CTGD Địa phương 7

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Chiến
Ngày gửi: 19h:31' 18-09-2023
Dung lượng: 8.9 MB
Số lượt tải: 92
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Chiến
Ngày gửi: 19h:31' 18-09-2023
Dung lượng: 8.9 MB
Số lượt tải: 92
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG THCS NGUYỄN NGHIÊM
KẾ HOẠCH BÀI DẠY
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
LỚP7
CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG 7
CHỦ ĐỀ 1
( 6 TIẾT)
QUẢNG NGÃI TỪ ĐẦU THẾ KỈ X
ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XVI
Trong giai đoạn từ đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI,
vùng đất thuộc địa bàn Quảng Ngãi hiện nay có nhiều sự
thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính, từ Cổ Luỹ
Động đến châu Tư, châu Nghĩa rồi phủ Tư Nghĩa. Gắn
liền với sự đổi thay ấy là tên tuổi của các nhân vật lịch sử
như Hồ Quý Ly, vua Lê Thánh Tông, Trấn Quốc côngBùi
Tá Hán,… đã có công sáp nhập vùng đất Quảng Ngãi vào
lãnh thổ Đại Việt, thực hiện công cuộc kiến tạo làm nên
những chuyển biến về kinh tế – xã hội, từng bước ổn định
đời sống nhân dân nơi đây, tạo nền tảng cho sự phát triển
về sa
I . NỘI DUNG
1. Quá trình hình thành và phát triển vùng đất
Quảng Ngãi từ đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI
Từ đầu thế kỉ X, dưới thời vương quốc Chăm-pa cho đến
trước khi sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, vùng đất Quảng
Ngãi có tên gọi là Cổ Luỹ Động thuộc châu maravati (ngày
nay là Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi).
Thời kì này, nhiều vùng ở địa bàn Quảng Ngãi còn hoang sơ,
dân số ít, trình độ kĩ thuật còn thấp
1. Nêu hiểu biết của em về vùng đất Quảng Ngãi
trong giai đoạn từ đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ
XVI.
Hình 1.1. Di tích thành Châu Sa
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đem quân thu hồi lại
vùng đất xứ Quảng. Ông thiết lập đạo Thừa tuyên Quảng
Nam – đơn vị hành chính thứ 13 của nước Đại Việt gồm 3
phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhân. Trong đó, phủ Tư
Nghĩa (nay là tỉnh Quảng Ngãi) là sự hợp nhất của châu Tư
và châu Nghĩa. Phủ Tư Nghĩa có 3 huyện:Bình Sơn (Bình
Sơn và Sơn Tịnh ngày nay), Nghĩa Giang (Tư Nghĩa và một
phần đất huyện Nghĩa Hành ngày nay), Mộ Hoa (huyện Mộ
Đức và Đức Phổ ngày nay) .
2. Vua Lê Thánh Tông, Trấn Quốc công Bùi Tá
Hán có vai trò như thế nào đối với vùng đất
Quảng Ngãi?
Vua Lê Thánh Tông đặt lị sở của Thừa tuyên Quảng Nam ở
thành Châu Sa (hiện nay thuộc địa phận các xã Tịnh Châu,
Tịnh An, TịnhKhê, Tịnh Thiện của thành phố Quảng Ngãi).
Đồng thời, ông cho sắp đặt bộ máy cai trị chặt chẽ, giao các
tướng lĩnh trực tiếp mộ dân Thanh – Nghệ – Tĩnh
vào đây khai cơ lập nghiệp,xây dựng làng xã, khai khẩn
đất hoang, đào sông, khai kênh,... đặt cơ sở cho sự ổn định
và phát triển vùng đất này về sau. Tiêu biểu trong số đó có
ông Lê Quang Đại (Đức Nhuận – Mộ Đức) và ông Trần Văn
Đạt (Đức Hoà – Mộ Đức) là những người có nhiều đóng góp
to lớn trong công cuộc mở mang bờ cõi thời kì này
Hình 1.2. Đền thờ Trần Văn Đạt (xã Đức Hoà, huyện Mộ Đức)
Đến nửa đầu thế kỉ XVI, vùng đất xứ Quảng ngày càng thịnh vượng, đời
sống nhân dân dần ổn định hơn thông qua các chính sách của Bùi Tá
Hán – cận thần của Đại thầnNguyễn Kim, có công khôi phục triều đại
Lê Trung Hưng (1533 – 1789). Tuy nhiên, về tên gọi và địa giới hành
chính của vùng đất này vẫn giữ nguyên như thời Lê sơ
THẢO LUẬN
1. Quá trình hình
thành và phát triển
của vùng đất Quảng
Ngãi từ đầu thế kỉ X
đến nửa đầu thế kỉ
XVI trải qua những
giai đoạn nào? Nêu
nội dung chínhcủa
từng giai đoạn.
Nhóm 1,2
2. Sự kiện nào đánh
dấu bước ngoặt quan
trọng trong lịch sử
vùng đất.
Quảng Ngãi từ đầu
thế kỉ X đến nửa đầu
thế kỉ XVI? Vì sao?
Nhóm 3
3. Nêu công lao
của vua Lê Thánh
Tông đối với sự
phát triển của
vùng đất Quảng
Ngãi.
Nhóm 4
2. Công lao của Trấn Quốc công Bùi Tá Hán đối với xứ
Quảng
Hình 1.3.
Tượng Trấn Quốc công
Bùi Tá Hán
Bùi Tá Hán (1496 – 1568) sinh quán ở Châu Hoan (tỉnh Nghệ
An), nhưng vì có nhiều công lao to lớn đối với vùng đất Quảng
Ngãi nên Quốc sử quán triều Nguyễn xem ông là danh nhân tỉnh
Quảng Ngãi và công lao của ông được người dân xứ Quảng
khắp nơi khắc ghi, truyền lại.
Di tích mộ và đền thờ Bùi Tá Hán được xây dựng từ năm 1962
(thuộc tổ 10, phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi) được
Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia vào năm
1990.
Nêu hiểu biết của em về Trấn Quốc công Bùi
Tá Hán
Đầu năm 2022, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã kí
Quyết định phê duyệt dự án gần 30 tỉ đồng để trùng tu tôn tạo mộ và
đền thờ Trấn Quốc công Bùi Tá Hán.
Hình 1.4. Đền thờ Trấn Quốc công Bùi Tá Hán
(phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi)
Rừng Lăng – núi Trấn
Công (nay thuộc phường
Quảng Phú, thànhphố
Quảng Ngãi) là một trong
những địa danh liên quan
đến Trấn Quốc công Bùi Tá
Hán được nhân dân gọi tên
để tỏ lòng kính trọng ông.
Tại thành phố Quảng Ngãi
có một con đường mang
tên Bùi Tá Hán.
Hình 1.5. Núi Trấn Công nằm bên bờ sông Trà Khúc
Bùi Tá Hán được xem là người có công lớn đối với vùng
đất xứ Quảng. Năm 1545, ông được vua Lê Trang Tông
phong chức Bắc quân Đô đốc, tước Trấn Quốc công, giao
trấn nhậm vùng Quảng Nam (nay là địa phận thành phố
Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định). Ông đã có nhiều chính sách tích cực, hợp lòng dân
làm cho vùng đất Thừa tuyên Quảng Nam (trong đó có
Quảng Ngãi) ngày càng thịnh vượng,kinh tế và văn hoá
đạt nhiều thành tựu.
Kinh tế
Văn
hóa,
xã hội
• Khuyến khích sản xuất nông nghiệp, dùng hai con trâu làm sức kéo cày
ruộng, khai hoang, trồng giống lúa ngắn ngày, đo đạc ruộng đất, định mức
thuế, chú trọng thuỷ lợi, đưa người Kinh lên miền ngược để giúp đỡ trông
việc trồng lúa. Ngoài trồng cây lương thực, ông còn cho người dân và binh
lính trồng nhiều vườn cây ăn trái, khai thác lâm thổ sản,… Các nghề thủ công
như nghề rèn, nghề dệt vải, dệt chiếu,… khá phát triển.
• Lập chợ, đắp các đoạn luỹ ở miền Tây Quảng Ngãi để tạo điều kiện
phát triển giao thương giữa miền xuôi và miền ngược
• Quy dân lập ấp, ổn định đời sống người dân, thực hiện chính sách
“an dân” nhằm giữ sự giao hoà giữa người Việt và người Chăm,
người Kinh và người Thượng,…
• Sửa đổi nếp sinh hoạt và phong tục theo hướng tiến bộ; chăm lo
giáo dục, y tế,...
THẢO LUẬN
1. Trình bày những chính sách kinh tế, văn hoá và xã hội của
Trấn Quốc công Bùi Tá Hán đối với vùng đất xứ Quảng.
Những việc làm của ông có ý nghĩa như thế nào đối với
vùng đất này?
2. Nhân dân xứ Quảng đã làm gì để tỏ lòng thành kính đối
với Trấn Quốc công Bùi Tá Hán?
II.LUYỆN TẬP
1. Lập bảng thống kê các tên gọi khác nhau của vùng đất Quảng Ngãi
từ đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI (thời gian, triều đại, tên gọi).
2. Vì sao Trấn Quốc công Bùi Tá Hán là người Nghệ An nhưng được
Quốc sử quán triều Nguyễn xem là danh nhân tỉnh Quảng Ngãi?
ThờI gian
Tên gọi
Thời đại
Đầu thế kỉ X
đến năm 1402
Cổ Luỹ Động thuộc châu
Amaravati (ngày nay là Đà Nẵng, Quảng
Nam, Quảng Ngãi).
Thời vương quốc Chăm-pa
cho đến trước khi sáp
nhập vào lãnh thổ Đại Việt
Năm 1402,
Châu Tư và châu Nghĩa thuộc lộ Thăng
Hoa
Thời nhà Hồ
Năm 1471
Phủ Tư Nghĩa (nay là tỉnh Quảng Ngãi)
Thời vua Lê Thánh Tông
Bùi Tá Hán (1496 – 1568) được xem là người có công lớn đối với
vùng đất xứ Quảng. Năm 1545, ông được vua Lê Trang Tông
phong chức Bắc quân Đô đốc, tước Trấn Quốc công, giao trấn
nhậm vùng Quảng Nam (nay là địa phận thành phố Đà Nẵng và
các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định).
III.VẬN DỤNG
1. Là một người con Quảng Ngãi, em sẽ làm
gì để thể hiện tình yêu quê hương và lòng
biết ơn đối với những bậc tiền nhân đã có
công khai phá, mở mang vùng đất này?
2. Hãy sưu tầm tài liệu và viết đoạn văn ngắn
(7 – 10 câu) cảm nhận về một nhân vật lịch sử
có công khai phá, mở mang vùng đất nơi địa
phương em đang sinh sống .
KẾ HOẠCH BÀI DẠY
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
LỚP7
CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG 7
CHỦ ĐỀ 1
( 6 TIẾT)
QUẢNG NGÃI TỪ ĐẦU THẾ KỈ X
ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XVI
Trong giai đoạn từ đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI,
vùng đất thuộc địa bàn Quảng Ngãi hiện nay có nhiều sự
thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính, từ Cổ Luỹ
Động đến châu Tư, châu Nghĩa rồi phủ Tư Nghĩa. Gắn
liền với sự đổi thay ấy là tên tuổi của các nhân vật lịch sử
như Hồ Quý Ly, vua Lê Thánh Tông, Trấn Quốc côngBùi
Tá Hán,… đã có công sáp nhập vùng đất Quảng Ngãi vào
lãnh thổ Đại Việt, thực hiện công cuộc kiến tạo làm nên
những chuyển biến về kinh tế – xã hội, từng bước ổn định
đời sống nhân dân nơi đây, tạo nền tảng cho sự phát triển
về sa
I . NỘI DUNG
1. Quá trình hình thành và phát triển vùng đất
Quảng Ngãi từ đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI
Từ đầu thế kỉ X, dưới thời vương quốc Chăm-pa cho đến
trước khi sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, vùng đất Quảng
Ngãi có tên gọi là Cổ Luỹ Động thuộc châu maravati (ngày
nay là Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi).
Thời kì này, nhiều vùng ở địa bàn Quảng Ngãi còn hoang sơ,
dân số ít, trình độ kĩ thuật còn thấp
1. Nêu hiểu biết của em về vùng đất Quảng Ngãi
trong giai đoạn từ đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ
XVI.
Hình 1.1. Di tích thành Châu Sa
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đem quân thu hồi lại
vùng đất xứ Quảng. Ông thiết lập đạo Thừa tuyên Quảng
Nam – đơn vị hành chính thứ 13 của nước Đại Việt gồm 3
phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhân. Trong đó, phủ Tư
Nghĩa (nay là tỉnh Quảng Ngãi) là sự hợp nhất của châu Tư
và châu Nghĩa. Phủ Tư Nghĩa có 3 huyện:Bình Sơn (Bình
Sơn và Sơn Tịnh ngày nay), Nghĩa Giang (Tư Nghĩa và một
phần đất huyện Nghĩa Hành ngày nay), Mộ Hoa (huyện Mộ
Đức và Đức Phổ ngày nay) .
2. Vua Lê Thánh Tông, Trấn Quốc công Bùi Tá
Hán có vai trò như thế nào đối với vùng đất
Quảng Ngãi?
Vua Lê Thánh Tông đặt lị sở của Thừa tuyên Quảng Nam ở
thành Châu Sa (hiện nay thuộc địa phận các xã Tịnh Châu,
Tịnh An, TịnhKhê, Tịnh Thiện của thành phố Quảng Ngãi).
Đồng thời, ông cho sắp đặt bộ máy cai trị chặt chẽ, giao các
tướng lĩnh trực tiếp mộ dân Thanh – Nghệ – Tĩnh
vào đây khai cơ lập nghiệp,xây dựng làng xã, khai khẩn
đất hoang, đào sông, khai kênh,... đặt cơ sở cho sự ổn định
và phát triển vùng đất này về sau. Tiêu biểu trong số đó có
ông Lê Quang Đại (Đức Nhuận – Mộ Đức) và ông Trần Văn
Đạt (Đức Hoà – Mộ Đức) là những người có nhiều đóng góp
to lớn trong công cuộc mở mang bờ cõi thời kì này
Hình 1.2. Đền thờ Trần Văn Đạt (xã Đức Hoà, huyện Mộ Đức)
Đến nửa đầu thế kỉ XVI, vùng đất xứ Quảng ngày càng thịnh vượng, đời
sống nhân dân dần ổn định hơn thông qua các chính sách của Bùi Tá
Hán – cận thần của Đại thầnNguyễn Kim, có công khôi phục triều đại
Lê Trung Hưng (1533 – 1789). Tuy nhiên, về tên gọi và địa giới hành
chính của vùng đất này vẫn giữ nguyên như thời Lê sơ
THẢO LUẬN
1. Quá trình hình
thành và phát triển
của vùng đất Quảng
Ngãi từ đầu thế kỉ X
đến nửa đầu thế kỉ
XVI trải qua những
giai đoạn nào? Nêu
nội dung chínhcủa
từng giai đoạn.
Nhóm 1,2
2. Sự kiện nào đánh
dấu bước ngoặt quan
trọng trong lịch sử
vùng đất.
Quảng Ngãi từ đầu
thế kỉ X đến nửa đầu
thế kỉ XVI? Vì sao?
Nhóm 3
3. Nêu công lao
của vua Lê Thánh
Tông đối với sự
phát triển của
vùng đất Quảng
Ngãi.
Nhóm 4
2. Công lao của Trấn Quốc công Bùi Tá Hán đối với xứ
Quảng
Hình 1.3.
Tượng Trấn Quốc công
Bùi Tá Hán
Bùi Tá Hán (1496 – 1568) sinh quán ở Châu Hoan (tỉnh Nghệ
An), nhưng vì có nhiều công lao to lớn đối với vùng đất Quảng
Ngãi nên Quốc sử quán triều Nguyễn xem ông là danh nhân tỉnh
Quảng Ngãi và công lao của ông được người dân xứ Quảng
khắp nơi khắc ghi, truyền lại.
Di tích mộ và đền thờ Bùi Tá Hán được xây dựng từ năm 1962
(thuộc tổ 10, phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi) được
Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia vào năm
1990.
Nêu hiểu biết của em về Trấn Quốc công Bùi
Tá Hán
Đầu năm 2022, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã kí
Quyết định phê duyệt dự án gần 30 tỉ đồng để trùng tu tôn tạo mộ và
đền thờ Trấn Quốc công Bùi Tá Hán.
Hình 1.4. Đền thờ Trấn Quốc công Bùi Tá Hán
(phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi)
Rừng Lăng – núi Trấn
Công (nay thuộc phường
Quảng Phú, thànhphố
Quảng Ngãi) là một trong
những địa danh liên quan
đến Trấn Quốc công Bùi Tá
Hán được nhân dân gọi tên
để tỏ lòng kính trọng ông.
Tại thành phố Quảng Ngãi
có một con đường mang
tên Bùi Tá Hán.
Hình 1.5. Núi Trấn Công nằm bên bờ sông Trà Khúc
Bùi Tá Hán được xem là người có công lớn đối với vùng
đất xứ Quảng. Năm 1545, ông được vua Lê Trang Tông
phong chức Bắc quân Đô đốc, tước Trấn Quốc công, giao
trấn nhậm vùng Quảng Nam (nay là địa phận thành phố
Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định). Ông đã có nhiều chính sách tích cực, hợp lòng dân
làm cho vùng đất Thừa tuyên Quảng Nam (trong đó có
Quảng Ngãi) ngày càng thịnh vượng,kinh tế và văn hoá
đạt nhiều thành tựu.
Kinh tế
Văn
hóa,
xã hội
• Khuyến khích sản xuất nông nghiệp, dùng hai con trâu làm sức kéo cày
ruộng, khai hoang, trồng giống lúa ngắn ngày, đo đạc ruộng đất, định mức
thuế, chú trọng thuỷ lợi, đưa người Kinh lên miền ngược để giúp đỡ trông
việc trồng lúa. Ngoài trồng cây lương thực, ông còn cho người dân và binh
lính trồng nhiều vườn cây ăn trái, khai thác lâm thổ sản,… Các nghề thủ công
như nghề rèn, nghề dệt vải, dệt chiếu,… khá phát triển.
• Lập chợ, đắp các đoạn luỹ ở miền Tây Quảng Ngãi để tạo điều kiện
phát triển giao thương giữa miền xuôi và miền ngược
• Quy dân lập ấp, ổn định đời sống người dân, thực hiện chính sách
“an dân” nhằm giữ sự giao hoà giữa người Việt và người Chăm,
người Kinh và người Thượng,…
• Sửa đổi nếp sinh hoạt và phong tục theo hướng tiến bộ; chăm lo
giáo dục, y tế,...
THẢO LUẬN
1. Trình bày những chính sách kinh tế, văn hoá và xã hội của
Trấn Quốc công Bùi Tá Hán đối với vùng đất xứ Quảng.
Những việc làm của ông có ý nghĩa như thế nào đối với
vùng đất này?
2. Nhân dân xứ Quảng đã làm gì để tỏ lòng thành kính đối
với Trấn Quốc công Bùi Tá Hán?
II.LUYỆN TẬP
1. Lập bảng thống kê các tên gọi khác nhau của vùng đất Quảng Ngãi
từ đầu thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVI (thời gian, triều đại, tên gọi).
2. Vì sao Trấn Quốc công Bùi Tá Hán là người Nghệ An nhưng được
Quốc sử quán triều Nguyễn xem là danh nhân tỉnh Quảng Ngãi?
ThờI gian
Tên gọi
Thời đại
Đầu thế kỉ X
đến năm 1402
Cổ Luỹ Động thuộc châu
Amaravati (ngày nay là Đà Nẵng, Quảng
Nam, Quảng Ngãi).
Thời vương quốc Chăm-pa
cho đến trước khi sáp
nhập vào lãnh thổ Đại Việt
Năm 1402,
Châu Tư và châu Nghĩa thuộc lộ Thăng
Hoa
Thời nhà Hồ
Năm 1471
Phủ Tư Nghĩa (nay là tỉnh Quảng Ngãi)
Thời vua Lê Thánh Tông
Bùi Tá Hán (1496 – 1568) được xem là người có công lớn đối với
vùng đất xứ Quảng. Năm 1545, ông được vua Lê Trang Tông
phong chức Bắc quân Đô đốc, tước Trấn Quốc công, giao trấn
nhậm vùng Quảng Nam (nay là địa phận thành phố Đà Nẵng và
các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định).
III.VẬN DỤNG
1. Là một người con Quảng Ngãi, em sẽ làm
gì để thể hiện tình yêu quê hương và lòng
biết ơn đối với những bậc tiền nhân đã có
công khai phá, mở mang vùng đất này?
2. Hãy sưu tầm tài liệu và viết đoạn văn ngắn
(7 – 10 câu) cảm nhận về một nhân vật lịch sử
có công khai phá, mở mang vùng đất nơi địa
phương em đang sinh sống .
 








Các ý kiến mới nhất