Bài 26. Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Quang Nghia
Ngày gửi: 15h:10' 31-08-2023
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Phan Quang Nghia
Ngày gửi: 15h:10' 31-08-2023
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
TIẾT 107,108: TÌM HIỂU YẾU TỐ BIỂU CẢM
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
I. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận.
1.Văn bản “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
Ngôi nhà ở làng Vạn Phúc ( Hà Nội) nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” Ngày 19/12/1946
LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
Hỡi đồng bào toàn quốc !
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta
càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp
nước ta lần nữa !
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào !
Chúng ta phải đứng lên !
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo,
đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân
Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm,
không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng ra sức chống thực
dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân !
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất
nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng
lợi nhất định về dân tộc ta !
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm !
Kháng chiến thắng lợi muôn năm !
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh
TIẾT 107,108: TÌM HIỂU YẾU TỐ BIỂU CẢM
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
I. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận.
1.Văn bản “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
+ Từ ngữ biểu lộ tình cảm mãnh liệt: muốn hòa bình, phải
nhân nhượng, càng lấn tới, quyết tâm cướp, nhất định…
+ Câu cảm thán:
- Hỡi đồng bào toàn quốc!
- Hỡi đồng bào!
- Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!...
Gây ấn tượng, tác động mạnh mẽ tới tình cảm người đọc
(người nghe).
Bảng so sánh:
Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến
Hịch tướng sĩ
Từ ngữ biểu lộ Hỡi, muốn, phải nhân
tình cảm
nhượng, nhất định…
Quên ăn, ruột đau
như cắt, nước mắt
đầm đìa…
Câu văn có
tính biểu cảm
Thật khác nào như
đem thịt mà nuôi
hổ đói!...
Hỡi đồng bào toàn quốc!
Hỡi anh em binh sĩ, tự
vệ, dân quân!...
LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
Hỡi đồng bào toàn quốc !
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân
nhượng. Nhưng chúng tacàng nhân nhượng, thực
dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp
nước ta lần nữa !
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định
không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào !
Chúng ta phải đứng lên !
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ,
không chia tôn giáo,đảng phái, dân tộc. Hễ là người
Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để
cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm
dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng,
gậy gộc. Ai cũng ra sức chống thực dân Pháp cứu
nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân !
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt máu
cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến , nhưng với một lòng
kiên quyết hi sinh, thắnglợi nhất định về dân tộc ta !
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm !
Kháng chiến thắng lợi muôn năm !
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh
Hai văn bản Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến của Hồ Chí
Minh và Hịch tướng sĩ của Trần
QuốcTuấn vẫn được coi là
những văn bản nghị luận.
- Các tác phẩm ấy viết ra
không nhằm mục đích biểu
cảm mà nhằm mục đích nghị
luận (nêu quan điểm, ý kiến
để bàn luận phải trái, đúng
sai, nên suy nghĩ và nên sống
thế nào).
- Ở những văn bản trên, biểu
cảm không thể đóng vai trò
chủ đạo mà chỉ là một yếu tố
phụ trợ cho quá trình nghị
luận mà thôi.
Theo dõi bảng đối chiếu:
1
Thấy sứ giặc đi lại ngoài đường, sỉ
mắng triều đình, bắt nạt tể phụ.
Lúc bấy giờ các ngươi sẽ bị bắt.
2
Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang
ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ
mắng triều đình, đem thân dê chó mà
bắt nạt tể phụ.
Lúc bấy giờ ta và các ngươi sẽ bị bắt,
đau xót biết chừng nào!
Chúng ta sẵn sàng hi sinh tất cả, chứ
không thể mất nước, không thể làm
nô lệ.
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả,
nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ.
Chúng ta phải đứng lên.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
TIẾT 107,108: TÌM HIỂU YẾU TỐ BIỂU CẢM
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
I. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận.
1.Văn bản “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
+ Từ ngữ biểu lộ tình cảm mãnh liệt: muốn hòa bình, phải
nhân nhượng, càng lấn tới, quyết tâm cướp, nhất định…
+ Câu cảm thán:
- Hỡi đồng bào toàn quốc!
- Hỡi đồng bào!
- Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!...
Gây ấn tượng, tác động mạnh mẽ tới tình cảm người đọc
(người nghe).
2. Ghi nhớ ý 1 sgk/97
Thông qua việc tìm hiểu các văn bản như Hịch tướng sĩ và Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến, em hãy cho biết: Làm thế nào để phát huy hết tác dụng
của yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận ?
THẢO LUẬN
* Gợi ý:
1. Người làm văn chỉ cần suy nghĩ về luận điểm và lập luận hay còn
phải thật sự xúc động trước từng điều mình đang nói tới?
2. Chỉ có rung cảm không thôi đã đủ chưa? Phải
chăng chỉ cần có lòng yêu nước và căm thù giặc nồng cháy là có thể
dễ dàng tìm ra những cách nói như: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất
cả…” hay “uốn lưỡi cú diều…” Để viết được những câu như thế,
người viết cần phải có những phẩm chất gì khác nữa?
3. Có bạn cho rằng: Càng dùng nhiều từ ngữ biểu cảm, càng đặt nhiều
câu cảm thán thì giá trị biểu cảm trong văn nghị luận càng tăng.
- Ý kiến đó có đúng không? Vì sao?
II. Cần phát huy hết tác dụng của yếu tố biểu cảm
trong văn nghị luận.
1.Người viết phải thực sự xúc động, có cảm xúc với
những điều mình viết.
2. Người viết phải biết diễn tả cảm xúc đó bằng những
từ ngữ, câu văn có sức truyền cảm.
3. Biểu cảm chỉ là yếu tố phụ trợ cho văn bản nghị
luận, không được phá vỡ mạch lạc nghị luận của bài
văn.
*Ghi nhớ ý 2/SGK- 97
* Lưu ý:
1. Yếu tố biểu cảm chỉ cần thiết và có giá trị khi:
- Giúp cho sự nghị luận đạt được hiệu quả thuyết phục cao.
- Không được để cho yếu tố biểu cảm tách rời khỏi quá trình
nghị luận, cản trở mạch nghị luận hay lấn át vai trò của nghị
luận.
2. Trong một bài văn nghị luận, yếu tố biểu cảm được biểu
hiện dưới các dạng sau:
- Tính khẳng định hay phủ định.
- Biểu lộ các cảm xúc như: yêu, ghét, khen, chê, căm giận,
quí mến, lo âu, tin tưởng,. . .
- Giọng văn: mạnh mẽ, đanh thép hay thiết tha, truyền cảm.
III. Luyện tập
Bài tập 2: Đoạn nghị luận.
“Tôi muốn nói với các bạn câu chuyện làm Việt luận và học Việt văn, luôn thể giãi bày hết
nỗi khổ tâm của người anh các bạn đã đeo một cái “nghiệp” vào người: “nghiệp” dạy tiếng
mẹ đẻ.
Nỗi buồn thứ nhất là thấy các bạn có quan niệm học “tủ”. Ông thầy dạy giỏi đối với các
bạn là ông thầy giảng và soạn sách đúng “tủ”.
Nói làm sao cho các bạn hiểu trong 7, 8 năm trời, nào đọc sách, nào nhận xét, xem truyện,
giảng văn…, nào tập dùng chữ, đặt câu, dàn ý, làm bài, tôi thiết tưởng với một học sinh, với
khiếu thông minh, trí nhớ trung bình, không có lí do gì phải nhấm bút trước một đề văn
trong kì thi viết.
Sự học mà đã hạ xuống là học “tủ” thì chúng tôi cũng không cần làm việc cùng các bạn
nữa. Sao không có một “hãng” nào đó in ra độ 500 bài làm sẵn để học sinh cứ việc mang về
học thuộc như con vẹt, rồi đem nguyên văn chép lại cho hội đồng chấm thi duyệt xem chép
sai hay đúng, việc gì còn phải lôi thôi bày đặt ra chương trình học tập để bắt trẻ em ngày
ngày phải đến trường?
(Theo Nghiêm Toản, Luận văn thi phạm)
2. Bài tập 2: Thảo luận theo bàn.
- Đọc đoạn văn nghị luận sau (SGK trang 97, 98) và cho biết:
Những cảm xúc gì được biểu hiện qua đoạn văn?
- Tác giả đã làm như thế nào để những đoạn văn đó không chỉ có
sức thuyết phục mà còn gợi cảm?
* Những cảm xúc biểu hiện qua đoạn văn:
- Nỗi buồn của tác giả trước tình trạng “học vẹt”, “học tủ” của học
sinh.
- Những dằn vặt và sự khổ tâm của một nhà giáo trước một thực tế
đáng buồn diễn ra trong đời sống giáo dục nước nhà trước đây.
* Tình cảm ấy thể hiện:
- Từ ngữ bộc lộ cảm xúc: nỗi khổ tâm, nói làm sao. . .
- Câu văn thể hiện nỗi buồn, thái độ bất bình: “Sự học mà đã hạ xuống là học
“tủ” thì chúng tôi cũng không còn cần làm việc cùng các bạn nữa”.
- Câu văn mang giọng điệu mỉa mai: “Sao không có một “hãng” nào đó…”
III. Luyện tập
Bài tập 2:
* Những cảm xúc biểu hiện qua đoạn văn:
- Nỗi buồn của tác giả trước tình trạng “học vẹt”, “học tủ” của học
sinh.
- Những dằn vặt và sự khổ tâm của một nhà giáo trước một thực tế
đáng buồn diễn ra trong đời sống giáo dục nước nhà trước đây.
* Tình cảm ấy thể hiện:
- Từ ngữ bộc lộ cảm xúc: nỗi khổ tâm, nói làm sao. . .
- Câu văn thể hiện nỗi buồn, thái độ bất bình: “Sự học mà đã hạ xuống là học
“tủ” thì chúng tôi cũng không còn cần làm việc cùng các bạn nữa”.
- Câu văn mang giọng điệu mỉa mai: “Sao không có một “hãng” nào đó…”
3. Bài tập 3: Viết một đoạn văn trình bày luận điểm: “Chúng ta
không nên học vẹt và học tủ” sao cho đạn văn ấy vừa có lí lẽ chặt chẽ,
lại vừa có sức truyền cảm?
Gợi ý:
- Về lí lẽ, dẫn chứng: làm rõ tác hại của lối học này và đưa ra dẫn
chứng cụ thể.
- Yếu tố biểu cảm: bày tỏ sự đáng tiếc cho lối học vô bổ, không có tác
dụng mở mang trí tuệ, kiến thức (lối học vẹt) và lối học cầu may (lối
học tủ).
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
I. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận.
1.Văn bản “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
Ngôi nhà ở làng Vạn Phúc ( Hà Nội) nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” Ngày 19/12/1946
LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
Hỡi đồng bào toàn quốc !
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta
càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp
nước ta lần nữa !
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào !
Chúng ta phải đứng lên !
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo,
đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân
Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm,
không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng ra sức chống thực
dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân !
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất
nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng
lợi nhất định về dân tộc ta !
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm !
Kháng chiến thắng lợi muôn năm !
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh
TIẾT 107,108: TÌM HIỂU YẾU TỐ BIỂU CẢM
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
I. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận.
1.Văn bản “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
+ Từ ngữ biểu lộ tình cảm mãnh liệt: muốn hòa bình, phải
nhân nhượng, càng lấn tới, quyết tâm cướp, nhất định…
+ Câu cảm thán:
- Hỡi đồng bào toàn quốc!
- Hỡi đồng bào!
- Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!...
Gây ấn tượng, tác động mạnh mẽ tới tình cảm người đọc
(người nghe).
Bảng so sánh:
Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến
Hịch tướng sĩ
Từ ngữ biểu lộ Hỡi, muốn, phải nhân
tình cảm
nhượng, nhất định…
Quên ăn, ruột đau
như cắt, nước mắt
đầm đìa…
Câu văn có
tính biểu cảm
Thật khác nào như
đem thịt mà nuôi
hổ đói!...
Hỡi đồng bào toàn quốc!
Hỡi anh em binh sĩ, tự
vệ, dân quân!...
LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
Hỡi đồng bào toàn quốc !
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân
nhượng. Nhưng chúng tacàng nhân nhượng, thực
dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp
nước ta lần nữa !
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định
không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào !
Chúng ta phải đứng lên !
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ,
không chia tôn giáo,đảng phái, dân tộc. Hễ là người
Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để
cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm
dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng,
gậy gộc. Ai cũng ra sức chống thực dân Pháp cứu
nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân !
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt máu
cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến , nhưng với một lòng
kiên quyết hi sinh, thắnglợi nhất định về dân tộc ta !
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm !
Kháng chiến thắng lợi muôn năm !
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh
Hai văn bản Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến của Hồ Chí
Minh và Hịch tướng sĩ của Trần
QuốcTuấn vẫn được coi là
những văn bản nghị luận.
- Các tác phẩm ấy viết ra
không nhằm mục đích biểu
cảm mà nhằm mục đích nghị
luận (nêu quan điểm, ý kiến
để bàn luận phải trái, đúng
sai, nên suy nghĩ và nên sống
thế nào).
- Ở những văn bản trên, biểu
cảm không thể đóng vai trò
chủ đạo mà chỉ là một yếu tố
phụ trợ cho quá trình nghị
luận mà thôi.
Theo dõi bảng đối chiếu:
1
Thấy sứ giặc đi lại ngoài đường, sỉ
mắng triều đình, bắt nạt tể phụ.
Lúc bấy giờ các ngươi sẽ bị bắt.
2
Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang
ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ
mắng triều đình, đem thân dê chó mà
bắt nạt tể phụ.
Lúc bấy giờ ta và các ngươi sẽ bị bắt,
đau xót biết chừng nào!
Chúng ta sẵn sàng hi sinh tất cả, chứ
không thể mất nước, không thể làm
nô lệ.
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả,
nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ.
Chúng ta phải đứng lên.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
TIẾT 107,108: TÌM HIỂU YẾU TỐ BIỂU CẢM
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
I. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận.
1.Văn bản “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
+ Từ ngữ biểu lộ tình cảm mãnh liệt: muốn hòa bình, phải
nhân nhượng, càng lấn tới, quyết tâm cướp, nhất định…
+ Câu cảm thán:
- Hỡi đồng bào toàn quốc!
- Hỡi đồng bào!
- Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!...
Gây ấn tượng, tác động mạnh mẽ tới tình cảm người đọc
(người nghe).
2. Ghi nhớ ý 1 sgk/97
Thông qua việc tìm hiểu các văn bản như Hịch tướng sĩ và Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến, em hãy cho biết: Làm thế nào để phát huy hết tác dụng
của yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận ?
THẢO LUẬN
* Gợi ý:
1. Người làm văn chỉ cần suy nghĩ về luận điểm và lập luận hay còn
phải thật sự xúc động trước từng điều mình đang nói tới?
2. Chỉ có rung cảm không thôi đã đủ chưa? Phải
chăng chỉ cần có lòng yêu nước và căm thù giặc nồng cháy là có thể
dễ dàng tìm ra những cách nói như: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất
cả…” hay “uốn lưỡi cú diều…” Để viết được những câu như thế,
người viết cần phải có những phẩm chất gì khác nữa?
3. Có bạn cho rằng: Càng dùng nhiều từ ngữ biểu cảm, càng đặt nhiều
câu cảm thán thì giá trị biểu cảm trong văn nghị luận càng tăng.
- Ý kiến đó có đúng không? Vì sao?
II. Cần phát huy hết tác dụng của yếu tố biểu cảm
trong văn nghị luận.
1.Người viết phải thực sự xúc động, có cảm xúc với
những điều mình viết.
2. Người viết phải biết diễn tả cảm xúc đó bằng những
từ ngữ, câu văn có sức truyền cảm.
3. Biểu cảm chỉ là yếu tố phụ trợ cho văn bản nghị
luận, không được phá vỡ mạch lạc nghị luận của bài
văn.
*Ghi nhớ ý 2/SGK- 97
* Lưu ý:
1. Yếu tố biểu cảm chỉ cần thiết và có giá trị khi:
- Giúp cho sự nghị luận đạt được hiệu quả thuyết phục cao.
- Không được để cho yếu tố biểu cảm tách rời khỏi quá trình
nghị luận, cản trở mạch nghị luận hay lấn át vai trò của nghị
luận.
2. Trong một bài văn nghị luận, yếu tố biểu cảm được biểu
hiện dưới các dạng sau:
- Tính khẳng định hay phủ định.
- Biểu lộ các cảm xúc như: yêu, ghét, khen, chê, căm giận,
quí mến, lo âu, tin tưởng,. . .
- Giọng văn: mạnh mẽ, đanh thép hay thiết tha, truyền cảm.
III. Luyện tập
Bài tập 2: Đoạn nghị luận.
“Tôi muốn nói với các bạn câu chuyện làm Việt luận và học Việt văn, luôn thể giãi bày hết
nỗi khổ tâm của người anh các bạn đã đeo một cái “nghiệp” vào người: “nghiệp” dạy tiếng
mẹ đẻ.
Nỗi buồn thứ nhất là thấy các bạn có quan niệm học “tủ”. Ông thầy dạy giỏi đối với các
bạn là ông thầy giảng và soạn sách đúng “tủ”.
Nói làm sao cho các bạn hiểu trong 7, 8 năm trời, nào đọc sách, nào nhận xét, xem truyện,
giảng văn…, nào tập dùng chữ, đặt câu, dàn ý, làm bài, tôi thiết tưởng với một học sinh, với
khiếu thông minh, trí nhớ trung bình, không có lí do gì phải nhấm bút trước một đề văn
trong kì thi viết.
Sự học mà đã hạ xuống là học “tủ” thì chúng tôi cũng không cần làm việc cùng các bạn
nữa. Sao không có một “hãng” nào đó in ra độ 500 bài làm sẵn để học sinh cứ việc mang về
học thuộc như con vẹt, rồi đem nguyên văn chép lại cho hội đồng chấm thi duyệt xem chép
sai hay đúng, việc gì còn phải lôi thôi bày đặt ra chương trình học tập để bắt trẻ em ngày
ngày phải đến trường?
(Theo Nghiêm Toản, Luận văn thi phạm)
2. Bài tập 2: Thảo luận theo bàn.
- Đọc đoạn văn nghị luận sau (SGK trang 97, 98) và cho biết:
Những cảm xúc gì được biểu hiện qua đoạn văn?
- Tác giả đã làm như thế nào để những đoạn văn đó không chỉ có
sức thuyết phục mà còn gợi cảm?
* Những cảm xúc biểu hiện qua đoạn văn:
- Nỗi buồn của tác giả trước tình trạng “học vẹt”, “học tủ” của học
sinh.
- Những dằn vặt và sự khổ tâm của một nhà giáo trước một thực tế
đáng buồn diễn ra trong đời sống giáo dục nước nhà trước đây.
* Tình cảm ấy thể hiện:
- Từ ngữ bộc lộ cảm xúc: nỗi khổ tâm, nói làm sao. . .
- Câu văn thể hiện nỗi buồn, thái độ bất bình: “Sự học mà đã hạ xuống là học
“tủ” thì chúng tôi cũng không còn cần làm việc cùng các bạn nữa”.
- Câu văn mang giọng điệu mỉa mai: “Sao không có một “hãng” nào đó…”
III. Luyện tập
Bài tập 2:
* Những cảm xúc biểu hiện qua đoạn văn:
- Nỗi buồn của tác giả trước tình trạng “học vẹt”, “học tủ” của học
sinh.
- Những dằn vặt và sự khổ tâm của một nhà giáo trước một thực tế
đáng buồn diễn ra trong đời sống giáo dục nước nhà trước đây.
* Tình cảm ấy thể hiện:
- Từ ngữ bộc lộ cảm xúc: nỗi khổ tâm, nói làm sao. . .
- Câu văn thể hiện nỗi buồn, thái độ bất bình: “Sự học mà đã hạ xuống là học
“tủ” thì chúng tôi cũng không còn cần làm việc cùng các bạn nữa”.
- Câu văn mang giọng điệu mỉa mai: “Sao không có một “hãng” nào đó…”
3. Bài tập 3: Viết một đoạn văn trình bày luận điểm: “Chúng ta
không nên học vẹt và học tủ” sao cho đạn văn ấy vừa có lí lẽ chặt chẽ,
lại vừa có sức truyền cảm?
Gợi ý:
- Về lí lẽ, dẫn chứng: làm rõ tác hại của lối học này và đưa ra dẫn
chứng cụ thể.
- Yếu tố biểu cảm: bày tỏ sự đáng tiếc cho lối học vô bổ, không có tác
dụng mở mang trí tuệ, kiến thức (lối học vẹt) và lối học cầu may (lối
học tủ).
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Các ý kiến mới nhất