Tìm kiếm Bài giảng
Bài 18. Ông đồ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Được tặng
Người gửi: Nguyễn Duy Hoài Nam
Ngày gửi: 15h:54' 15-01-2023
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 85
Nguồn: Được tặng
Người gửi: Nguyễn Duy Hoài Nam
Ngày gửi: 15h:54' 15-01-2023
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 85
Số lượt thích:
0 người
Ôn tập văn bản
Ông đồ
Vũ Đình Liên
A. Bối cảnh xã
hội:
Từ đầu thế kỉ XX, chữ nho ngày càng mất vị thế quan
trọng trong đời sống văn hoá Việt Nam. Các nhà nho từ
chỗ là nhân vật trung tâm của đời sống văn hoá dân tộc,
được xã hội tôn vinh, bỗng trở nên lạc lõng trong thời đại
mới, bị cuộc đời bỏ quên, cuối cùng là vắng bóng. Số phận
của ông đồ trong bài thơ cũng như vậy.
Trong bài thơ, tác giả không bàn bạc về sự hết thời của
chữ nho, nhà nho mà chỉ thể hiện tâm trạng ngậm ngùi, day
dứt trước sự tàn tạ rồi vắng bóng của ông đồ, con người của
một thời đã qua. “Ông đồ chính là cái di tích tiều tuỵ đáng
thương của một thời tàn”
B. BÀI THƠ
1. Tác giả.
Vũ Đình Liên (1913 - 1996), quê Hà Nội, là một nhà thơ, nhà dịch
thuật, nhà giáo.Thơ ông thường mang nặng lòng thương người và
niềm hoài cổ.Ông đồ là bài thơ thành công xuất sắc nhất của Vũ Đình
Liên
2. Tác phẩm.
a. Hoàn cảnh sáng tác.
- Từ đầu thế kỉ XX, nền văn Hán học và chữ Nho ngày càng suy vi
trong đời sống văn hóa Việt Nam, khi mà Tây học du nhập vào Việt
Nam, có lẽ vì đó mà hình ảnh những ông đồ đã bị xã hội bỏ quên và
dần vắng bóng. Vũ Đình Liên đã viết bài thơ Ông đồ thể hiện niềm
ngậm ngùi, day dứt về cảnh cũ, người xưa.
Sáng tác năm 1936.
b. Thể loại: thể thơ 5 chữ. Mỗi câu có 5 chữ, 4 câu /khổ, gieo vần chân
c. PTBĐ: biểu cảm, tự sự, miêu tả.
d. Bố cục.
Chia làm 3 phần:
- Phần 1 (Hai khổ thơ đầu): Hình ảnh ông đồ thời
Nho học còn thịnh hành, thịnh thế.
- Phần 2 (Hai khổ tiếp theo): Hình ảnh ông đồ khi
Nho học suy vi (lụi tàn).
- Phần 3 (Còn lại): Tâm tư thầm kín, niềm tiếc
thương tác giả gửi gắm.
“Bài thơ thể hiện sâu sắc tình cảnh đáng
thương của ông đồ, qua đó toát lên niềm cảm
thương chân thành trước một lớp người đang
tàn tạ và nỗi tiếc nhớ cảnh cũ người xưa của
nhà thơ.
.”
Giá trị nội
dung
- Thể thơ ngũ ngôn bình dị, cô đúc mà gợi cảm.
- Kết cấu giản dị, chặt chẽ.
- Ngôn ngữ trong sáng, hàm súc, dư ba.
Nhân hóa, tả cảnh ngụ tình
Giá trị nghệ
thuật
0
1
Bài tập 1.
Nêu ý nghĩa của hình ảnh ông đồ qua
bài thơ?
-
Ông đồ: là người làm nghề dạy học.
Trong vb: Là thầy đồ bán chữ, cho chữ Nho, câu đối
ngày Tết.
- Là hình ảnh tiêu biểu cho lớp người xưa một thời vang
bóng.
- Là hình ảnh tiêu biểu cho nét đẹp trong văn hoá cổ
truyền của dân tộc (cho chữ, xin chữ trong ngày tết).
- Là di tích của một thời.
Bài tập 2 Phân tích cái hay của hai câu thơ bằng đoạn văn diễn dịch từ 5 – 7 câu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu.
Gợi ý:
Câu chủ đề: Trong văn bản “Ông đồ”, Vũ Đình Liên đã sử dụng nghệ thuật
nhân hóa rất đắt qua hai câu thơ : “Giấy đỏ buồn không thắm/ Mực đọng
trong nghiên sầu” để bộc lộ nỗi buồn của nhân vật ông đồ.
- Mới đọc qua tưởng là câu thơ tả cảnh nhưng thực chất là mượn đồ vật để
bộc lộ tâm trạng con người.
- Giấy, mục, nghiên: đồ vật gắn bó máu thịt, là linh hồn của ông đồ =>bộc lộ
tâm trạng ông đồ.
+ Nỗi buồn tủi lan sang cả những vật vô tri vô giác. Tờ giấy đỏ cứ phơi ra
đấy mà chẳng được đụng đến trở thành bẽ bàng, màu đỏ của nó trở thành vô
duyên, không thắm lên được.
+ Nghiên mực cũng vậy, không được bút lông chấm vào nên mực đọng lại
bao sầu tủi và trở thành nghiên sầu.
- Biện pháp nghệ thuật nhân hoá được dùng rất đắt: vừa cụ thể, vừa sâu lắng.
Bài tập 3. Nêu cảm nhận của em về khổ thơ:
Ông đồ vẫn ngồi đấy (phó từ chỉ sự tiếp tiếp diễn)
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay.
Gợi ý:
+ Ông đồ vẫn ngồi đấy như xưa, cố gắng bám trụ lấy cuộc đời , nhưng
cuộc đời đã hoàn toàn khác xưa.
+ Đường phố vẫn đông người qua nhưng không ai biết đến sự có mặt
của ông.
+ Ông vẫn cố bám lấy sự sống, vẫn muốn có mặt với cuộc đời nhưng
cđời đã quên hẳn ông. Ông ngồi đấy mà vô cùng lạc lõng, lẻ loi. Ông
ngồi đấy lặng lẽ mà trong lòng là một tấn bi kịch.
+ Trời đất cũng ảm đạm, lạnh lẽo như lòng ông:
- Lá vàng rơi vốn đã gợi sợ tàn tạ, buồn bã, đây lại rơi trên những tờ giấy
dành viết câu đối của ông đồ. Vì ông ế khách, tờ giấy đổ cứ phơi ra đấy
hứng lá vàng rơi ông cũng bỏ mặc. (ẩn dụ cho cuộc đời ông đồ)
- Ngoài trời chỉ là mưa bụi bay rất nhẹ mà sao ảm đạm, lạnh lẽo tới buốt
giá
Bài tập 4. “Mỗi năm hoa đào nở”
Câu a. Chép tiếp những câu thơ tiếp theo để hoàn thành 2 khổ thơ của
bài thơ “Ông đồ”.
Câu b. Nêu nêu nội dung của khổ thơ em vừa chép bằng một câu văn.
Câu c. Hình ảnh ông đồ gắn liền với thời điểm “mỗi năm hoa đào
nở”, điều đó có ý nghĩa như thế nào?
Câu d. Trong bài thơ, nhân vật trữ tình được gọi theo những cách
khác nhau: ông đồ già, ông đồ, ông đồ xưa. Hãy phân tích cách gọi
như vậy?
Câu e. “Niềm hoài cổ” là một trong những thi cảm chính trong bài
thơ “Ông đồ”. Kể tên một một văn bản cũng nói về thi cảm này (chỉ rõ
tên tác giả) và chỉ rõ “niềm hoài cổ” ở đây là gì?
Câu g. Viết đoạn văn theo phép diễn dịch khoảng 8 câu trình bày cảm
nhận của em về hình ảnh ông đồ trong hai khổ thơ đầu của bài thơ.
Trong đoạn có sử dụng một câu cầu khiến. (Gạch chân và chỉ rõ).
Câu a. Chép đúng thơ
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”
Câu b. Nêu nêu nội dung của
khổ thơ em vừa chép bằng một
câu văn.
Khổ thơ giới thiệu hình ảnh
ông đồ ngồi viết chữ trong
ngày Tết đến xuân về.
Câu c. Hình ảnh ông đồ gắn liền
với thời điểm “mỗi năm hoa đào
nở”, điều đó có ý nghĩa như thế
nào?
Hoa đào là tín hiệu của mùa xuân và Tết
cổ truyền của dân tộc.
- Ông đồ có mặt giữa mùa đẹp vui, hạnh
phúc của mọi người.
Câu d. Trong bài thơ, nhân vật trữ tình được gọi theo những cách khác
nhau: ông đồ già, ông đồ, ông đồ xưa. Hãy phân tích cách gọi như vậy?
Cách gọi như vậy thể hiện rất rõ tình cảm của nhà thơ:
- Ông đồ già: Gọi theo tuổi tác, sự tôn trọng, gợi về thời gian của tập
quán viết câu đối và thưởng thức câu đối của con người.
- Ông đồ: Tên gọi chung của những thầy đồ viết câu đối trên hè phố, gợi
số đông, tất cả những ông đồ đang làm công việc đó đều trong cảnh bị
lãnh quên.
- Ông đồ xưa: Ông đồ của những ngày xưa, của thời đã qua. Cách gọi
phù hợp với hình ảnh ông đồ đã lùi vào hẳn quá khứ, gợi được sự thương
cảm.
Câu e. “Niềm hoài cổ” là một trong những thi cảm chính trong bài thơ
“Ông đồ”. Kể tên một một văn bản cũng nói về thi cảm này (chỉ rõ tên
tác giả) và chỉ rõ “niềm hoài cổ” ở đây là gì?
-Văn bản “Nhớ rừng” – Thế Lữ.
Hai bài thơ đều mang niềm hoài cổ, nhớ về quá khứ.
“Nhớ rừng”
“Ông đồ”
con hổ nhớ về quá khứ huy đó là nỗi nhớ cảnh cũ người xưa, sự
hoàng của nó, về cuộc sống tự chạnh lòng về giá trị tinh thần của dân
do, phóng khoáng ở vị thế chúa tộc bị mai một.
tể.
Chốt ý
Dẫn chứng
Bức tranh mùa xuân
“Mỗi năm hoa đào nở”
“Bên phố đồng người qua”
Hình ảnh ông đồ
“Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ”
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”
Phân tích
- Hoa đào nở, mực tàu, giấy đổ:
tín hiệu, sứ giả của mùa xuân
- Con người: rộn ràng cả góc
phố, đông vui, tấp nập, rự rỡ, ấm
áp
- Cùng với hoa đào rực rỡ, ông đồ xuấ hiện
viết câu đối thật quên thuộc, gần gũi, thân
thương.
- Như một người nghệ sĩ đang say sưa sáng
tạo, trổ hết tài năng, tâm huyết dành cho mọi
người..
Nghệ thuật: + Nhịp thơ nhanh, giọng thơ khỏe khoắn, hân hoan.
+ Nghệ thuật so sánh “Hoa tay … rồng bay” -> tài năng, sự khéo
léo
Nhận xét
->bức tranh xuân tươi đẹp + tài hoa của con người (ông đồ) -> Không khí nhộn
nhịp, tràn đầy sức sống.
Bài tập 5. Câu thơ dưới đây thuộc bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình
Liên:
“… Ông đồ vẫn ngồi đấy”
Câu 1: Chép tiếp nhưng câu thơ tiếp theo để hoàn thành 2 khổ thơ.
Câu 2: Bài thơ “Ông đồ” được viết theo thể thơ nào? Thể thơ này có tác
dụng gì trong việc thể hiện nội dung cảm xúc của bài thơ?
Câu 3: Kết cấu của bài thơ có gì đặc biệt? Lối kết cấu ấy có ý nghĩa gì?
Câu 4: Bài thơ có mấy lần sử dụng câu hỏi tu từ? Em hãy chỉ ra và nêu
giá trị nghệ thuật của những câu hỏi tu từ ấy?
Câu 5: Thủ pháp tương phản được thể hiện rất hiệu quả trong bài thơ.
Hãy phân tích rõ điều đó?
Câu 6: Xã hội Việt Nam trong thời kì hội nhập, nét đẹp văn hóa vẫn
được trân trọng, giữ gìn. Từ văn bản “Ông đồ” kết hợp với sự hiểu biết
của bản thân, hãy viết chuỗi câu khoảng 1/2 trang giấy nêu suy nghĩ về
nhận xét trên?
Câu 2: Bài thơ “Ông đồ” được viết theo thể
thơ nào? Thể thơ này có tác dụng gì trong
việc thể hiện nội dung cảm xúc của bài thơ?
- Thể thơ: Ngũ ngôn (5 chữ)
- Tác dụng: Vừa có khả năng tự sự (kể chuyện),
miêu tả, triết lý, vừa diễn tả tâm tình sâu lắng, nỗi
niềm hoài cổ.
Câu 3: Kết cấu của bài thơ có gì đặc biệt? Lối kết
cấu ấy có ý nghĩa gì?
-Kết cấu: Kết cấu “đầu cuối tương ứng”, mở đầu là “Mỗi
năm hoa đào nở - Lại thấy ông đồ già”, kết thúc là “Năm
nay đào lại nở - Không thấy ông đồ xưa”.
- Ý nghĩa: Làm nổi bật cái tứ “cảnh cũ người đâu”, vừa
thích hợp để diễn tả nỗi niềm bâng khuâng, nuối tiếc của
tác giả và gợi lên ở người đọc niềm đồng cảm sâu sắc.
Câu 4: Bài thơ có mấy lần sử dụng câu hỏi tu từ? Em hãy chỉ
ra và nêu giá trị nghệ thuật của những câu hỏi tu từ ấy?
-Trong bài thơ có 2 lần sử dụng câu hỏi tu từ:
“Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?”
Và :
“Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”
->Tác dụng: Bộc lộ cảm xúc: ở câu thứ nhất, thể hiện niềm thương cảm, ngậm ngùi
trước cảnh ông đồ ế khách. Ở câu thứ hai, trước sự vắng bóng của ông đồ, nhà thơ cất
lên lời hỏi như thảng thốt, xót xa, bâng khuâng, nuối tiếc. Hỏi những người muôn năm
cũ là ông đồ, là lớp nhà nho thất thế, là những người đã từng thuê ông đồ viết chữ,
cũng có thể là lời tự hỏi chính mình, chính thế hệ mình – lớp người mới, lớp người
hiện đại.
Câu 5: Thủ pháp tương phản được thể hiện rất hiệu
quả trong bài thơ. Hãy phân tích rõ điều đó?
Gợi ý: Để thấy được hiểu quả của phép tương phản cẩn phân tích:
-Sự tương phản của hai thời kỳ trong cuộc đời ông đồ (Cảnh, hình ảnh ông đồ,
những người thuê viết).
- Sự tương phản giữa sự ồn ào, náo nhiệt của phố phường với “dáng ngồi bất động
như bó gối” của ông đồ (Vũ Quần Phương)
- Sự tương phản giữa sự nhẫn nại như níu với của ông đồ với cuộc đời và sự thờ ơ,
vô tình của mọi người với ông.
- Sự tương phản giữa cái còn (hoa đào) và cái mất (hình ảnh ông đồ) trong khổ thơ
cuối.
->Thể hiện sự thăng trầm, nỗi bất hạnh trong cuộc sống của ông đồ. Đồng thời thể
hiện được cảm xúc của tác giả - sự thương cảm trước những người đã trở thành “cái
di tích tiều tụy đáng thương của mội thời tàn” và tiếc nuối cảnh cũ người xưa.
- Đặt vấn đề:
Xin chữ đầu năm để cầu mong may mắn, sức khỏe, phúc lộc hay bình an là nét đẹp truyền thống
của dân tộc ta mỗi khi tết đến xuân về.
“Thịt mỡ, dưa hành…. xanh”
- Thực trạng: Hình ảnh ông đồ với bút nghiên và giấy mực, chăm chút và gửi hồn cho từng nét
chữ trên phố đông người qua lại như biểu tượng cho một dân tộc hiếu học, đề cao con chữ. Thế
nhưng, nét văn hóa ấy dần bị đổi thay theo năm tháng, các thầy đồ ngày cằng vắng bóng trong
những ngày tết Nguyên đán.
- Nguyên nhân là bởi sự hấp dẫn của những văn hóa du nhập từ nước ngoài hay những trò chơi
điện tử, mạng xã hội.
+ hội nhập về văn hóa là điều không tránh khỏi và góp phần làm đa dạng nền văn hóa của đất
nước. Nhưng “hòa nhập mà không hòa tan” là điều chúng ta cần hướng đến. Học hỏi để làm đa
dạng, giàu có nền văn hóa đất nước là điều cần thiết nhưng bảo tồn và phát huy truyền thống
vẫn cần được chú trọng..
- Biện pháp:
việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống là nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi người trẻ chúng
ta hiện nay.
Việc tiếp thu có chọn lọc văn hóa ngoại quốc là điều rất cần thiết.
- Liên hệ:
Thanks
you
Ông đồ
Vũ Đình Liên
A. Bối cảnh xã
hội:
Từ đầu thế kỉ XX, chữ nho ngày càng mất vị thế quan
trọng trong đời sống văn hoá Việt Nam. Các nhà nho từ
chỗ là nhân vật trung tâm của đời sống văn hoá dân tộc,
được xã hội tôn vinh, bỗng trở nên lạc lõng trong thời đại
mới, bị cuộc đời bỏ quên, cuối cùng là vắng bóng. Số phận
của ông đồ trong bài thơ cũng như vậy.
Trong bài thơ, tác giả không bàn bạc về sự hết thời của
chữ nho, nhà nho mà chỉ thể hiện tâm trạng ngậm ngùi, day
dứt trước sự tàn tạ rồi vắng bóng của ông đồ, con người của
một thời đã qua. “Ông đồ chính là cái di tích tiều tuỵ đáng
thương của một thời tàn”
B. BÀI THƠ
1. Tác giả.
Vũ Đình Liên (1913 - 1996), quê Hà Nội, là một nhà thơ, nhà dịch
thuật, nhà giáo.Thơ ông thường mang nặng lòng thương người và
niềm hoài cổ.Ông đồ là bài thơ thành công xuất sắc nhất của Vũ Đình
Liên
2. Tác phẩm.
a. Hoàn cảnh sáng tác.
- Từ đầu thế kỉ XX, nền văn Hán học và chữ Nho ngày càng suy vi
trong đời sống văn hóa Việt Nam, khi mà Tây học du nhập vào Việt
Nam, có lẽ vì đó mà hình ảnh những ông đồ đã bị xã hội bỏ quên và
dần vắng bóng. Vũ Đình Liên đã viết bài thơ Ông đồ thể hiện niềm
ngậm ngùi, day dứt về cảnh cũ, người xưa.
Sáng tác năm 1936.
b. Thể loại: thể thơ 5 chữ. Mỗi câu có 5 chữ, 4 câu /khổ, gieo vần chân
c. PTBĐ: biểu cảm, tự sự, miêu tả.
d. Bố cục.
Chia làm 3 phần:
- Phần 1 (Hai khổ thơ đầu): Hình ảnh ông đồ thời
Nho học còn thịnh hành, thịnh thế.
- Phần 2 (Hai khổ tiếp theo): Hình ảnh ông đồ khi
Nho học suy vi (lụi tàn).
- Phần 3 (Còn lại): Tâm tư thầm kín, niềm tiếc
thương tác giả gửi gắm.
“Bài thơ thể hiện sâu sắc tình cảnh đáng
thương của ông đồ, qua đó toát lên niềm cảm
thương chân thành trước một lớp người đang
tàn tạ và nỗi tiếc nhớ cảnh cũ người xưa của
nhà thơ.
.”
Giá trị nội
dung
- Thể thơ ngũ ngôn bình dị, cô đúc mà gợi cảm.
- Kết cấu giản dị, chặt chẽ.
- Ngôn ngữ trong sáng, hàm súc, dư ba.
Nhân hóa, tả cảnh ngụ tình
Giá trị nghệ
thuật
0
1
Bài tập 1.
Nêu ý nghĩa của hình ảnh ông đồ qua
bài thơ?
-
Ông đồ: là người làm nghề dạy học.
Trong vb: Là thầy đồ bán chữ, cho chữ Nho, câu đối
ngày Tết.
- Là hình ảnh tiêu biểu cho lớp người xưa một thời vang
bóng.
- Là hình ảnh tiêu biểu cho nét đẹp trong văn hoá cổ
truyền của dân tộc (cho chữ, xin chữ trong ngày tết).
- Là di tích của một thời.
Bài tập 2 Phân tích cái hay của hai câu thơ bằng đoạn văn diễn dịch từ 5 – 7 câu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu.
Gợi ý:
Câu chủ đề: Trong văn bản “Ông đồ”, Vũ Đình Liên đã sử dụng nghệ thuật
nhân hóa rất đắt qua hai câu thơ : “Giấy đỏ buồn không thắm/ Mực đọng
trong nghiên sầu” để bộc lộ nỗi buồn của nhân vật ông đồ.
- Mới đọc qua tưởng là câu thơ tả cảnh nhưng thực chất là mượn đồ vật để
bộc lộ tâm trạng con người.
- Giấy, mục, nghiên: đồ vật gắn bó máu thịt, là linh hồn của ông đồ =>bộc lộ
tâm trạng ông đồ.
+ Nỗi buồn tủi lan sang cả những vật vô tri vô giác. Tờ giấy đỏ cứ phơi ra
đấy mà chẳng được đụng đến trở thành bẽ bàng, màu đỏ của nó trở thành vô
duyên, không thắm lên được.
+ Nghiên mực cũng vậy, không được bút lông chấm vào nên mực đọng lại
bao sầu tủi và trở thành nghiên sầu.
- Biện pháp nghệ thuật nhân hoá được dùng rất đắt: vừa cụ thể, vừa sâu lắng.
Bài tập 3. Nêu cảm nhận của em về khổ thơ:
Ông đồ vẫn ngồi đấy (phó từ chỉ sự tiếp tiếp diễn)
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay.
Gợi ý:
+ Ông đồ vẫn ngồi đấy như xưa, cố gắng bám trụ lấy cuộc đời , nhưng
cuộc đời đã hoàn toàn khác xưa.
+ Đường phố vẫn đông người qua nhưng không ai biết đến sự có mặt
của ông.
+ Ông vẫn cố bám lấy sự sống, vẫn muốn có mặt với cuộc đời nhưng
cđời đã quên hẳn ông. Ông ngồi đấy mà vô cùng lạc lõng, lẻ loi. Ông
ngồi đấy lặng lẽ mà trong lòng là một tấn bi kịch.
+ Trời đất cũng ảm đạm, lạnh lẽo như lòng ông:
- Lá vàng rơi vốn đã gợi sợ tàn tạ, buồn bã, đây lại rơi trên những tờ giấy
dành viết câu đối của ông đồ. Vì ông ế khách, tờ giấy đổ cứ phơi ra đấy
hứng lá vàng rơi ông cũng bỏ mặc. (ẩn dụ cho cuộc đời ông đồ)
- Ngoài trời chỉ là mưa bụi bay rất nhẹ mà sao ảm đạm, lạnh lẽo tới buốt
giá
Bài tập 4. “Mỗi năm hoa đào nở”
Câu a. Chép tiếp những câu thơ tiếp theo để hoàn thành 2 khổ thơ của
bài thơ “Ông đồ”.
Câu b. Nêu nêu nội dung của khổ thơ em vừa chép bằng một câu văn.
Câu c. Hình ảnh ông đồ gắn liền với thời điểm “mỗi năm hoa đào
nở”, điều đó có ý nghĩa như thế nào?
Câu d. Trong bài thơ, nhân vật trữ tình được gọi theo những cách
khác nhau: ông đồ già, ông đồ, ông đồ xưa. Hãy phân tích cách gọi
như vậy?
Câu e. “Niềm hoài cổ” là một trong những thi cảm chính trong bài
thơ “Ông đồ”. Kể tên một một văn bản cũng nói về thi cảm này (chỉ rõ
tên tác giả) và chỉ rõ “niềm hoài cổ” ở đây là gì?
Câu g. Viết đoạn văn theo phép diễn dịch khoảng 8 câu trình bày cảm
nhận của em về hình ảnh ông đồ trong hai khổ thơ đầu của bài thơ.
Trong đoạn có sử dụng một câu cầu khiến. (Gạch chân và chỉ rõ).
Câu a. Chép đúng thơ
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”
Câu b. Nêu nêu nội dung của
khổ thơ em vừa chép bằng một
câu văn.
Khổ thơ giới thiệu hình ảnh
ông đồ ngồi viết chữ trong
ngày Tết đến xuân về.
Câu c. Hình ảnh ông đồ gắn liền
với thời điểm “mỗi năm hoa đào
nở”, điều đó có ý nghĩa như thế
nào?
Hoa đào là tín hiệu của mùa xuân và Tết
cổ truyền của dân tộc.
- Ông đồ có mặt giữa mùa đẹp vui, hạnh
phúc của mọi người.
Câu d. Trong bài thơ, nhân vật trữ tình được gọi theo những cách khác
nhau: ông đồ già, ông đồ, ông đồ xưa. Hãy phân tích cách gọi như vậy?
Cách gọi như vậy thể hiện rất rõ tình cảm của nhà thơ:
- Ông đồ già: Gọi theo tuổi tác, sự tôn trọng, gợi về thời gian của tập
quán viết câu đối và thưởng thức câu đối của con người.
- Ông đồ: Tên gọi chung của những thầy đồ viết câu đối trên hè phố, gợi
số đông, tất cả những ông đồ đang làm công việc đó đều trong cảnh bị
lãnh quên.
- Ông đồ xưa: Ông đồ của những ngày xưa, của thời đã qua. Cách gọi
phù hợp với hình ảnh ông đồ đã lùi vào hẳn quá khứ, gợi được sự thương
cảm.
Câu e. “Niềm hoài cổ” là một trong những thi cảm chính trong bài thơ
“Ông đồ”. Kể tên một một văn bản cũng nói về thi cảm này (chỉ rõ tên
tác giả) và chỉ rõ “niềm hoài cổ” ở đây là gì?
-Văn bản “Nhớ rừng” – Thế Lữ.
Hai bài thơ đều mang niềm hoài cổ, nhớ về quá khứ.
“Nhớ rừng”
“Ông đồ”
con hổ nhớ về quá khứ huy đó là nỗi nhớ cảnh cũ người xưa, sự
hoàng của nó, về cuộc sống tự chạnh lòng về giá trị tinh thần của dân
do, phóng khoáng ở vị thế chúa tộc bị mai một.
tể.
Chốt ý
Dẫn chứng
Bức tranh mùa xuân
“Mỗi năm hoa đào nở”
“Bên phố đồng người qua”
Hình ảnh ông đồ
“Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ”
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”
Phân tích
- Hoa đào nở, mực tàu, giấy đổ:
tín hiệu, sứ giả của mùa xuân
- Con người: rộn ràng cả góc
phố, đông vui, tấp nập, rự rỡ, ấm
áp
- Cùng với hoa đào rực rỡ, ông đồ xuấ hiện
viết câu đối thật quên thuộc, gần gũi, thân
thương.
- Như một người nghệ sĩ đang say sưa sáng
tạo, trổ hết tài năng, tâm huyết dành cho mọi
người..
Nghệ thuật: + Nhịp thơ nhanh, giọng thơ khỏe khoắn, hân hoan.
+ Nghệ thuật so sánh “Hoa tay … rồng bay” -> tài năng, sự khéo
léo
Nhận xét
->bức tranh xuân tươi đẹp + tài hoa của con người (ông đồ) -> Không khí nhộn
nhịp, tràn đầy sức sống.
Bài tập 5. Câu thơ dưới đây thuộc bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình
Liên:
“… Ông đồ vẫn ngồi đấy”
Câu 1: Chép tiếp nhưng câu thơ tiếp theo để hoàn thành 2 khổ thơ.
Câu 2: Bài thơ “Ông đồ” được viết theo thể thơ nào? Thể thơ này có tác
dụng gì trong việc thể hiện nội dung cảm xúc của bài thơ?
Câu 3: Kết cấu của bài thơ có gì đặc biệt? Lối kết cấu ấy có ý nghĩa gì?
Câu 4: Bài thơ có mấy lần sử dụng câu hỏi tu từ? Em hãy chỉ ra và nêu
giá trị nghệ thuật của những câu hỏi tu từ ấy?
Câu 5: Thủ pháp tương phản được thể hiện rất hiệu quả trong bài thơ.
Hãy phân tích rõ điều đó?
Câu 6: Xã hội Việt Nam trong thời kì hội nhập, nét đẹp văn hóa vẫn
được trân trọng, giữ gìn. Từ văn bản “Ông đồ” kết hợp với sự hiểu biết
của bản thân, hãy viết chuỗi câu khoảng 1/2 trang giấy nêu suy nghĩ về
nhận xét trên?
Câu 2: Bài thơ “Ông đồ” được viết theo thể
thơ nào? Thể thơ này có tác dụng gì trong
việc thể hiện nội dung cảm xúc của bài thơ?
- Thể thơ: Ngũ ngôn (5 chữ)
- Tác dụng: Vừa có khả năng tự sự (kể chuyện),
miêu tả, triết lý, vừa diễn tả tâm tình sâu lắng, nỗi
niềm hoài cổ.
Câu 3: Kết cấu của bài thơ có gì đặc biệt? Lối kết
cấu ấy có ý nghĩa gì?
-Kết cấu: Kết cấu “đầu cuối tương ứng”, mở đầu là “Mỗi
năm hoa đào nở - Lại thấy ông đồ già”, kết thúc là “Năm
nay đào lại nở - Không thấy ông đồ xưa”.
- Ý nghĩa: Làm nổi bật cái tứ “cảnh cũ người đâu”, vừa
thích hợp để diễn tả nỗi niềm bâng khuâng, nuối tiếc của
tác giả và gợi lên ở người đọc niềm đồng cảm sâu sắc.
Câu 4: Bài thơ có mấy lần sử dụng câu hỏi tu từ? Em hãy chỉ
ra và nêu giá trị nghệ thuật của những câu hỏi tu từ ấy?
-Trong bài thơ có 2 lần sử dụng câu hỏi tu từ:
“Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?”
Và :
“Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”
->Tác dụng: Bộc lộ cảm xúc: ở câu thứ nhất, thể hiện niềm thương cảm, ngậm ngùi
trước cảnh ông đồ ế khách. Ở câu thứ hai, trước sự vắng bóng của ông đồ, nhà thơ cất
lên lời hỏi như thảng thốt, xót xa, bâng khuâng, nuối tiếc. Hỏi những người muôn năm
cũ là ông đồ, là lớp nhà nho thất thế, là những người đã từng thuê ông đồ viết chữ,
cũng có thể là lời tự hỏi chính mình, chính thế hệ mình – lớp người mới, lớp người
hiện đại.
Câu 5: Thủ pháp tương phản được thể hiện rất hiệu
quả trong bài thơ. Hãy phân tích rõ điều đó?
Gợi ý: Để thấy được hiểu quả của phép tương phản cẩn phân tích:
-Sự tương phản của hai thời kỳ trong cuộc đời ông đồ (Cảnh, hình ảnh ông đồ,
những người thuê viết).
- Sự tương phản giữa sự ồn ào, náo nhiệt của phố phường với “dáng ngồi bất động
như bó gối” của ông đồ (Vũ Quần Phương)
- Sự tương phản giữa sự nhẫn nại như níu với của ông đồ với cuộc đời và sự thờ ơ,
vô tình của mọi người với ông.
- Sự tương phản giữa cái còn (hoa đào) và cái mất (hình ảnh ông đồ) trong khổ thơ
cuối.
->Thể hiện sự thăng trầm, nỗi bất hạnh trong cuộc sống của ông đồ. Đồng thời thể
hiện được cảm xúc của tác giả - sự thương cảm trước những người đã trở thành “cái
di tích tiều tụy đáng thương của mội thời tàn” và tiếc nuối cảnh cũ người xưa.
- Đặt vấn đề:
Xin chữ đầu năm để cầu mong may mắn, sức khỏe, phúc lộc hay bình an là nét đẹp truyền thống
của dân tộc ta mỗi khi tết đến xuân về.
“Thịt mỡ, dưa hành…. xanh”
- Thực trạng: Hình ảnh ông đồ với bút nghiên và giấy mực, chăm chút và gửi hồn cho từng nét
chữ trên phố đông người qua lại như biểu tượng cho một dân tộc hiếu học, đề cao con chữ. Thế
nhưng, nét văn hóa ấy dần bị đổi thay theo năm tháng, các thầy đồ ngày cằng vắng bóng trong
những ngày tết Nguyên đán.
- Nguyên nhân là bởi sự hấp dẫn của những văn hóa du nhập từ nước ngoài hay những trò chơi
điện tử, mạng xã hội.
+ hội nhập về văn hóa là điều không tránh khỏi và góp phần làm đa dạng nền văn hóa của đất
nước. Nhưng “hòa nhập mà không hòa tan” là điều chúng ta cần hướng đến. Học hỏi để làm đa
dạng, giàu có nền văn hóa đất nước là điều cần thiết nhưng bảo tồn và phát huy truyền thống
vẫn cần được chú trọng..
- Biện pháp:
việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống là nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi người trẻ chúng
ta hiện nay.
Việc tiếp thu có chọn lọc văn hóa ngoại quốc là điều rất cần thiết.
- Liên hệ:
Thanks
you
 








Các ý kiến mới nhất