truất ngôi, trừ ngoại, tống ra khỏi làng…
Ông Hai nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời đen tối, lầm than cũ nổi lên trong
ý nghĩ ông. Ông không thể về cái làng ấy được nữa. Về bây giờ ra ông
chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây
mất rồi thì phải thù.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Khi bị dồn vào tình
huống không được
ở nơi tản cư
+ Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ
tới tương lai. Ông không biết đi đâu, về làng thi không
được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây, phản
bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã
đánh tiếng xua đuổi.
+ Khi buộc phải lựa chọn Quê hương và Tổ quốc, cuối
cùng, ông đã quyết định: “Làng thì yêu thật, nhưng làng
theo Tây mất rồi thì phải thù”.
=>Như vậy, tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt
đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất
nước. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con
người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm
riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng
đồng.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
- Vì sao ông Hai lại trò chuyện như thế với
đứa con nhỏ?
- Qua những lời trò chuyện ấy, em cảm
nhận được điều gì về tấm lòng của ông Hai
đối với làng quê, đất nước, với cuộc kháng
chiến?
Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng chợ Dầu.
- Thế con có thích về làng chợ Dầu không? Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả
lời khe khẽ:
- Có. Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu lại hỏi:
- À thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai? Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và
rành rọt:
- Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm! Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng
ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:
- Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ. Mấy hôm nay ru rú ở xó nhà, những lúc
buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lão lại thủ thỉ với con như vậy. Ông
nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa. Anh em
đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có
bao giờ dám đơn sai. Mỗi lần nói ra được vài câu như vậy nỗi khổ trong lòng
ông cũng vơi đi được vài phần.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Trong cuộc
trò chuyện
với con
+ Ông trút hết nỗi lòng vào những lời thủ thỉ,
tâm sự với đứa con ngây thơ, bé bỏng.
+ Tình yêu sâu nặng với làng, nên ông muốn lý
trí và trái tim bé bỏng của con phải khắc sâu,
ghi nhớ câu: " Nhà ta ở làng chợ Dầu" - nơi
chôn rau cắt rốn của bố con ông.
+ Ông nhắc cho con về tấm lòng thủy chung với
kháng chiến, với cụ Hồ của bố con ông: " Anh
em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên
đầu, trên cổ soi xét cho bố con ông".
+ Ông khẳng định tình cảm sâu nặng , bền vững
và rất thiêng liêng ấy : " Cái lòng của bố con
ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai.
Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai".
Dường như ông Hai đang nói
chuyện với chính mình, đang giãi
bày với lòng mình và cũng như đang
tự nhắc nhở: hãy luôn “Ủng hộ Cụ
Hồ Chí Minh”. Tình quê và lòng yêu
nước thật sâu nặng và thiêng liêng.
Qua diễn biến tâm trạng của
ông Hai, Kim Lân đã khám phá và
làm nổi bật những nét đẹp trong
tâm hồn người nông dân cách
mạng: hài hòa giữa lòng yêu làng
và tình yêu nước, nhiệt tình cách
mạng.
* Khi nghe tin làng theo Tây:
- Tin đột ngột, bất ngờ làm ông sững sờ, bàng hoàng. Cảm
thấy xấu hổ, uất ức, cảm xúc bị xúc phạm, đau đớn, tê tái.
- Trong lòng luôn biểu hiện tư tưởng nhục nhã, ngờ vực, bế
tắc vào cuộc sống phía trước. Nỗi ám ảnh biến thành sợ hãi
thường xuyên cùng với nỗi đau xót, tủi hổ.
3. Ông Hai khi nghe tin làng cải chính
Tâm trạng của nhân vật ông Hai đã có
sự thay đổi ra sao khi nghe tin cải
chính làng chợ Dầu không phải theo
Tây?
Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy… Vừa đến ngõ ông
lão đã lên tiếng:
- Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia quà cho nào. Lũ trẻ ở trong nhà ùa ra, ông
lão vội rút cái gói bọc lá chuối khô cho con bé lớn:
- Bánh rán đường đây, chia cho em mỗi đứa một cái. Dứt lời ông lão lại lật
đật đi thẳng sang bên gian bác Thứ. Chưa đến bực cửa, ông lão đã bô bô:
- Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì đấy! Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt
nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính, ông ấy cho biết…
Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi là Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết!
Toàn là sai sự mục đích cả.
Bác Thứ chưa nghe thủng câu chuyện ra sao, ông lão đã lại lật đật bỏ lên nhà
trên.
- Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên
cải chính… Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng em Việt gian ấy mà. Láo!
Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục đích cả!
3. Ông Hai khi nghe tin làng cải chính
Đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn ấy thì cái tin làng Chợ Dầu phản bội
đã được cải chính.
Ông“bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”. Nội
dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình
bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất dễ hiểu: Sự mất mát về vật
chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn
Kim Lân đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật.
Từ một người nông dân yêu làng, ông Hai trở thành người công dân nặng lòng với
kháng chiến. Tình yêu làng, yêu nước đã hòa làm một trong ý nghĩ, tình cảm, việc
làm của ông Hai. Tình cảm ấy thống nhất,hòa quyện như tình yêu nước được đặt
cao hơn, lớn rộng lên tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống mang tinh thần thời
đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì kháng chiến
chống Pháp.
* Khi tin xấu được cải chính:
- Vui sướng hả hê đến cực điểm. Để minh chứng cho tấm
lòng trong sạch ông Hai khoe cả cái nhà của ông bị Tây đốt.
- Ông coi trọng danh dự, yêu làng yêu nước hơn tất cả.
III
TỔNG KẾT
1 Nội dung
L
àng đề cập tới tình yêu làng quê và
lòng yêu nước cùng tinh thần kháng
chiến của người nông dân phải rời làng đi
tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp
đang diễn ra được thể hiện một cách
chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân
vật ông Hai.
III
TỔNG KẾT
2 Nghệ thuật
-Tác giả sáng tạo tình huống truyện có
tính căng thẳng, thử thách.
-Xây dựng cốt truyện tâm lí (đó là chú
trọng vào các tình huống bên trong nội
tâm nhân vật).
-Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự
nhiên mà sâu sắc,tinh tế.
-Ngôn ngữ đặc sắc,sinh động, mang đậm
chất khẩu ngữ, gần với lời ăn tiếng nói
hằng ngày của người nông dân.
LÀNG ( Kim Lân )
Nghe tin làng theo Tây, tình huống đối nghịch với
tình cảm tự hào về làng chợ Dầu của ông Hai, một
làng quê có tinh thần kháng chiến. Từ đó, tạo ra tâm
lí diễn biến gay gắt trong nhân vật.
Kim Lân (1920- 2007), tên thật là Nguyễn Văn Tài,
quê ở Bắc Ninh, là nhà văn có sở trường về truyện
ngắn, am hiểu về người nông dân và nông thôn.
Tình huống độc đáo
TÁC GIẢ
Truyện ngắn “ Làng” viết trong thời kỳ đầu kháng
chiién chống Pháp và đăng trên tạp chí Văn nghệ
(1948)
NỘI DUNG
TÁC PHẨM
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật: đặt nhân vật
trong tình huống thử thách tâm lý để bộc lộ xung đột
nội tâm, diễn biến tâm trạng miêu tả qua hành động,
lời nói, suy nghĩ của nhân vật rất thật, rất tự nhiên.
Diễn biến tâm lý nhân vật ông Hai
NGHỆ THUẬT
Ngôn ngữ truyện:
Lời dẫn truyện và lời nhân vật có sự thống nhất
cao về sắc thái giọng điệu , có lúc tác giả nhập vào
nhân vật ông Hai mà kể, tả, lí giải.
Lời thoại mang đậm tính khẩu ngữ ( khẩu ngữ nông
dân ) đồng thời mang đậm cá tính nhân vật.
Trước khi nghe tin xấu về làng:
Nhớ làng da diết, thường nghe ngóng tin tức và
vui với những tin chiến thắng. Tính tình chất phác,
vui vẻ. Tấm lòng gắn bó với làng quê kháng chiến,
yêu làng, yêu cách mạng.
Ý NGHĨA VĂN BẢN
Đoạn trích thể hiện tình cảm yêu làng, tinh thần yêu nước của
người nông dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, một tâm
hồn ngay thẳng, trọng danh dự, thủy chung với kháng chiến.
Khi nghe tin làng theo Tây:
Tin đột ngột, bất ngờ làm ông sững sờ, bàng
hoàng. Cảm thấy xấu hổ, uất ức, cảm xúc bị xúc
phạm, đau đớn, tê tái.
Trong lòng luôn biểu hiện tư tưởng nhục nhã,
ngờ vực, bế tắc vào cuộc sống phía trước. Nỗi ám
ảnh biến thành sợ hãi thường xuyên cùng với nỗi
đau xót, tủi hổ.
Khi tin xấu được cải chính:
Vui sướng hả hê đến cực điểm. Để minh
chứng cho tấm lòng trong sạch ông Hai khoe cả
cái nhf ông bị đốt.
Ông coi trọng danh dự, yêu làng yêu nước
hơn tất cả.
Củng cố - Hướng dẫn học ở nhà:
- Nắm chắc nội dung và nghệ thuật của văn bản.
BTVN: Làm bài tập 1 (Phần luyện tập –T174)
- Chuẩn bị : Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong
văn bản tự sự./.
Kim Lân
I,Tìm hiểu chung
1/ Tác giả
Tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài (1920-2007)
Quê quán: Từ Sơn, Bắc Ninh
Học vấn: học hết bậc tiểu học rồi đi làm thuê
kiếm sống
Quá trình hoạt động: Năm 1944 ông tham gia
Hội Văn hóa cứu quốc: hoạt động văn nghệ,
phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến
Kim Lân (1920 2007)
Sự nghiệp sáng tác
Kim Lân là mẫu nhà văn: ''Qúy hồ tinh, bất quý hồ
đa''
Hồ Quang Lợi-Trưởng Ban Tuyên giáo
Thành ủy Hà Nội nhận định: “Gia tài sáng
tác của nhà văn Kim Lân không thật nhiều
về số lượng nhưng là tinh hoa quý báu.
Hầu hết các tác phẩm của ông đều trụ lại
với
thời
gian."
Vị trí: Là tác giả tiêu biểu của nền văn xuôi Việt
Nam hiện đại. Là cây bút chuyên viết truyện ngắn
Tác phẩm tiêu biểu: ''Nên vợ nên chồng'' (1955);
Kim Lân (1920 -2007)
“Con chó xấu xí” (1962); ''Hiệp sĩ gỗ” (1988)
Phong cách nghệ thuật
Nguyên Hồng đã từng nhận xét:
''Kim Lân là nhà văn một lòng đi về
với đất, với người, với thuần hậu
nguyên thủy của cuộc sống nông
thôn''
Hữu Thỉnh đã nhận xét về Kim Lân:
"Văn Kim Lân luôn mang đậm hồn
quê, sự kế tục ngôn ngữ, phong tục
của người Việt…''
Phong cách nghệ thuật
Kim Lân (1920 2007)
Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Kim
Lân: Là khung cảnh làng quê và hình tượng người
nông dân
Kim Lân có những trang viết đặc sắc về phong
tục và đời sống làng quê những thú chơi và sinh
hoạt văn hóa cổ truyền của người dân đồng
bằng bắc bộ còn được gọi là ''Thú đồng quê''
hay ''Phong lưu đồng ruộng'' như: chơi non bộ,
thả chim, đánh vật, chọi gà…
Nhân vật trong sáng tác của Kim Lân đa phần là
người nghèo khổ, lam lũ, vất vả, nhưng vẫn sáng
lên những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt
Nam: luôn yêu đời, chất phác, lạc quan, hóm hỉnh
và tài hoa.
Tóm tắt tác phẩm
Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống
Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng
nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng. Khi nghe tin đồn
làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu
hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn
về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi
có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là
làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra
ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi
nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin
cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà
cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị
Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu
và tự hào về cái làng của mình.
Ý nghĩa nhan đề:
Tác giả đã sử dụng một danh từ
chung là “Làng” mang ý nghĩa khái
quát để đặt tên cho tác phẩm. Đó sẽ là
câu chuyện về những làng quê nước ta
trong những năm đầu kháng chiến
chống Pháp; ông Hai sẽ trở thành nhân
vật biểu tượng cho người nông dân Việt
Nam yêu làng, yêu nước. Như vậy, chủ
đề tư tưởng, ý nghĩa của truyện được
mở rộng.
Bố cục: 3 đoạn:
- Đoạn 1: Từ đầu…đến… “ruột gan ông
lão cứ múa cả lên, vui quá!”: Ông Hai
trước khi nghe tin làng Chợ Dầu
theo giặc.
- Đoạn 2: Tiếp…đến…”cũng vợi được
đi đôi phần”: Tâm trạng của ông Hai
khi nghe tin làng mình theo giặc.
- Đoạn 3: Còn lại: Tâm trạng của ông
Hai khi tin làng mình theo giặc được
cải chính.
Ngôi kể
Truyện
được kể
theo ngôi thứ ba.
Tác dụng: làm
cho câu chuyện trở
nên khách quan và
tạo cảm giác chân
thực cho người đọc
Tình huống
truyện
Khái niệm tình huống truyện
Tình huống truyện là một
hoàn cảnh có vấn đề
xuất hiện trong tác
phẩm. Trong hoàn cảnh
đó, nhân vật sẽ có hành
động bộc lộ rõ nhất, điển
hình nhất bản tính của
mình. Tính cách nhân
vật sẽ rõ, chủ đề tác
phẩm sẽ bộc lộ trọn vẹn.
Tình huống truyện trong truyện ngắn “Làng”
Đó là khi ông Hai nghe được tin làng Chợ Dầu theo giặc.
- Ý nghĩa của tình huống truyện:
+ Tạo tâm lí, diễn biến gay gắt trong nhân vật, làm bộc lộ
sâu sắc tình cảm yêu làng,yêu nước ở ông Hai.
+ Về mặt kết cấu của truyện: tình huống này phù hợp với diễn
biến của truyện, tô đậm tình yêu làng, yêu nước của người nông
dân Việt Nam mà tiêu biểu là nhân vật ông Hai.
+ Về mặt nghệ thuật : tình huống truyện đã tạo nên một cái thắt
nút cho câu chuyện, tạo điều kiện để bộc lộ mạnh mẽ tâm trạng
và phẩm chất của nhân vật, góp phần thể hiện chủ đề của tác
phẩm
Diễn biến tâm trạng ông Hai (qua 3 thời
điểm)
Ông Hai
trước khi
nghe tin
làng theo
giặc
Ông Hai
khi nghe
tin làng
theo giặc
Ông Hai
khi nghe
tin làng cải
chính
… Và cuối cùng, khi câu chuyện tin tức hàng ngày đã nhạt rồi,
thì ông xoay đến chuyện cái làng của ông. Ông nói chuyện về
cái làng ấy một cách say mê và náo nức lạ thường. Hai con
mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động. Ông
khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa
rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre,
chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông
nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh.
Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió tha hồ đi
khắp đầu làng cuối xóm, bùn không dính đến gót chân. Tháng
năm ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng,
không có lấy một hạt thóc đất. Ông Hai vẫn có tính khoe làng
như thế xưa nay.
Cứ như vậy, suốt cả buổi tối, ông lão ngồi vén
quần lên tận bẹn trên chiếc chõng tre nhà bác Thứ
mà nói liên miên hết cái đường xóm kia tốt, cái
giếng xóm kia trong với những chuyện đẩu
chuyện đâu về cái làng của ông lão, làm như bác
Thứ cũng quen biết và bận tâm đến những thứ ấy
lắm. Thực ra ông lão chỉ nói cho sướng miệng và
đỡ nhớ cái làng của ông chứ cũng chẳng chú ý gì
đến người nghe có thích nghe lắm không.
Ông nằm vật lên giường vắt tay lên trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Ông lại nghĩ
về cái làng của ông, lại nghĩ đến những ngày cùng làm với anh em. A,
sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra. Cũng hát hỏng, bông
phèng, cũng đào, cũng cuốc mê man suốt ngày. Trong lòng ông lão lại
thấy náo nức hẳn lên. Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh
em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở
đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí mật chắc là còn
khướt lắm. Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá. Bên ngoài,
ánh nắng rọi xuống mặt sân sáng lóa, có mấy tiếng gà trưa cất lên eo
óc.
Gặp ai quen ông Hai cũng níu lại cười cười:
- Nắng này là bỏ mẹ chúng nó! Có người bỡ ngỡ hỏi lại:
“Chúng nó nào?”. Thì ông lão bật cười, giơ tay trỏ về
phía tiếng súng:
- Tây ấy chứ còn chúng nó nào nữa. Ngồi trong vị trí
giờ bằng ngồi tù. Dứt lời, ông lão lại đi, làm như đang
bận nhiều công việc lắm. Cũng như mọi hôm, việc đầu
tiên là ông vào phòng thông tin nghe đọc báo.
1. Ông Hai trước khi nghe tin làng theo giặc
ông là một người nông dân mang tình yêu làng tha
thiết.
Trước cách mạng
tháng Tám
Ông tự hào, hãnh diện về
làng và kể về nó với niềm
say mê, náo nức đến lạ
thường: Ông khoe con
đường làng lát đá xanh, trời
mưa đi chẳng lấm chân;
ông khoe sinh phần của một
vị quan tổng đốc trong
làng;...
Khi kháng chiến
bùng nổ
Ông khoe về làng quê của
mình đi theo kháng chiến làm
cách mạng; ông kể một cách
rành rọt những hố, những ụ ,
những giao thông hầm hào;...
Khi đi tản cư, ông
rất nhớ ngôi làng
+ Ông thường xuyên chạy sang
nhà bác Thứ để kể lể đủ thứ
chuyện về làng.
+ Ông kể cho sướng cái miệng,
mà không cần biết người nghe
có thích hay không
+ Nhớ làng da diết – muốn về
làng, muốn tham gia kháng
chiến
+ Ông thường xuyên
theo dõi
1. Ông Hai trước khi nghe tin làng theo giặc
ông là một người nông dân mang tình yêu làng tha
thiết.
Trước cách mạng
tháng Tám
Khi kháng chiến
bùng nổ
Khi đi tản cư, ông
rất nhớ ngôi làng
- Ông Hai là người nông dân có tính tình vui vẻ, chất phác, có tấm lòng gắn bó với làng
quê và cuộc kháng chiến.
- Ông yêu thương, gắn bó với làng quê, tự hào và có trách nhiệm với cuộc kháng
chiến của làng.
Tạo ra một hoàn cảnh đặc biệt, Kim Lân đã thể hiện một cách rất tự nhiên, chân
thực tình cảm, niềm tự hào của ông Hai với làng chợ Dầu của mình
Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Khi nghe tin do những người tản cư cho
biết: cả làng chúng nó Việt gian theo
Tây thì thái độ và tâm trạng ông Hai
ntn?
Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng
như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì
vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:
- Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại…
- Thì chúng tôi vừa ở dưới ấy lên đây mà lại. Việt gian từ thằng chủ tịch
mà đi cơ ông ạ. Tây vào làng chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hoan hô.
Thằng chánh Bệu thì khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, vải vóc lên xe cam
nhông, đưa vợ con lên vị trí với giặc ở ngoài tỉnh mà lại. Có người hỏi:
- Sao bảo làng chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà?…
- Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy!
Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng cười nhạt một tiếng,
vươn vai nói to:
- Hà, nắng gớm, về nào…
Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. […]
Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà.
2.Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Khi nghe tin xấu ông Hai sững sờ, xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão
nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như
không thở được”.
Lúc mới nghe tin
=>Từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tin ông Hai rơi xuống vực
thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ. Khi trấn
tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những
người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên”
làm ông không thể không tin. Niềm tự hào về làng thế là sụp đổ, tan
tành trước cái tin sét đánh ấy
+ Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó
thành một nỗi ám ảnh day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian,
ông“cúi gằm mặt mà đi”.
2.Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Về nhà nằm vật ra giường như bị
cảm, nhìn lũ con chơi với nhau tâm
trạng của ông Hai diễn biến ntn?
Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ
khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi
thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra… Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian
đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy
tuổi đầu… ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt
gian bán nước để nhục nhã thế này!
Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là
những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm
một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều
nhục nhã ấy!… Nhưng sao lại nẩy ra cái tin như vậy được? Mà
thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng không sai rồi.
Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra
những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt
gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa.
Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này
người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán
nước…
- Này thầy nó ạ.
Ông Hai nằm rũ ra trên giường không nói gì.
- Thầy nó ngủ rồi à?
- Gì? Ông lão khẽ nhúc nhích:
- Tôi thấy người ta đồn…
Ông lão gắt lên:
- Biết rồi!
Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi, hiu hắt. ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn
dầu lạc vờn trên nét mặt lo âu của bà lão. Tiếng thở của ba đứa trẻ chụm đầu
vào nhau ngủ nhẹ nhàng nổi lên, nghe như tiếng thở của gian nhà.
- Thế nhưng người ta đồn trên này người ta không chứa những người chợ
Dầu nữa thầy nó ạ.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Về đến nhà
+ Ông nằm vật ra giường, rồi tủi thân nhìn lũ con “nước mắt
ông lão cứ giàn ra”. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi
nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ
mang nỗi nhục ấy
+ Ông chửi thầm chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà
đi làm cái giống Việt gian bán nước …
Þ tâm trạng căm phẫn , uất ức , tủi nhục
+ Niềm tin bị phản bội, những mối nghi ngờ bùng lên và giằng xé
trong ông: " ông kiểm điểm từng người trong óc".
=> Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ trong tâm hồn
người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như
chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các
con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy.
II
TÌM HIỂU VĂN BẢN
2 Diễn biến tâm trạng ông Hai (qua 3 thời
điểm)
b. Ông
Hai khi nghe tin làng theo giặc
Những ngày sau nghe tin làng theo
Tây ông Hai có tâm trạng gì?
Đã ba bốn hôm nay, ông Hai không bước chân ra đến ngoài, cả
đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Suốt ngày ông chỉ
quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng.
Nghe ngóng xem binh tình bên ngoài ra sao? Một đám đông
xúm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa ông cũng
chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang
để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”.
Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam nhông… là
ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi! Nhưng
còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê hơn cả những tiếng
kia nhiều. Ấy là mụ chủ nhà.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Mấy ngày sau
Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông
quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên
ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý,
dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ.
+Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam –
nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại
chuyện ấy rồi!”
Tâm trạng nơm nớp lo sợ, ám ảnh, dằn vặt .
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Qua câu chuyện với mụ chủ nhà,
vợ chồng ông Hai đã bị đẩy tới tình
cảnh nào?
- Trên này họ đồn giăng giăng ra rằng thì là làng dưới nhà ta đi Việt gian theo
Tây đấy, ông bà đã biết chưa nhỉ?… Nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những
người làng chợ Dầu khỏi vùng này không cho ở nữa.
Bà Hai cúi mặt xuống rân rấn nước mắt, bà nói:
- Vâng… thôi thì dân làng đã chả cho ở nữa, chúng tôi cũng đành phải đi nơi
khác chứ biết làm thế nào. Nhưng xin ông bà trên ấy nghĩ lại thư thư cho vợ
chồng chúng tôi vài ba hôm nữa. Bây giờ bảo đi, vợ chồng chúng tôi cũng
không biết là đi đâu…
Mụ chủ đi rồi, bà Hai và con bé lớn nước mắt ròng ròng, lẳng lặng gánh hàng
ra quán. Vợ chồng cũng chẳng dám nói với nhau câu gì. Ông Hai ngồi lặng trên
một góc giường, bao nhiêu ý nghĩ đen tối, ghê rợn, nối tiếp bời bời trong đầu
óc ông lão. Biết đem nhau đi đâu bây giờ? Biết đâu người ta chứa bố con ông
mà đi bây giờ?… Thật là tuyệt đường sinh sống!
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Ông rơi vào tình
trạng bế tắc, tuyệt
vọng
+ Ông lo cho số phận của những đứa con rồi sẽ bị khinh
bỉ, hắt hủi vì là trẻ con làng Việt gian: "Chúng nó cũng
là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị
người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy
tuổi đầu".
+ Ông lo cho bao nhiêu người tản cư làng ông sẽ bị
khinh, tẩy chay, thù hằn, ghê tởm: " Chao ôi! Cực nhục
chưa, cả làng Việt gian!... Suốt cái nước Việt Nam này
người ta ghê tởm, người ta thù hận cái giống Việt gian
bán nước…"
+ Ông lo cho tương lai của gia đình rồi sẽ đi đâu, về
đâu, làm ăn sinh sống ra sao: "Rồi đi biết làm ăn, buôn
bán làm sao? Ai người ta chứa".
2.Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Trong bản thân ông Hai đã có sự
đấu tranh ntn? Sự đấu tranh đó thể
hiện điều gì ở ông Hai? (xung đột
nội tâm)
Hay là quay về làng ?… Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản
đối ngay. Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng
tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ… Nước mắt ông giàn ra, về làng tức là
chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây. Ông lão nghĩ đến mấy thằng kỳ lý
chuyên môn khua khoét như thế lại ra vào hống hách ở trong cái đình. Và
cái đình lại như của riêng chúng nó, lại thâm nghiêm ghê gớm, chứa toàn
những sự ức hiếp, đè nén. Ngày ngày chúng đóng ra, dong vào, đánh tổ
tôm mà bàn tư việc làng với nhau ở trong ấy. Những hạng khố rách áo ôm
như ông có đi qua cũng chỉ dám liếc trộm vào, rồi cắm đầu xuống mà lủi
đi. Anh nào ho he, hóc hách một tí thì chúng nó tìm hết cách để hại, cất
phần ruộng, truất ngôi, trừ ngoại, tống ra khỏi làng…
Ông Hai nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời đen tối, lầm than cũ nổi lên trong
ý nghĩ ông. Ông không thể về cái làng ấy được nữa. Về bây giờ ra ông
chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây
mất rồi thì phải thù.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Khi bị dồn vào tình
huống không được
ở nơi tản cư
+ Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ
tới tương lai. Ông không biết đi đâu, về làng thi không
được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây, phản
bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã
đánh tiếng xua đuổi.
+ Khi buộc phải lựa chọn Quê hương và Tổ quốc, cuối
cùng, ông đã quyết định: “Làng thì yêu thật, nhưng làng
theo Tây mất rồi thì phải thù”.
=>Như vậy, tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt
đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất
nước. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con
người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm
riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng
đồng.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
- Vì sao ông Hai lại trò chuyện như thế với
đứa con nhỏ?
- Qua những lời trò chuyện ấy, em cảm
nhận được điều gì về tấm lòng của ông Hai
đối với làng quê, đất nước, với cuộc kháng
chiến?
Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng chợ Dầu.
- Thế con có thích về làng chợ Dầu không? Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả
lời khe khẽ:
- Có. Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu lại hỏi:
- À thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai? Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và
rành rọt:
- Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm! Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng
ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:
- Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ. Mấy hôm nay ru rú ở xó nhà, những lúc
buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lão lại thủ thỉ với con như vậy. Ông
nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa. Anh em
đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có
bao giờ dám đơn sai. Mỗi lần nói ra được vài câu như vậy nỗi khổ trong lòng
ông cũng vơi đi được vài phần.
2. Ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
Trong cuộc
trò chuyện
với con
+ Ông trút hết nỗi lòng vào những lời thủ thỉ,
tâm sự với đứa con ngây thơ, bé bỏng.
+ Tình yêu sâu nặng với làng, nên ông muốn lý
trí và trái tim bé bỏng của con phải khắc sâu,
ghi nhớ câu: " Nhà ta ở làng chợ Dầu" - nơi
chôn rau cắt rốn của bố con ông.
+ Ông nhắc cho con về tấm lòng thủy chung với
kháng chiến, với cụ Hồ của bố con ông: " Anh
em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên
đầu, trên cổ soi xét cho bố con ông".
+ Ông khẳng định tình cảm sâu nặng , bền vững
và rất thiêng liêng ấy : " Cái lòng của bố con
ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai.
Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai".
Dường như ông Hai đang nói
chuyện với chính mình, đang giãi
bày với lòng mình và cũng như đang
tự nhắc nhở: hãy luôn “Ủng hộ Cụ
Hồ Chí Minh”. Tình quê và lòng yêu
nước thật sâu nặng và thiêng liêng.
Qua diễn biến tâm trạng của
ông Hai, Kim Lân đã khám phá và
làm nổi bật những nét đẹp trong
tâm hồn người nông dân cách
mạng: hài hòa giữa lòng yêu làng
và tình yêu nước, nhiệt tình cách
mạng.
* Khi nghe tin làng theo Tây:
- Tin đột ngột, bất ngờ làm ông sững sờ, bàng hoàng. Cảm
thấy xấu hổ, uất ức, cảm xúc bị xúc phạm, đau đớn, tê tái.
- Trong lòng luôn biểu hiện tư tưởng nhục nhã, ngờ vực, bế
tắc vào cuộc sống phía trước. Nỗi ám ảnh biến thành sợ hãi
thường xuyên cùng với nỗi đau xót, tủi hổ.
3. Ông Hai khi nghe tin làng cải chính
Tâm trạng của nhân vật ông Hai đã có
sự thay đổi ra sao khi nghe tin cải
chính làng chợ Dầu không phải theo
Tây?
Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy… Vừa đến ngõ ông
lão đã lên tiếng:
- Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia quà cho nào. Lũ trẻ ở trong nhà ùa ra, ông
lão vội rút cái gói bọc lá chuối khô cho con bé lớn:
- Bánh rán đường đây, chia cho em mỗi đứa một cái. Dứt lời ông lão lại lật
đật đi thẳng sang bên gian bác Thứ. Chưa đến bực cửa, ông lão đã bô bô:
- Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì đấy! Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt
nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính, ông ấy cho biết…
Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi là Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết!
Toàn là sai sự mục đích cả.
Bác Thứ chưa nghe thủng câu chuyện ra sao, ông lão đã lại lật đật bỏ lên nhà
trên.
- Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên
cải chính… Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng em Việt gian ấy mà. Láo!
Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục đích cả!
3. Ông Hai khi nghe tin làng cải chính
Đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn ấy thì cái tin làng Chợ Dầu phản bội
đã được cải chính.
Ông“bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”. Nội
dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình
bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất dễ hiểu: Sự mất mát về vật
chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn
Kim Lân đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật.
Từ một người nông dân yêu làng, ông Hai trở thành người công dân nặng lòng với
kháng chiến. Tình yêu làng, yêu nước đã hòa làm một trong ý nghĩ, tình cảm, việc
làm của ông Hai. Tình cảm ấy thống nhất,hòa quyện như tình yêu nước được đặt
cao hơn, lớn rộng lên tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống mang tinh thần thời
đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì kháng chiến
chống Pháp.
* Khi tin xấu được cải chính:
- Vui sướng hả hê đến cực điểm. Để minh chứng cho tấm
lòng trong sạch ông Hai khoe cả cái nhà của ông bị Tây đốt.
- Ông coi trọng danh dự, yêu làng yêu nước hơn tất cả.
III
TỔNG KẾT
1 Nội dung
L
àng đề cập tới tình yêu làng quê và
lòng yêu nước cùng tinh thần kháng
chiến của người nông dân phải rời làng đi
tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp
đang diễn ra được thể hiện một cách
chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân
vật ông Hai.
III
TỔNG KẾT
2 Nghệ thuật
-Tác giả sáng tạo tình huống truyện có
tính căng thẳng, thử thách.
-Xây dựng cốt truyện tâm lí (đó là chú
trọng vào các tình huống bên trong nội
tâm nhân vật).
-Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự
nhiên mà sâu sắc,tinh tế.
-Ngôn ngữ đặc sắc,sinh động, mang đậm
chất khẩu ngữ, gần với lời ăn tiếng nói
hằng ngày của người nông dân.
LÀNG ( Kim Lân )
Nghe tin làng theo Tây, tình huống đối nghịch với
tình cảm tự hào về làng chợ Dầu của ông Hai, một
làng quê có tinh thần kháng chiến. Từ đó, tạo ra tâm
lí diễn biến gay gắt trong nhân vật.
Kim Lân (1920- 2007), tên thật là Nguyễn Văn Tài,
quê ở Bắc Ninh, là nhà văn có sở trường về truyện
ngắn, am hiểu về người nông dân và nông thôn.
Tình huống độc đáo
TÁC GIẢ
Truyện ngắn “ Làng” viết trong thời kỳ đầu kháng
chiién chống Pháp và đăng trên tạp chí Văn nghệ
(1948)
NỘI DUNG
TÁC PHẨM
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật: đặt nhân vật
trong tình huống thử thách tâm lý để bộc lộ xung đột
nội tâm, diễn biến tâm trạng miêu tả qua hành động,
lời nói, suy nghĩ của nhân vật rất thật, rất tự nhiên.
Diễn biến tâm lý nhân vật ông Hai
NGHỆ THUẬT
Ngôn ngữ truyện:
Lời dẫn truyện và lời nhân vật có sự thống nhất
cao về sắc thái giọng điệu , có lúc tác giả nhập vào
nhân vật ông Hai mà kể, tả, lí giải.
Lời thoại mang đậm tính khẩu ngữ ( khẩu ngữ nông
dân ) đồng thời mang đậm cá tính nhân vật.
Trước khi nghe tin xấu về làng:
Nhớ làng da diết, thường nghe ngóng tin tức và
vui với những tin chiến thắng. Tính tình chất phác,
vui vẻ. Tấm lòng gắn bó với làng quê kháng chiến,
yêu làng, yêu cách mạng.
Ý NGHĨA VĂN BẢN
Đoạn trích thể hiện tình cảm yêu làng, tinh thần yêu nước của
người nông dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, một tâm
hồn ngay thẳng, trọng danh dự, thủy chung với kháng chiến.
Khi nghe tin làng theo Tây:
Tin đột ngột, bất ngờ làm ông sững sờ, bàng
hoàng. Cảm thấy xấu hổ, uất ức, cảm xúc bị xúc
phạm, đau đớn, tê tái.
Trong lòng luôn biểu hiện tư tưởng nhục nhã,
ngờ vực, bế tắc vào cuộc sống phía trước. Nỗi ám
ảnh biến thành sợ hãi thường xuyên cùng với nỗi
đau xót, tủi hổ.
Khi tin xấu được cải chính:
Vui sướng hả hê đến cực điểm. Để minh
chứng cho tấm lòng trong sạch ông Hai khoe cả
cái nhf ông bị đốt.
Ông coi trọng danh dự, yêu làng yêu nước
hơn tất cả.
Củng cố - Hướng dẫn học ở nhà:
- Nắm chắc nội dung và nghệ thuật của văn bản.
BTVN: Làm bài tập 1 (Phần luyện tập –T174)
- Chuẩn bị : Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong
văn bản tự sự./.
 








Các ý kiến mới nhất