Bài 5: Những nẻo đường xứ sở - Viết: Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đới Thị Nga
Ngày gửi: 08h:05' 12-07-2023
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 242
Nguồn:
Người gửi: Đới Thị Nga
Ngày gửi: 08h:05' 12-07-2023
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 242
Số lượt thích:
0 người
NHẮC LẠI LÍ THUYẾT
I. Yêu cầu đối với một bài văn tả cảnh sinh hoạt.
1. Thuyết
minh là gì?
Thuyết minh là phương thức giới thiệu những tri thức khách quan,
xác thực và hữu ích về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,... của các
hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội.
2. Yêu cầu đối với bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện
- Xác định rõ người tường thuật tham gia hay chứng kiến sự kiện và sử dụng ngôi tường
thuật phù hợp.
- Giới thiệu được sự kiện cần thuật lại, nêu được bối cảnh (không gian và thời gian).
- Thuật lại được diễn biến chính, sắp xếp các sự việc theo một trình tự hợp lí.
- Tập trung vào một số chi tiết tiêu biểu, hấp dẫn, thu hút được sự chú ý của người đọc.
- Nêu được cảm nghĩ, ý kiến của người viết về sự kiện.
II. Thực hành viết theo các bước làm viết .
Bước 1.Trước khi viết
a. Lựa chọn sự kiện:
- Sự kiện mà em được tham gia, chứng kiến, hoặc được tìm hiểu qua các phương tiện
thông tin.
- Sự kiện đó em có hứng thú, hoặc đã để lại dấu ấn trong em.
- Sự kiện thuận lợi cho em tham gia, chứng kiến, hoặc tìm hiểu.
b. Thu thập dữ liệu về sự kiện:
- Quan sát trực tiếp, chọn lọc, ghi chép kiến thức về sự kiện.
- Sưu tầm kiến thức từ sách, báo, mạng...
Bước 2.Tìm ý, lập dàn ý
a. Tìm ý (điền phiếu tìm ý)
+ Thời gian, địa điểm diễn ra sự kiện
+ Hoạt động chính ( trình tự, kết quả của hoạt động)
+Ý nghĩa của sự kiện
b. Lập dàn ý
- Mở bài: Giới thiệu sự kiện (không gian, thời gian, mục đích tổ chức sự kiện)
- Thân bài: Tóm tắt diễn biến sự kiện theo trình tự thời gian.
+ Nhân vật tham gia sự kiện
+ Các hoạt động chính của sự kiện; đặc điểm, diễn biến của từng hoạt động.
+ Hoạt động để lại ấn tượng sâu sắc nhất.
- Kết bài: Nêu ý nghĩa của sự kiện và cảm nghĩ của người viết
Bước 3: Kiểm tra và chỉnh sửa: (tự đánh giá đoạn văn theo bảng dưới)
- Tự chỉnh sửa bằng cách bổ sung những chỗ còn thiếu hoặc chưa đúng.
- Tự đánh giá và rút kinh nghiệm
Công cụ rubric đánh giá kĩ năng viết:
Các phần kiểm tra
Yêu cầu
Gợi ý chỉnh sửa
Người thuyết minh
- Là ai? (được tham gia trực tiếp hay chứng kiến,
hoặc được tìm hiểu qua các phương tiện thông tin)
- Chọn ngôi tường thuật phù hợp
- Tên sự kiện, thời gian, địa điểm, mục đích.
- Không khí chung của sự kiện
- Diễn biến chính của sự kiện
+ Có những hoạt động nào?
+ Hoạt động nào hấp dẫn nhất?
+ Các hình ảnh, hoạt động cần chân thực khách
quan.
+ Sắp xếp theo một trình tự hợp lí chưa?
- Cảm nghĩ, đánh giá, bộc lộ cảm xúc về sự kiện
- Nếu chưa đúng yêu cầu
thì chỉnh lại.
Mở bài
Thân bài
Kết bài
Cách thức trình bày - Bố cục, chính tả, diễn đạt
- Nếu thiếu thì bổ sung
- Kiểm tra lại từng ý,
chưa chuẩn cần bổ sung,
điều chỉnh.
- Nếu thiếu thì bổ sung
- Nếu mắc lỗi thì sửa lại
Đánh giá bằng Rubric
Bài viết thuyết minh Nội dung bài thuyết
thuật lại một sự kiện minh còn sơ sài;
(10 điểm)
mắc một số lỗi
chính tả
(5- 6 điểm)
Nội dung bài
thuyết minhvề sự
kiện tương đối
chi tiết ; không
mắc lỗi chính tả.
(7 - 8 điểm)
Nội dung bài thuyết
minh về sự kiện chi
tiết, diễn đạt sáng
tạo, không mắc lỗi
chính tả.
(9 - 10 điểm)
III. Thực hành
Đề bài 1: *Tiến hành thảo luận nhóm nhỏ theo kĩ thuật Think- Piar- Share(10- 12 phút)
B1: Think (Nghĩ): HS suy nghĩ ðộc lập về vấn đề
được nêu ra; tự hình thành nên ý tưởng của mình.
B2: Pair (Bắt cặp): HS được ghép cặp với nhau để thảo
luận về những ý tưởng vừa có. GV có thể yêu cầu HS
thảo luận theo cặp cùng bàn.
B3: Share (Chia sẻ): HS chia sẻ ý tưởng vừa thảo luận
với nhóm lớn hơn hoặc chia sẻ trước lớp.
Đề bài 1: Em hãy viết bài văn thuyết minh thuật lại một lễ hội ở quê hương em.
a. Bước 1: Chuẩn bị:
- Chọn sự kiện để thuật lại: Thuật lại lễ hội đền Trần ở Nam Định.
- Thu thập thông tin về sự kiện từ các nguồn khác nhau như sách báo, internet: tìm hiểu
về nguồn gốc lễ hội đền Trầnl; thời gian và địa điểm tổ chức; các nghi lễ; ý nghĩa của lễ
hội,..
- Dự kiến cách trình bày bài viết: theo cách truyền thống
- Dự kiến bố cục của bài (theo cách truyền thống)
b. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
*Tìm ý
Dựa vào bước 1, hãy tìm hiểu:
• Lễ hội đền Trần (Nam Định) được tổ chức trong các ngày từ ngày 15 đến ngày 20 tháng
tám âm lịch hàng năm tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
nhằm tri ân công đức của 14 vị vua Trần.
• Diễn biến của lễ hội: bao gồm nghi thức lễ và phần hội:
+ Tại đền Cố Trạch, thế hệ lão ông, lão bà khoác lên mình áo dài khăn xếp cùng dân làng
tề tựu đủ để tham dự lễ tế thánh rồi dự lễ khai ấn.
+ Đúng giờ Tý (khoảng 23 giờ - 1 giờ đêm), buổi lễ bắt đầu. Đoàn người rước hòm ấn tiến
sang đền Thiên Trường. Họ dâng hương tế cáo trời đất tại bàn thờ Trung thiên, rồi rước ấn
vào nội cung, đặt ấn tại ban công đồng làm lễ xin khai ấn.
+ Người bồi tế đặt 1 loại giấy dân gian của Việt Nam lên trước tế chính. Giấy sau khi xin
dấu son được chia phát cho những người có mặt trong buổi lễ, đem về treo trong nhà để
lấy may và xua đuổi rủi ro, tà ám.
- Sáng ngày 15 tháng Giêng, dân làng sẽ tổ chức rước nước.
+ Dân làng xin hương rồi nghênh kiệu, làm lễ, tiến ra bờ sông Hồng
+ Tại bến Hữu Bị dừng kiệu, chèo thuyền ra giữa sông, múc nước trong vào bình sẵn rồi
rước theo đường cũ về đền. Nước trong bình sau đó sẽ được múc ra các bát đặt lên bàn
thờ để tiến hành tế nước. Tế xong thì đưa cho con cháu họ Trần uống ghi nhớ cội nguồn
tổ tiên.
+ Đến ngày 16 buổi sáng, lễ tế cá sẽ diễn ra tại đền Thiên Trường.
+ Bên cạnh đó cũng có rất nhiều trò chơi dân gian đặc sắc. Không khí náo nhiệt, vui tươi,
ngập tràn màu sắc và hơi thở truyền thống dân tộc.
- Ý nghĩa của lễ hội và trách nhiệm của người dân.
c. Bước 3: Viết bài : HS dựa vào dàn ý để viết.
Bài viết tham khảo:
ĐẶC SẮC LỄ HỘI KHAI ẤN ĐỀN TRẦN
Lễ khai ấn đầu xuân tại Đền Trần, phường Lộc Vượng (TP Nam Định) từ lâu đã trở thành
một sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng, tâm linh thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, du khách
trong và ngoài nước tham dự.
Từ bao đời nay, lễ hội đã trở thành một điểm tựa tinh thần, ghi lại những nét đẹp của
phong tục truyền thống Việt Nam. Mỗi miền quê lại có những lễ hội mang đặc trưng
riêng của vùng quê đó. Em rất tự hào vì quê hương Nam Định của em cũng có một lễ
hội đặc sắc được người dân cả nước biết đến, đó là lễ hội khai ấn đền Trần - một trong
những lễ hội nổi tiếng của đất Nam Định nói riêng và cả nước nói chung.
Lễ khai ấn đền Trần đầu tiên được tổ chức lần đầu vào năm 1239. Đây là nghi lễ
triều đại nhà Trần thực hiện tế tiên tổ. Những năm chống giặc Nguyên Mông, nhà Trần
thực hiện kế sách "vườn không nhà trống" nên rút toàn bộ quân về Thiên Trường, lễ
khai ấn bị gián đoạn tới năm 1262 mới được mở lại.
Lễ khai ấn được cố định tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm, lúc 11 giờ đêm
ngày 14 đến 1 giờ sáng ngày 15. Tại đền Cố Trạch, thế hệ lão ông, lão bà khoác lên mình
áo dài khăn xếp cùng dân làng tề tựu đông đủ để tham dự lễ tế thánh rồi dự lễ khai ấn.
Đến đúng giờ Tý (khoảng 23 giờ - 1 giờ đêm), tiếng pháo vang lên báo hiệu buổi lễ bắt
đầu. Một cụ già cao tuổi sẽ đứng lên thay mắt dân làng làm lễ, xin rước ấn lên kiệu.
Đoàn người rước hòm ấn theo nhịp trống chiêng cùng đèn nến sáng lung linh tiến sang
đền Thiên Trường tiếp tục làm lễ. Trước tiên là lễ dâng hương lên bàn thờ Trung Thiên,
sau đó rước ấn và làm lễ xin khai ấn. Người bồi tế đặt 1 loại giấy dân gian của Việt Nam
lên trước tế chính, chiêng trống nổi lên. Chủ tế trịnh trọng đóng ấn mực đỏ vào tờ giấy,
cạnh đó ghi rõ ngày, tháng, năm, viết làm sao tính đúng đến cuối phải là chữ sinh. Giấy
có dấu son được chia phát cho những người có mặt trong buổi lễ, đem về treo trong nhà
để lấy may và xua đuổi rủi ro, tà ám.
Sang tới sáng ngày 15 tháng Giêng, dân làng sẽ tổ chức rước nước. Trước khi bắt đầu,
người tế chính vào lễ xin 1 nén hương ở bát hương tổ và 14 nén hương ở các bát hương
Hoàng đế. Sau đó cắm vào bát nhang công đồng trên kiệu 8 chân. Cả đoàn rước lễ phục
trang nghiêm, nghênh kiệu ra cổng đền, rồi dừng lại làm lễ tế trời đất sau đó mới tiếp tục ra
bến sông Hồng.
Tại bến Hữu Bị cách đền khoảng 3km, kiệu dừng lại. Người dân gióng trống khua
thuyền đã trang trí cờ hoa ra giữa sông, người tế chính múc nước trong vào bình sẵn. Khi
nước đầy bình thì được rước kiệu về theo đường cũ. Nước trong bình sẽ được cho vào các
bát và đặt lên bàn thờ làm lễ tế nước. Tế xong thì đưa cho con cháu họ Trần uống ghi nhớ
cội nguồn tổ tiên. Đến ngày 16 buổi sáng, lễ tế cá sẽ diễn ra tại đền Thiên Trường. Cá quả,
cá chép ứng với hai vị tổ họ Trần là Trần Kinh và Trần Lý được đựng trong thúng sơn đỏ.
Làm lễ tế xong thì rước thả ra sông Hồng. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều trò chơi dân gian
đặc sắc như chọi gà, đấu vật, múa lân, chơi cờ thẻ, đi cầu kiều, hát văn,...Không khí náo
nhiệt, vui tươi, ngập tràn màu sắc và hơi thở truyền thống dân tộc.
Cũng giống như những lễ hội khác của dân tộc, lễ hội đền Trần không chỉ mang
giá trị vật thể mà còn có giá trị tinh thần vô cùng sâu sắc. Lễ hội là dịp con cháu khắp
mọi miền hội tụ về để thể hiện lòng biết ơn đối với các bậc đế vương xa xưa, thể hiện
truyền thống yêu nước và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân ta. Hiện nay, lễ
hội khai ấn đền Trần còn trở thành một nét đẹp văn hóa độc đáo thu hút du khách trong
và ngoài nước. Mỗi năm vào đầu xuân, đền Trần đón tiếp hàng nghìn du khách thập
phương về dự đêm khai ấn, bày tỏ lòng thành kính biết ơn và cầu mong những điều tốt
đẹp.
Lễ hội khai ấn đền Trần sẽ mãi là niềm tự hào của mỗi người con Nam Định quê
em và trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam. Mỗi người cần có ý thức và trách nhiệm
bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của lễ hội trong cuộc sống hiện đại ngày nay.
Đề bài 2: Em hãy viết bài thuyết minh thuật lại một sự kiện lớn xảy ra ở trường học
của em.
a. Bước 1: Chuẩn bị:
- Chọn sự kiện để thuật lại: ngày kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
- Thu thập thông tin về sự kiện từ các nguồn khác nhau như sách báo, internet,...:
- Dự kiến cách trình bày bài viết: theo cách truyền thống kết hợp với hình ảnh minh hoạ.
- Dự kiến bố cục của bài (theo cách truyền thống).
b. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
- Tìm ý
+ Giới thiệu sự ra đời của ngày lễ như thế nào?
+ Những hoạt động diễn ra trong ngày lễ?
+ Ý nghĩa ngày lễ?
- Tìm thêm các hình ảnh minh hoạ.
c. Bước 3: Viết bài : HS dựa vào dàn ý để viết.
Bài viết tham khảo:
NGÀY HIẾN CHƯƠNG NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11
Ngày Nhà giáo Việt Nam (tên đầy đủ là Ngày Hiến chương Nhà giáo Việt Nam) là
một ngày lễ kỷ niệm quan trọng được tổ chức vào ngày 20/11 hàng năm để tri ân các
thầy cô và những người hoạt động trong ngành giáo dục.
Từ xưa đến nay, bất kể trong thời kỳ nào, nghề dạy học luôn được coi là nghề cao quý
và được xã hội tôn trọng và tôn vinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh câu nói: “Nhiệm vụ thầy giáo
rất vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục… Không có giáo dục thì
không nói gì đến kinh tế, văn hóa”. Tuy sự cống hiến của thầy giáo là rất thầm lặng nhưng
rất mực vẻ vang: “Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương,
song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh”. Do đó, cả nước dành riêng
một ngày 20/11 hằng năm để tri ân các thầy cô giáo và những người đang ngày đêm cống
hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà.
Lịch sử của ngày nhà giáo Việt Nam bắt đầu từ một tổ chức quốc tế của các nhà giáo
dục tiến bộ thành lập ở Pari (Pháp) vào hồi tháng 7 năm 1946 có tên là F.I.S.E (Fédertion
International Syndicale des Enseignants - Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục). .
Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công
đoàn giáo dục đã ra bản “Hiến chương các nhà giáo” gồm 15 chương quy định một số
điều đối với các nhà giáo, đặc biệt nêu cao vị trí nghề dạy học và những người dạy học.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Công đoàn Giáo dục
Việt Nam đã liên hệ với FISE với mục đích tranh thủ các diễn đàn quốc tế, tố cáo âm mưu
tội ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng như đối với giáo viên và học
sinh.
Đồng thời, giới thiệu những thành tích của nền giáo dục cách mạng, tranh thủ sự đồng
tình ủng hộ của toàn thể giáo viên trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của
nhân dân ta.
Lần đầu tiên ngày "Quốc tế Hiến chương các nhà giáo" được tổ chức trên toàn miền
Bắc nước ta vào ngày 20/11/1958. Những năm sau đó, khi đất nước hoàn toàn độc lập,
ngày lễ này đã được tổ chức trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Vào ngày 28/09/1982, ngày
20/11 đã chính thức được đưa vào quyết định để trở thành ngày Hiến chương nhà giáo
Việt Nam.
Như trở thành thông lệ, vào ngày 20/11 hằng năm, tất cả các trường học trong cả
nước lại sôi động với những phong trào thi đua, các hoạt động giảng dạy tốt để chào
mừng ngày nhà giáo Việt Nam. Ngày 20/11 là dịp để các thế hệ học trò bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc với những người thầy, để mọi ngành, mọi nghề và toàn xã hội chia sẻ niềm
vui, tri ân với những người đã góp bao công sức và tâm huyết cho sự nghiệp trồng
người cao cả, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.Đây cũng là dịp để
các thế hệ học trò tri ân tới những thầy cô dạy dỗ chúng ta nên ngườivới các hoạt động
như thi văn nghệ, thi báo tường, thi thi cắm hoa, tổ chức mít tinh,... và nhiều hoạt động
có ý nghĩa khác. Và vào những ngày này tất cả các thế hệ học trò, cũng như những
ngành nghề khác trong xã hội đều giành thời gian để chia sẻ và tri ân tới những người
thầy, cô từng ngày âm thầm lặng lẽ cống hiến hết cuộc đời mình cho sự nghiệp trồng
người của đất nước.
“Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương,
song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh”
(Chủ tịch Hồ Chí Minh)
Ngày lễ nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 là một ngày có ý nghĩa không chỉ với thầy cô
mà còn với mỗi người học sinh thể hiện tấm lòng của mình đến các thầy cô. Món quà
đẹp đẽ nhất, ý nghĩa nhất để gửi đến những thầy cô của mình không chỉ là những thứ
vật chất mà là sự cố gắng, tiến bộ, kết quả học tập thật tốt của mỗi người học sinh gửi
gắm đến thầy cô giáo của mình, để không phụ công lao dạy dỗ của cá thầy cô.
ÔN TẬP NÓI VÀ NGHE:
KỂ LẠI MỘT TRUYỀN THUYẾT
NHẮC LẠI LÍ THUYẾT
1. Chuẩn bị bài nói
Bước 1: Xác định đề tài, người nghe, mục đích, không gian và thời gia nói (trình bày).
- Mục đích: kể lại một truyền thuyết, giúp người hiểu được cốt truyện và ý nghĩa của câu
chuyện.
- Người nghe: thầy cô, bạn bè, người thân...
- Chuẩn bị nội dung nói:
+ Chọn truyền thuyết mà em yêu thích, nắm vững các sự việc.
+ Ngôi kể: thứ ba
+ Tóm tắt câu chuyện:
+ Xác định từ ngữ then chốt, giọng kể thích hợp
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý.
+ Truyền thuyết kể về chuyện gì?
+ Truyện có những sự kiện và nhân vật chính nào?
+ Diễn biến của câu chuyện (mở đầu, phát triển, kết thúc) ra sao?
+ Có thể thêm, bớt những chỉ tiết, hình ảnh,... của truyện này như thế nào?
+ Truyện gợi cho em những suy nghĩ, cảm xúc gì?
- Lập dàn ý bằng cách dựa vào các ý đã tìm được, sắp xếp lại theo ba phần lớn của bài
văn, gồm:
+ Mở bài: Giới thiệu truyện truyền thuyết tên truyện, lí do kể.
+ Thân bài: Giới thiệu nhân vật, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện. Trình bày sự việc đã xảy
ra trong câu chuyện theo trình tự thời gian.
+ Kết bài: Nêu cảm nghĩ về truyện vừa kể.
Bước 3: Luyện tập và trình bày.
- Dựa vào dàn ý và thực hiện việc kể lại truyện trước tổ hoặc lớp. (có thể luyện tập kể
trước gương khi ở nhà).
- Chú ý bảo đảm nội dung và cách kể để câu chuyện trở nên hấp dẫn.
- Có thể sử dụng thêm tranh ảnh, đạo cụ…kết hợp với ngôn ngữ hình thể để bài nói thêm
sinh động và hấp dẫn hơn.
Bước 4: Trao đổi, đánh giá.
- Mình nói (trình bày) cho người khác nghe thì tiếp thu những góp ý từ phía người nghe
để tự rút kinh nghiệm.
- Nếu trong vai trò người nghe, hãy đưa ra những ưu điểm trong cách trình bày và chỉ ra
những hạn chế cần khắc phục.
- Sử dụng bảng đánh giá để tự đánh giá và điều chỉnh bài nói của mình
* Bảng tự kiểm tra kĩ năng nói:
Nội dung kiểm tra
- Em tâm đắc với điều gì trong phần nói của mình?
Đạt/
chưa đạt
- Em muốn trao đổi, bảo lưu hay tiếp thu những ý kiến góp ý của
các bạn và thầy cô?
- Em muốn cung cấp thêm thông tin về câu chuyện không?
- Em có muốn nêu thêm nhận xét hay cảm nhận về câu chuyện?
* Bảng tự kiểm tra kĩ năng nghe:
Nội dung kiểm tra
Đạt/
chưa đạt
- Câu chuyện bạn kể có đầy đủ không
- Câu chuyện bạn kể có hấp dẫn không?
- Em đã biết câu chuyện bạn kể chưa?
- Nếu đã biết em có bổ sung gì không?
- Em có góp ý gì để bài kể của bạn hấp dẫn hơn?
THỰC HÀNH NÓI VÀ NGHE
Đề 01: Kể lại truyền thuyết “Thánh Gióng” bằng lời văn của em.
Hướng dẫn chung:
*Với người nói:
- HS dựa vào dàn ý phần Viết để lập dàn ý cho bài nói.
- Bám sát sự kiện chính nhưng có thể sáng tạo thêm những chi tiết hình ảnh, cách kết
thúc truyện
- Trong quá trình trình bày bài nói, cần chú ý cách kể, giọng kể, kết hợp với ngôn ngữ
hình thể ( cử chỉ, ánh mắt, nét mặt,...) phù hợp với nội dung câu chuyện. Người kể có thể
sử dụng các thiết bị hỗ trợ khác (tranh, ảnh, video,...)
*Với người nghe:
- Chú ý lắng nghe bạn trình bày để nắm và hiểu được nội dung chính của câu chuyện mà
bạn kể; có đưa ra được những nhận xét được về ưu điểm, yếu tố sáng tạo trong lời kể của
bạn hay điểm hạn chế của bạn.
- Cần có thái độ chú ý tôn trọng, nghiêm túc, đúng mực, động viên khi nghe bạn kể
chuyện.
BÁO CÁO SẢN PHẨM :
Đề 01: Kể lại truyền thuyết “Thánh Gióng” bằng lời văn của em.
(GV đã hướng dẫn quy trình nói ở tiết buổi sáng và giao HS về nhà hoàn thiện).
- GV gọi một số HS trình bày sản phẩm bài nói trước lớp.
- Nhận xét, đánh giá, cho điểm.
Bài nói tham khảo:
Đề 01: Kể lại truyền thuyết “Thánh Gióng” bằng lời văn của em.
Tôi tên là......................, học lớp......., trường.................
(1)Chào hỏi và giới thiệu lí do chọn kể câu chuyện Thánh Gióng:
Xin chào các bạn!
Tuổi thơ tôi lớn lên êm đềm bên những câu chuyện dân gian mà ông nội vẫn kể mỗi
tối. Qua những câu chuyện ông kể, tôi như đắm chìm vào thế giới đầy mơ và mộng của
cha ông, hiểu thêm về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Một trong những câu
chuyện mà tôi ấn tượng nhất đó là truyền thuyết Thánh Gióng. Thật đặc biệt khi câu
chuyện này cũng được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 6. Câu chuyện đã kể về người
anh hùng đánh giặc giữ nước.
(2) Kể lại nội dung câu chuyện
(Kể bằng giọng vừa phải, rõ ràng, chú ý phân biệt lời nói của các nhân vật với lời của
người kể chuyện)
Câu chuyện ấy xảy ra từ đời Hùng Vương thứ sáu. Ở làng Gióng có hai ông bà già nổi
tiếng là sống phúc đức. Hai ông bà rất mong có một đứa con. Thế rồi, một hôm, bà ra
đồng trông thấy một vết chân rất to, bà ngạc nhiên kêu lớn: “Chao ôi! Bàn chân ai mà to
thế này!”. Tò mò nên bà đưa chân vào ướm thử , không ngờ về nhà bà mang thai. Điều kì
lạ là mãi 12 tháng sau bà mới sinh được một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng
mừng rỡ vô cùng. Nhưng kì lạ hơn nữa là đứa trẻ đã lên ba tuổi mà vẫn không biết nói,
biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.
Bấy giờ giặc Ân thế mạnh như chẻ tre tràn vào xâm lược nước ta. Chúng đi đến đâu là
đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy. Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất
trận, nhưng đánh không nổi lại chúng. Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp
nơi trong nước tìm tướng tài để giúp vua cứu nước. Đứa bé nghe tiếng rao của sứ giả,
bỗng cựa mình và cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo:
“Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt,
ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Ai nấy đứng nghe khôn xiết lạ lùng. Cho là thần nhân xuất
hiện, sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra
lệnh cho thợ rèn góp tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của chú
bé.
(Kể bằng giọng rõ ràng, xen lẫn ngạc nhiên, thích thú)
Càng lạ hơn nữa, kể từ hôm gặp sứ giả, chú bé bỗng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn
không biết no, áo vừa mới mặc đã chật. Hai vợ chồng làm lụng cực nhọc , chạy ngược
chậy xuôi mà không đủ nuôi con bèn cậy nhờ hàng xóm. Bà con ai cũng mong cậu đi
giết giặc cứu nước nên chẳng nề hà gì, cùng góp gạo nuôi cậu bé. Khi ăn đến mười
nong cơm, ba nong cà, mỗi lần ăn xong một nong lại vươn vai và vụt lớn lên như thổi.
Vải vóc do dân làng mang đến rất nhiều để may quần áo mà vẫn không đủ
(Kể bằng giọng rõ ràng, sôi nổi, xen lẫn niềm tự hào)
Ngày ấy, giặc vừa đến sát chân núi Trâu thì sứ giả cũng kịp mang vũ khí tới. Gióng bèn
vươn vai đứng dậy, lập tức trở thành một tráng sỹ, khoác áo giáp, cầm roi sắt, chào mẹ và
dân làng rồi nhảy lên ngựa. Cả người cả ngựa lao vun vút ra trận. Trên chiến trường,
Gióng tung hoành ngang dọc, tả đột hữu xung, giặc chết dưới tay như ngả rạ. Bỗng gậy
sắt gãy, Gióng nhanh như chớp nhổ tre bên đường làm vũ khí mới. Giặc sợ hãi chạy trốn,
dẫm đạp lên nhau mà chết. Dẹp giặc xong, cậu Gióng không quay về kinh để nhận công
ban thưởng mà thúc ngựa đến núi Sóc, bỏ lại áo giáp sắt, một người một ngựa bay thẳng
về trời.
(Kể bằng giọng trầm lắng)
Đất nước đã sạch bóng thù. Nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Gióng
ngay tại quê nhà, phong Gióng làm Phù Đổng Thiên Vương, phong mẹ Gióng là Thánh
Mẫu Bảo Vương. Nhiều đời sau người ta còn kể, những nơi ngựa của Giong đi qua để lại
trăm ao hồ. Rặng tre bị ngựa phun lửa cháy trở nên vàng óng, còn có một làng bị ngựa
phun lửa cháy được gọi là làng Cháy.
(3) Kết thúc bài nói
Các bạn ạ!
Truyền thuyết “Thánh Gióng” cùng hình tượng người anh hùng làng Gióng đã in
đậm dấu ấn trong đời sống tinh thần người Việt từ bao đời nay. Câu chuyện đã khơi
dậy trong tôi lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước. Tôi tự nhủ
sẽ học tập, rèn luyện tốt để mai sau có thể tô điểm cho đất nước ngày thêm đẹp tươi.
Cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe câu chuyện tôi kể. Rất mong các bạn
đóng góp ý kiến để bài nói của tôi thêm hoàn thiện.
I. Yêu cầu đối với một bài văn tả cảnh sinh hoạt.
1. Thuyết
minh là gì?
Thuyết minh là phương thức giới thiệu những tri thức khách quan,
xác thực và hữu ích về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,... của các
hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội.
2. Yêu cầu đối với bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện
- Xác định rõ người tường thuật tham gia hay chứng kiến sự kiện và sử dụng ngôi tường
thuật phù hợp.
- Giới thiệu được sự kiện cần thuật lại, nêu được bối cảnh (không gian và thời gian).
- Thuật lại được diễn biến chính, sắp xếp các sự việc theo một trình tự hợp lí.
- Tập trung vào một số chi tiết tiêu biểu, hấp dẫn, thu hút được sự chú ý của người đọc.
- Nêu được cảm nghĩ, ý kiến của người viết về sự kiện.
II. Thực hành viết theo các bước làm viết .
Bước 1.Trước khi viết
a. Lựa chọn sự kiện:
- Sự kiện mà em được tham gia, chứng kiến, hoặc được tìm hiểu qua các phương tiện
thông tin.
- Sự kiện đó em có hứng thú, hoặc đã để lại dấu ấn trong em.
- Sự kiện thuận lợi cho em tham gia, chứng kiến, hoặc tìm hiểu.
b. Thu thập dữ liệu về sự kiện:
- Quan sát trực tiếp, chọn lọc, ghi chép kiến thức về sự kiện.
- Sưu tầm kiến thức từ sách, báo, mạng...
Bước 2.Tìm ý, lập dàn ý
a. Tìm ý (điền phiếu tìm ý)
+ Thời gian, địa điểm diễn ra sự kiện
+ Hoạt động chính ( trình tự, kết quả của hoạt động)
+Ý nghĩa của sự kiện
b. Lập dàn ý
- Mở bài: Giới thiệu sự kiện (không gian, thời gian, mục đích tổ chức sự kiện)
- Thân bài: Tóm tắt diễn biến sự kiện theo trình tự thời gian.
+ Nhân vật tham gia sự kiện
+ Các hoạt động chính của sự kiện; đặc điểm, diễn biến của từng hoạt động.
+ Hoạt động để lại ấn tượng sâu sắc nhất.
- Kết bài: Nêu ý nghĩa của sự kiện và cảm nghĩ của người viết
Bước 3: Kiểm tra và chỉnh sửa: (tự đánh giá đoạn văn theo bảng dưới)
- Tự chỉnh sửa bằng cách bổ sung những chỗ còn thiếu hoặc chưa đúng.
- Tự đánh giá và rút kinh nghiệm
Công cụ rubric đánh giá kĩ năng viết:
Các phần kiểm tra
Yêu cầu
Gợi ý chỉnh sửa
Người thuyết minh
- Là ai? (được tham gia trực tiếp hay chứng kiến,
hoặc được tìm hiểu qua các phương tiện thông tin)
- Chọn ngôi tường thuật phù hợp
- Tên sự kiện, thời gian, địa điểm, mục đích.
- Không khí chung của sự kiện
- Diễn biến chính của sự kiện
+ Có những hoạt động nào?
+ Hoạt động nào hấp dẫn nhất?
+ Các hình ảnh, hoạt động cần chân thực khách
quan.
+ Sắp xếp theo một trình tự hợp lí chưa?
- Cảm nghĩ, đánh giá, bộc lộ cảm xúc về sự kiện
- Nếu chưa đúng yêu cầu
thì chỉnh lại.
Mở bài
Thân bài
Kết bài
Cách thức trình bày - Bố cục, chính tả, diễn đạt
- Nếu thiếu thì bổ sung
- Kiểm tra lại từng ý,
chưa chuẩn cần bổ sung,
điều chỉnh.
- Nếu thiếu thì bổ sung
- Nếu mắc lỗi thì sửa lại
Đánh giá bằng Rubric
Bài viết thuyết minh Nội dung bài thuyết
thuật lại một sự kiện minh còn sơ sài;
(10 điểm)
mắc một số lỗi
chính tả
(5- 6 điểm)
Nội dung bài
thuyết minhvề sự
kiện tương đối
chi tiết ; không
mắc lỗi chính tả.
(7 - 8 điểm)
Nội dung bài thuyết
minh về sự kiện chi
tiết, diễn đạt sáng
tạo, không mắc lỗi
chính tả.
(9 - 10 điểm)
III. Thực hành
Đề bài 1: *Tiến hành thảo luận nhóm nhỏ theo kĩ thuật Think- Piar- Share(10- 12 phút)
B1: Think (Nghĩ): HS suy nghĩ ðộc lập về vấn đề
được nêu ra; tự hình thành nên ý tưởng của mình.
B2: Pair (Bắt cặp): HS được ghép cặp với nhau để thảo
luận về những ý tưởng vừa có. GV có thể yêu cầu HS
thảo luận theo cặp cùng bàn.
B3: Share (Chia sẻ): HS chia sẻ ý tưởng vừa thảo luận
với nhóm lớn hơn hoặc chia sẻ trước lớp.
Đề bài 1: Em hãy viết bài văn thuyết minh thuật lại một lễ hội ở quê hương em.
a. Bước 1: Chuẩn bị:
- Chọn sự kiện để thuật lại: Thuật lại lễ hội đền Trần ở Nam Định.
- Thu thập thông tin về sự kiện từ các nguồn khác nhau như sách báo, internet: tìm hiểu
về nguồn gốc lễ hội đền Trầnl; thời gian và địa điểm tổ chức; các nghi lễ; ý nghĩa của lễ
hội,..
- Dự kiến cách trình bày bài viết: theo cách truyền thống
- Dự kiến bố cục của bài (theo cách truyền thống)
b. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
*Tìm ý
Dựa vào bước 1, hãy tìm hiểu:
• Lễ hội đền Trần (Nam Định) được tổ chức trong các ngày từ ngày 15 đến ngày 20 tháng
tám âm lịch hàng năm tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
nhằm tri ân công đức của 14 vị vua Trần.
• Diễn biến của lễ hội: bao gồm nghi thức lễ và phần hội:
+ Tại đền Cố Trạch, thế hệ lão ông, lão bà khoác lên mình áo dài khăn xếp cùng dân làng
tề tựu đủ để tham dự lễ tế thánh rồi dự lễ khai ấn.
+ Đúng giờ Tý (khoảng 23 giờ - 1 giờ đêm), buổi lễ bắt đầu. Đoàn người rước hòm ấn tiến
sang đền Thiên Trường. Họ dâng hương tế cáo trời đất tại bàn thờ Trung thiên, rồi rước ấn
vào nội cung, đặt ấn tại ban công đồng làm lễ xin khai ấn.
+ Người bồi tế đặt 1 loại giấy dân gian của Việt Nam lên trước tế chính. Giấy sau khi xin
dấu son được chia phát cho những người có mặt trong buổi lễ, đem về treo trong nhà để
lấy may và xua đuổi rủi ro, tà ám.
- Sáng ngày 15 tháng Giêng, dân làng sẽ tổ chức rước nước.
+ Dân làng xin hương rồi nghênh kiệu, làm lễ, tiến ra bờ sông Hồng
+ Tại bến Hữu Bị dừng kiệu, chèo thuyền ra giữa sông, múc nước trong vào bình sẵn rồi
rước theo đường cũ về đền. Nước trong bình sau đó sẽ được múc ra các bát đặt lên bàn
thờ để tiến hành tế nước. Tế xong thì đưa cho con cháu họ Trần uống ghi nhớ cội nguồn
tổ tiên.
+ Đến ngày 16 buổi sáng, lễ tế cá sẽ diễn ra tại đền Thiên Trường.
+ Bên cạnh đó cũng có rất nhiều trò chơi dân gian đặc sắc. Không khí náo nhiệt, vui tươi,
ngập tràn màu sắc và hơi thở truyền thống dân tộc.
- Ý nghĩa của lễ hội và trách nhiệm của người dân.
c. Bước 3: Viết bài : HS dựa vào dàn ý để viết.
Bài viết tham khảo:
ĐẶC SẮC LỄ HỘI KHAI ẤN ĐỀN TRẦN
Lễ khai ấn đầu xuân tại Đền Trần, phường Lộc Vượng (TP Nam Định) từ lâu đã trở thành
một sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng, tâm linh thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, du khách
trong và ngoài nước tham dự.
Từ bao đời nay, lễ hội đã trở thành một điểm tựa tinh thần, ghi lại những nét đẹp của
phong tục truyền thống Việt Nam. Mỗi miền quê lại có những lễ hội mang đặc trưng
riêng của vùng quê đó. Em rất tự hào vì quê hương Nam Định của em cũng có một lễ
hội đặc sắc được người dân cả nước biết đến, đó là lễ hội khai ấn đền Trần - một trong
những lễ hội nổi tiếng của đất Nam Định nói riêng và cả nước nói chung.
Lễ khai ấn đền Trần đầu tiên được tổ chức lần đầu vào năm 1239. Đây là nghi lễ
triều đại nhà Trần thực hiện tế tiên tổ. Những năm chống giặc Nguyên Mông, nhà Trần
thực hiện kế sách "vườn không nhà trống" nên rút toàn bộ quân về Thiên Trường, lễ
khai ấn bị gián đoạn tới năm 1262 mới được mở lại.
Lễ khai ấn được cố định tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm, lúc 11 giờ đêm
ngày 14 đến 1 giờ sáng ngày 15. Tại đền Cố Trạch, thế hệ lão ông, lão bà khoác lên mình
áo dài khăn xếp cùng dân làng tề tựu đông đủ để tham dự lễ tế thánh rồi dự lễ khai ấn.
Đến đúng giờ Tý (khoảng 23 giờ - 1 giờ đêm), tiếng pháo vang lên báo hiệu buổi lễ bắt
đầu. Một cụ già cao tuổi sẽ đứng lên thay mắt dân làng làm lễ, xin rước ấn lên kiệu.
Đoàn người rước hòm ấn theo nhịp trống chiêng cùng đèn nến sáng lung linh tiến sang
đền Thiên Trường tiếp tục làm lễ. Trước tiên là lễ dâng hương lên bàn thờ Trung Thiên,
sau đó rước ấn và làm lễ xin khai ấn. Người bồi tế đặt 1 loại giấy dân gian của Việt Nam
lên trước tế chính, chiêng trống nổi lên. Chủ tế trịnh trọng đóng ấn mực đỏ vào tờ giấy,
cạnh đó ghi rõ ngày, tháng, năm, viết làm sao tính đúng đến cuối phải là chữ sinh. Giấy
có dấu son được chia phát cho những người có mặt trong buổi lễ, đem về treo trong nhà
để lấy may và xua đuổi rủi ro, tà ám.
Sang tới sáng ngày 15 tháng Giêng, dân làng sẽ tổ chức rước nước. Trước khi bắt đầu,
người tế chính vào lễ xin 1 nén hương ở bát hương tổ và 14 nén hương ở các bát hương
Hoàng đế. Sau đó cắm vào bát nhang công đồng trên kiệu 8 chân. Cả đoàn rước lễ phục
trang nghiêm, nghênh kiệu ra cổng đền, rồi dừng lại làm lễ tế trời đất sau đó mới tiếp tục ra
bến sông Hồng.
Tại bến Hữu Bị cách đền khoảng 3km, kiệu dừng lại. Người dân gióng trống khua
thuyền đã trang trí cờ hoa ra giữa sông, người tế chính múc nước trong vào bình sẵn. Khi
nước đầy bình thì được rước kiệu về theo đường cũ. Nước trong bình sẽ được cho vào các
bát và đặt lên bàn thờ làm lễ tế nước. Tế xong thì đưa cho con cháu họ Trần uống ghi nhớ
cội nguồn tổ tiên. Đến ngày 16 buổi sáng, lễ tế cá sẽ diễn ra tại đền Thiên Trường. Cá quả,
cá chép ứng với hai vị tổ họ Trần là Trần Kinh và Trần Lý được đựng trong thúng sơn đỏ.
Làm lễ tế xong thì rước thả ra sông Hồng. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều trò chơi dân gian
đặc sắc như chọi gà, đấu vật, múa lân, chơi cờ thẻ, đi cầu kiều, hát văn,...Không khí náo
nhiệt, vui tươi, ngập tràn màu sắc và hơi thở truyền thống dân tộc.
Cũng giống như những lễ hội khác của dân tộc, lễ hội đền Trần không chỉ mang
giá trị vật thể mà còn có giá trị tinh thần vô cùng sâu sắc. Lễ hội là dịp con cháu khắp
mọi miền hội tụ về để thể hiện lòng biết ơn đối với các bậc đế vương xa xưa, thể hiện
truyền thống yêu nước và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân ta. Hiện nay, lễ
hội khai ấn đền Trần còn trở thành một nét đẹp văn hóa độc đáo thu hút du khách trong
và ngoài nước. Mỗi năm vào đầu xuân, đền Trần đón tiếp hàng nghìn du khách thập
phương về dự đêm khai ấn, bày tỏ lòng thành kính biết ơn và cầu mong những điều tốt
đẹp.
Lễ hội khai ấn đền Trần sẽ mãi là niềm tự hào của mỗi người con Nam Định quê
em và trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam. Mỗi người cần có ý thức và trách nhiệm
bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của lễ hội trong cuộc sống hiện đại ngày nay.
Đề bài 2: Em hãy viết bài thuyết minh thuật lại một sự kiện lớn xảy ra ở trường học
của em.
a. Bước 1: Chuẩn bị:
- Chọn sự kiện để thuật lại: ngày kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
- Thu thập thông tin về sự kiện từ các nguồn khác nhau như sách báo, internet,...:
- Dự kiến cách trình bày bài viết: theo cách truyền thống kết hợp với hình ảnh minh hoạ.
- Dự kiến bố cục của bài (theo cách truyền thống).
b. Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
- Tìm ý
+ Giới thiệu sự ra đời của ngày lễ như thế nào?
+ Những hoạt động diễn ra trong ngày lễ?
+ Ý nghĩa ngày lễ?
- Tìm thêm các hình ảnh minh hoạ.
c. Bước 3: Viết bài : HS dựa vào dàn ý để viết.
Bài viết tham khảo:
NGÀY HIẾN CHƯƠNG NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11
Ngày Nhà giáo Việt Nam (tên đầy đủ là Ngày Hiến chương Nhà giáo Việt Nam) là
một ngày lễ kỷ niệm quan trọng được tổ chức vào ngày 20/11 hàng năm để tri ân các
thầy cô và những người hoạt động trong ngành giáo dục.
Từ xưa đến nay, bất kể trong thời kỳ nào, nghề dạy học luôn được coi là nghề cao quý
và được xã hội tôn trọng và tôn vinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh câu nói: “Nhiệm vụ thầy giáo
rất vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục… Không có giáo dục thì
không nói gì đến kinh tế, văn hóa”. Tuy sự cống hiến của thầy giáo là rất thầm lặng nhưng
rất mực vẻ vang: “Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương,
song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh”. Do đó, cả nước dành riêng
một ngày 20/11 hằng năm để tri ân các thầy cô giáo và những người đang ngày đêm cống
hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà.
Lịch sử của ngày nhà giáo Việt Nam bắt đầu từ một tổ chức quốc tế của các nhà giáo
dục tiến bộ thành lập ở Pari (Pháp) vào hồi tháng 7 năm 1946 có tên là F.I.S.E (Fédertion
International Syndicale des Enseignants - Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục). .
Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công
đoàn giáo dục đã ra bản “Hiến chương các nhà giáo” gồm 15 chương quy định một số
điều đối với các nhà giáo, đặc biệt nêu cao vị trí nghề dạy học và những người dạy học.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Công đoàn Giáo dục
Việt Nam đã liên hệ với FISE với mục đích tranh thủ các diễn đàn quốc tế, tố cáo âm mưu
tội ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng như đối với giáo viên và học
sinh.
Đồng thời, giới thiệu những thành tích của nền giáo dục cách mạng, tranh thủ sự đồng
tình ủng hộ của toàn thể giáo viên trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của
nhân dân ta.
Lần đầu tiên ngày "Quốc tế Hiến chương các nhà giáo" được tổ chức trên toàn miền
Bắc nước ta vào ngày 20/11/1958. Những năm sau đó, khi đất nước hoàn toàn độc lập,
ngày lễ này đã được tổ chức trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Vào ngày 28/09/1982, ngày
20/11 đã chính thức được đưa vào quyết định để trở thành ngày Hiến chương nhà giáo
Việt Nam.
Như trở thành thông lệ, vào ngày 20/11 hằng năm, tất cả các trường học trong cả
nước lại sôi động với những phong trào thi đua, các hoạt động giảng dạy tốt để chào
mừng ngày nhà giáo Việt Nam. Ngày 20/11 là dịp để các thế hệ học trò bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc với những người thầy, để mọi ngành, mọi nghề và toàn xã hội chia sẻ niềm
vui, tri ân với những người đã góp bao công sức và tâm huyết cho sự nghiệp trồng
người cao cả, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.Đây cũng là dịp để
các thế hệ học trò tri ân tới những thầy cô dạy dỗ chúng ta nên ngườivới các hoạt động
như thi văn nghệ, thi báo tường, thi thi cắm hoa, tổ chức mít tinh,... và nhiều hoạt động
có ý nghĩa khác. Và vào những ngày này tất cả các thế hệ học trò, cũng như những
ngành nghề khác trong xã hội đều giành thời gian để chia sẻ và tri ân tới những người
thầy, cô từng ngày âm thầm lặng lẽ cống hiến hết cuộc đời mình cho sự nghiệp trồng
người của đất nước.
“Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương,
song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh”
(Chủ tịch Hồ Chí Minh)
Ngày lễ nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 là một ngày có ý nghĩa không chỉ với thầy cô
mà còn với mỗi người học sinh thể hiện tấm lòng của mình đến các thầy cô. Món quà
đẹp đẽ nhất, ý nghĩa nhất để gửi đến những thầy cô của mình không chỉ là những thứ
vật chất mà là sự cố gắng, tiến bộ, kết quả học tập thật tốt của mỗi người học sinh gửi
gắm đến thầy cô giáo của mình, để không phụ công lao dạy dỗ của cá thầy cô.
ÔN TẬP NÓI VÀ NGHE:
KỂ LẠI MỘT TRUYỀN THUYẾT
NHẮC LẠI LÍ THUYẾT
1. Chuẩn bị bài nói
Bước 1: Xác định đề tài, người nghe, mục đích, không gian và thời gia nói (trình bày).
- Mục đích: kể lại một truyền thuyết, giúp người hiểu được cốt truyện và ý nghĩa của câu
chuyện.
- Người nghe: thầy cô, bạn bè, người thân...
- Chuẩn bị nội dung nói:
+ Chọn truyền thuyết mà em yêu thích, nắm vững các sự việc.
+ Ngôi kể: thứ ba
+ Tóm tắt câu chuyện:
+ Xác định từ ngữ then chốt, giọng kể thích hợp
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý.
+ Truyền thuyết kể về chuyện gì?
+ Truyện có những sự kiện và nhân vật chính nào?
+ Diễn biến của câu chuyện (mở đầu, phát triển, kết thúc) ra sao?
+ Có thể thêm, bớt những chỉ tiết, hình ảnh,... của truyện này như thế nào?
+ Truyện gợi cho em những suy nghĩ, cảm xúc gì?
- Lập dàn ý bằng cách dựa vào các ý đã tìm được, sắp xếp lại theo ba phần lớn của bài
văn, gồm:
+ Mở bài: Giới thiệu truyện truyền thuyết tên truyện, lí do kể.
+ Thân bài: Giới thiệu nhân vật, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện. Trình bày sự việc đã xảy
ra trong câu chuyện theo trình tự thời gian.
+ Kết bài: Nêu cảm nghĩ về truyện vừa kể.
Bước 3: Luyện tập và trình bày.
- Dựa vào dàn ý và thực hiện việc kể lại truyện trước tổ hoặc lớp. (có thể luyện tập kể
trước gương khi ở nhà).
- Chú ý bảo đảm nội dung và cách kể để câu chuyện trở nên hấp dẫn.
- Có thể sử dụng thêm tranh ảnh, đạo cụ…kết hợp với ngôn ngữ hình thể để bài nói thêm
sinh động và hấp dẫn hơn.
Bước 4: Trao đổi, đánh giá.
- Mình nói (trình bày) cho người khác nghe thì tiếp thu những góp ý từ phía người nghe
để tự rút kinh nghiệm.
- Nếu trong vai trò người nghe, hãy đưa ra những ưu điểm trong cách trình bày và chỉ ra
những hạn chế cần khắc phục.
- Sử dụng bảng đánh giá để tự đánh giá và điều chỉnh bài nói của mình
* Bảng tự kiểm tra kĩ năng nói:
Nội dung kiểm tra
- Em tâm đắc với điều gì trong phần nói của mình?
Đạt/
chưa đạt
- Em muốn trao đổi, bảo lưu hay tiếp thu những ý kiến góp ý của
các bạn và thầy cô?
- Em muốn cung cấp thêm thông tin về câu chuyện không?
- Em có muốn nêu thêm nhận xét hay cảm nhận về câu chuyện?
* Bảng tự kiểm tra kĩ năng nghe:
Nội dung kiểm tra
Đạt/
chưa đạt
- Câu chuyện bạn kể có đầy đủ không
- Câu chuyện bạn kể có hấp dẫn không?
- Em đã biết câu chuyện bạn kể chưa?
- Nếu đã biết em có bổ sung gì không?
- Em có góp ý gì để bài kể của bạn hấp dẫn hơn?
THỰC HÀNH NÓI VÀ NGHE
Đề 01: Kể lại truyền thuyết “Thánh Gióng” bằng lời văn của em.
Hướng dẫn chung:
*Với người nói:
- HS dựa vào dàn ý phần Viết để lập dàn ý cho bài nói.
- Bám sát sự kiện chính nhưng có thể sáng tạo thêm những chi tiết hình ảnh, cách kết
thúc truyện
- Trong quá trình trình bày bài nói, cần chú ý cách kể, giọng kể, kết hợp với ngôn ngữ
hình thể ( cử chỉ, ánh mắt, nét mặt,...) phù hợp với nội dung câu chuyện. Người kể có thể
sử dụng các thiết bị hỗ trợ khác (tranh, ảnh, video,...)
*Với người nghe:
- Chú ý lắng nghe bạn trình bày để nắm và hiểu được nội dung chính của câu chuyện mà
bạn kể; có đưa ra được những nhận xét được về ưu điểm, yếu tố sáng tạo trong lời kể của
bạn hay điểm hạn chế của bạn.
- Cần có thái độ chú ý tôn trọng, nghiêm túc, đúng mực, động viên khi nghe bạn kể
chuyện.
BÁO CÁO SẢN PHẨM :
Đề 01: Kể lại truyền thuyết “Thánh Gióng” bằng lời văn của em.
(GV đã hướng dẫn quy trình nói ở tiết buổi sáng và giao HS về nhà hoàn thiện).
- GV gọi một số HS trình bày sản phẩm bài nói trước lớp.
- Nhận xét, đánh giá, cho điểm.
Bài nói tham khảo:
Đề 01: Kể lại truyền thuyết “Thánh Gióng” bằng lời văn của em.
Tôi tên là......................, học lớp......., trường.................
(1)Chào hỏi và giới thiệu lí do chọn kể câu chuyện Thánh Gióng:
Xin chào các bạn!
Tuổi thơ tôi lớn lên êm đềm bên những câu chuyện dân gian mà ông nội vẫn kể mỗi
tối. Qua những câu chuyện ông kể, tôi như đắm chìm vào thế giới đầy mơ và mộng của
cha ông, hiểu thêm về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Một trong những câu
chuyện mà tôi ấn tượng nhất đó là truyền thuyết Thánh Gióng. Thật đặc biệt khi câu
chuyện này cũng được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 6. Câu chuyện đã kể về người
anh hùng đánh giặc giữ nước.
(2) Kể lại nội dung câu chuyện
(Kể bằng giọng vừa phải, rõ ràng, chú ý phân biệt lời nói của các nhân vật với lời của
người kể chuyện)
Câu chuyện ấy xảy ra từ đời Hùng Vương thứ sáu. Ở làng Gióng có hai ông bà già nổi
tiếng là sống phúc đức. Hai ông bà rất mong có một đứa con. Thế rồi, một hôm, bà ra
đồng trông thấy một vết chân rất to, bà ngạc nhiên kêu lớn: “Chao ôi! Bàn chân ai mà to
thế này!”. Tò mò nên bà đưa chân vào ướm thử , không ngờ về nhà bà mang thai. Điều kì
lạ là mãi 12 tháng sau bà mới sinh được một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng
mừng rỡ vô cùng. Nhưng kì lạ hơn nữa là đứa trẻ đã lên ba tuổi mà vẫn không biết nói,
biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.
Bấy giờ giặc Ân thế mạnh như chẻ tre tràn vào xâm lược nước ta. Chúng đi đến đâu là
đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy. Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất
trận, nhưng đánh không nổi lại chúng. Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp
nơi trong nước tìm tướng tài để giúp vua cứu nước. Đứa bé nghe tiếng rao của sứ giả,
bỗng cựa mình và cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo:
“Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt,
ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Ai nấy đứng nghe khôn xiết lạ lùng. Cho là thần nhân xuất
hiện, sứ giả lập tức phi ngựa về tâu với nhà vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra
lệnh cho thợ rèn góp tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của chú
bé.
(Kể bằng giọng rõ ràng, xen lẫn ngạc nhiên, thích thú)
Càng lạ hơn nữa, kể từ hôm gặp sứ giả, chú bé bỗng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn
không biết no, áo vừa mới mặc đã chật. Hai vợ chồng làm lụng cực nhọc , chạy ngược
chậy xuôi mà không đủ nuôi con bèn cậy nhờ hàng xóm. Bà con ai cũng mong cậu đi
giết giặc cứu nước nên chẳng nề hà gì, cùng góp gạo nuôi cậu bé. Khi ăn đến mười
nong cơm, ba nong cà, mỗi lần ăn xong một nong lại vươn vai và vụt lớn lên như thổi.
Vải vóc do dân làng mang đến rất nhiều để may quần áo mà vẫn không đủ
(Kể bằng giọng rõ ràng, sôi nổi, xen lẫn niềm tự hào)
Ngày ấy, giặc vừa đến sát chân núi Trâu thì sứ giả cũng kịp mang vũ khí tới. Gióng bèn
vươn vai đứng dậy, lập tức trở thành một tráng sỹ, khoác áo giáp, cầm roi sắt, chào mẹ và
dân làng rồi nhảy lên ngựa. Cả người cả ngựa lao vun vút ra trận. Trên chiến trường,
Gióng tung hoành ngang dọc, tả đột hữu xung, giặc chết dưới tay như ngả rạ. Bỗng gậy
sắt gãy, Gióng nhanh như chớp nhổ tre bên đường làm vũ khí mới. Giặc sợ hãi chạy trốn,
dẫm đạp lên nhau mà chết. Dẹp giặc xong, cậu Gióng không quay về kinh để nhận công
ban thưởng mà thúc ngựa đến núi Sóc, bỏ lại áo giáp sắt, một người một ngựa bay thẳng
về trời.
(Kể bằng giọng trầm lắng)
Đất nước đã sạch bóng thù. Nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Gióng
ngay tại quê nhà, phong Gióng làm Phù Đổng Thiên Vương, phong mẹ Gióng là Thánh
Mẫu Bảo Vương. Nhiều đời sau người ta còn kể, những nơi ngựa của Giong đi qua để lại
trăm ao hồ. Rặng tre bị ngựa phun lửa cháy trở nên vàng óng, còn có một làng bị ngựa
phun lửa cháy được gọi là làng Cháy.
(3) Kết thúc bài nói
Các bạn ạ!
Truyền thuyết “Thánh Gióng” cùng hình tượng người anh hùng làng Gióng đã in
đậm dấu ấn trong đời sống tinh thần người Việt từ bao đời nay. Câu chuyện đã khơi
dậy trong tôi lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước. Tôi tự nhủ
sẽ học tập, rèn luyện tốt để mai sau có thể tô điểm cho đất nước ngày thêm đẹp tươi.
Cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe câu chuyện tôi kể. Rất mong các bạn
đóng góp ý kiến để bài nói của tôi thêm hoàn thiện.
 







Các ý kiến mới nhất