NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: nguyễn hải huyền
Ngày gửi: 12h:39' 03-10-2023
Dung lượng: 6.4 MB
Số lượt tải: 77
Nguồn:
Người gửi: nguyễn hải huyền
Ngày gửi: 12h:39' 03-10-2023
Dung lượng: 6.4 MB
Số lượt tải: 77
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Tường Nhật Nam)
CHƯƠNG I
Lớp: THK20A – Bắc Giang
Nhóm: 2
Thành viên
của nhóm 2
Nguyễn Hải Huyền
Vương Việt Hoa
Vũ Thị Hoà
Nguyễn Thị Hợi
Giáp Thị Huệ
Bùi Minh Huệ
Nguyễn Thị Hương
Hoàng Thị Thu Hương
Ngô Thuý Huyền
Ngô Thị Huệ
Hoàng Yến Lan
CHƯƠNG I:
PHẦN
CÂU HỎI
NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC
PHẦN
BÀI TẬP
Câu 2
Câu 1
Câu 3
Phần câu hỏi
Câu 7
Câu 4
Câu 6
Câu 5
Câu 1: Âm thanh là gì? Những điều kiện để âm thanh trở thành âm thanh
ngôn ngữ?
Âm thanh là: Các dao động cơ học của các phân tử,
nguyên tử hay các hạt làm nên vật chất và lan truyền
trong vật chất như các sóng. Âm thanh, giống như
nhiều sóng, được đặc trưng bởi tần số, bước sóng,
chu kỳ, biên độ và vận tốc lan truyền.
Âm thanh tự nhiên là: những âm thanh
vốn tồn tại trong đời sống (như tiếng gió
thổi, mưa rơi, chim hót, …)
Âm thanh nhân tạo là: những âm thanh do
con người tạo ra (như tiếng trống, tiếng
còi, …)
Những điều kiện để âm thanh trở thành âm thanh ngôn ngữ: Là âm thanh nhân tạo có một loại âm thanh đặc biệt do
bộ máy phát âm của con người phát ra, được thính giác tiếp nhận và được dung trong giao tiếp.
Your Text
CÂU HỎI 2
Lấy âm thanh làm chất liệu để tạo ra ngôn ngữ có những thuận lợi và khó
khăn gì so với các tín hiệu thị giác?
Thuận lợi:
- Âm thanh ngôn ngữ loài người có tính phân tiết cao, nghĩa là
người ta có thể kết hợp một số lượng rất ít các yếu tố để mã
hóa một số lượng vô hạn các thông tin.
- Âm thanh ngôn ngữ không lệ thuộc vào ánh sáng
và vật cản: trong bóng tối, con người vẫn giao tiếp được với
nhau.
- Việc giao tiếp bằng ngữ âm không ngăn cản con người khi
lao động.
- Khi con người sử dụng bộ máy cấu âm thì đồng thời có thể
dùng tai nghe để kiểm tra âm thanh phát ra của mình và
dùng mắt theo dõi phản ứng của người nghe.
Your Text
Your Text
-
Khó khăn:
Lưu trữ không chính xác bằng chữ viết.
Đối với những người khuyết tật nghe-nói thì rất
khó để giao tiếp.
CÂU 3
Theo anh( chị ), bộ phận nào trong
bộ máy cấu ấm của con người là quan trọng nhất?
Vì sao?
- Trong bộ máy cấu âm của con người quan trọng nhất
là thanh quản.
- Vì dây thanh (thanh đới) là bộ phận quan trọng nhất mà sự dao
động của nó tạo ra tiếng thanh đầu tiên và được tăng cường qua
các khoang cộng hưởng ở phía trên theo những phương thức và
vị trí nhất định để hình thành nên âm thanh của ngôn ngữ.
CÂU 4
Vì sao sao mỗi người lại có giọng nói cá nhân riêng ?
* Mỗi người lại có giọng nói cá nhân riêng là vì những cơ sở tự nhiên của ngữ âm quyết định sự hình thành giọng nói
cá nhân
+ Độ cao: Phụ thuộc vào tần số rung động, tức là số lượng rung động xảy ra
trong một đơn vị thời gian. Số lượng đó càng nhiều (tần số càng lớn) thì âm
càng cao. Ví dụ: “ba” và :bà” khác nhau về độ cao.
- Cơ sở vật lí của ngữ
âm (âm học): Âm thanh
ngôn ngữ cũng có
những thuộc tính vật lí
đó là độ cao, độ vang,
độ dài, âm sắc
+ Độ vang: Phụ thuộc chủ yếu vào độ mạnh, tức là vào biên độ của rung động.
Biên độ càng rộng thì âm thanh càng mạnh, càng vang to.
+ Độ dài: Phụ thuộc vào thời gian lâu hay mau của âm thanh khi phát ra. Ví
dụ: “bán” và “báng” khác nhau về độ dài.
+ Âm sắc: Là sắc thái riêng của âm. Âm sắc khác nhau là do vật phát ra âm
khác nhau, phương pháp làm cho vật phát ra âm thanh khác nhau, tính chất
phức hợp của âm thanh do hiện tượng cộng hưởng gây nên. Ví dụ: “a” vang
hơn và sáng hơn so với “u” trầm hơn và tối hơn.
- Cơ sở sinh lí của ngữ
âm (cấu âm): Các cơ
quan trong cơ thể tham
gia vào quá trình phát
âm.
+ Cơ quan hô hấp: Gồm hai lá phổi nằm trong lồng ngực cung cấp không
khí cần thiết cho phát âm. Không khí ở phổi đi ra làm dây thanh rung
động, tiếp đó luồng không khí cọ xát vào các bộ phận phát âm ở khoang
miệng, khoang mũi tạo nên âm thanh.
+ Bộ máy phát âm của con người gồm có thanh hầu và dây thanh. Thanh
hầu gồm hai tổ chức cơ nằm song song ở trong thanh hầu. Với sựu điều
khiển của trung ương thần kinh, các chấn động cho phép luồng không khí
thoát ra ngoài thành những đợt đều đặn nối tiếp nhau tạo nên sóng âm.
Dây thanh dày mỏng khác nhau và tùy theo sự chấn động nhanh hay chậm
khác nhau mà cho ta những âm thanh cao, thấp khác nhau. Các bộ phận
của bộ máy phát âm chia thành hai loại: Loại hoạt động được (lưới con,
nắp họng, lưỡi, môi), loại không hoạt động được (răng, lợi, ngạc). Khoang
miệng và khoang mũi nhờ sự cộng hưởng của lưỡi và môi có thể thay đổi
thể tích bất kì lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm sắc khác nhau.
Như vậy là cơ sở vật lí (âm học) và cơ sở sinh lí (cấu âm) đã tạo ra chất âm (giọng nói) riêng của mỗi người.
Câu 5
Có người phân biệt Ngữ âm học với âm vị học. Theo quan niệm này Ngữ âm học hiểu theo nghĩa
hẹp là một bộ phận chuyên nhiên cứu mặt tự nhiên của ngữ âm còn Âm vị học chuyên nghiên cứu
mặt xã hội của ngữ âm. Anh ( chị ) hiểu thế nào về nội dung quan niệm đó?
- Ngữ âm học nghĩa hẹp áp dụng các phương pháp khoa
học tự nhiên để nghiên cứu những đặc trưng âm học của
các âm thanh thực tế và những phương thức phát ra các âm
thanh đó mà không cần biết chúng thuộc ngôn ngữ nào.
- Ví dụ:
+ Âm /a/ thì bất cứ người bình thường nào cũng có thể
phát ra từ bộ máy thanh quản.
Your Text
- Âm vị học: Nghiên cứu mặt xã hội của ngữ âm, tức là
nghiên cứu những đặc điểm sử dụng hay chức năng của
ngữ âm trong từng ngôn ngữ với những phương pháp và
khái niệm riêng của mình. Âm vị học (phonology) sẽ cho
ta biết trong một ngôn ngữ nhất định có những đơn vị ngữ
âm gì và đặc điểm hoạt động của chúng ra sao khi kết hợp
với nhau để tạo nên các cách phát âm khác nhau.
- Ví dụ:
+ Âm /a/ trong tiếng Việt được viết dưới dạng là : a
+ Âm /a/ trong tiếng Anh được viết dưới dạng là: ɑ
Còn chữ viết giống với tiếng Việt là “a” thì lại là âm /æ/
Your Text
Âm vị học và Ngữ âm học theo nghĩa hẹp không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau. Khi nghiên cứu ngữ
âm về mặt ngữ âm học, nhà nghiên cứu không tránh khỏi những giả thuyết âm vị học (thường là không tự
giác hoặc ẩn ngôn) và ngược lại, âm vị học bao giờ cũng sử dụng ngữ âm học nghĩa hẹp.
Câu 6
a) Ngữ âm và chữ viết có
những điểm giống và
khác nhau thế nào?
- Giống nhau:
+ Dùng để giao tiếp và truyền tải nội dung.
+ Đều được một cộng đồng người quy ước chung và sử dụng.
- Khác nhau:
Ngữ âm:
- Dùng âm thanh để giao tiếp.
- Bộ phận giao tiếp là bộ máy
phát âm của con người.
- Tất cả mọi người đều có thể sử
dụng ít nhất một kiểu giao tiếp
bằng ngôn ngữ âm thanh. ( trừ
một số trường hợp đặc biệt)
Chữ viết:
- Dùng các kí hiệu được quy ước
chung để giao tiếp.
- Bộ phận giao tiếp là chữ được
ghi trên sách, vở, …
- Phải học để có thể sử dụng
được, các trường hợp đặc biệt
cũng có thể sử dụng.
😉
😂
😒
😒
😭
😉
😂 😋
😒
CÂU 6: Chữ viết có vai trò như thế nào trong việc biểu đạt
ngôn ngữ?
Chữ viết là đại diện cho lời nói. Chữ viết dựa trên ấn tượng về thị giác
dùng để chỉ những tín hiệu nào liên hệ với các hình thái của ngôn ngữ. So
với lời nói thì chữ viết xuất hiện sau. Vì vậy chữ viết tất phải phụ thuộc
vào lời nói. Khi giữa lời nói và chữ viết không có sự phù hợp nữa thì phải
cải tiến chữ viết chứ không phải cố tìm cách phát âm theo chữ viết hiện
hành, bởi vì làm như vậy là "ngược", chẳng khác nào sửa đầu cho vừa mũ,
sửa chân cho vừa dép, sửa người cho vừa quần áo.
😭
😉
😂
😋
😋
😒
😭
😉
😂
😭
😉
😋
😒
Ngữ âm học có những lợi
ích gì?
Ngữ âm học cung cấp những kiến thức
cần thiết có liên quan tới các bộ môn
khác của ngành Ngôn ngữ học.
Về từ vựng, những hiểu biết Ngữ âm học
góp phần tích cực vào việc nghiên cứu các
phương thức cấu tạo từ, đặc điểm của từ
về mặt hình thức, âm thanh, đặc biệt là đối
với từ láy trong ngôn ngữ Nam Á, hoặc
đối với quy tắc biến hình của ngôn ngữ Ấn
- Âu.
CÂU7
Về cú pháp, ngữ điệu - một đơn vị ngữ âm
học - có thể giúp ta có cơ sở để phân loại
hay phân định thành phần câu, hoặc trong
âm có thể là tiêu chí để nhận diện từ loại
hay chức năng cú pháp. .
Về tu từ học, các đặc trưng của các đơn vị
ngữ âm là nền tảng của một số biện pháp
tu từ tạo nên giá trị biểu cảm, ý nghĩa hàm
ẩn của các đơn vị ngôn ngữ.
Những tri thức
về Ngữ âm học
có ý nghĩa quan
trọng như thế
nào đối với giáo
viên tiểu học?
Trong nhà trường, những tri thức về Ngữ âm
học như cách phân tích, miêu tả âm thanh,
cách cấu tạo âm tiết... có tác dụng đối với
việc dạy phát âm, dạy đọc đúng, day chính
tả.
Việc học ngoại ngữ chủ yếu là làm cho
người học nắm được cách phát âm một
cách có ý thức dựa vào so sánh cấu âm của
ngoại ngữ với tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, người
học ngoại ngữ phải có những kiến thức
vững chắc về môn học này.
Vấn đề chuẩn hóa ngữ âm, thống nhất chính tả, vấn để
xây dựng chữ viết, cải tiến chữ viết không thể nào giải
quyết đúng đắn nếu không có ý kiến chỉ đạo của các nhà
Ngữ âm học.
Những hiểu biết về Ngữ âm học còn hỗ trợ đáng kể giúp
giáo viên trong việc tìm hiểu, phân tích giá trị biểu đạt,
biểu cảm của các phương tiện ngữ âm được sử dụng
trong tác phẩm văn học.
CÂU7
Trong trường tiểu học, những tri thức về Ngữ
âm học đặc biệt quan trọng với giáo viên trong việc
dạy vần, dạy chính tả, dạy tập đọc. Những tri thức
về Ngữ âm học giúp giáo viên có cơ sở dạy trẻ phát
âm đúng, viết đúng, đọc đúng và đọc diễn cảm.
Trong sự nghiệp cải cách giáo dục hiện nay, khi mà
vai trò của giao tiếp ngày càng được đề cao, những
tri thức về Ngữ âm học chắc chắn còn mang
lại hiệu quả cao hơn trong việc dạy tiếng Việt ở tiểu
học.
Bài tập 1
c
Bài tập 3
Bài tập 2
a
d
b
h
e
g
k
i
u
o
Phần
bài
tập
BÀI TẬP 1: Bịt tai lại, phát âm /f/ thành {f,f,f, …},tương tự như vậy phát âm /v/. Lưu ý rằng, phát âm /v/, trong
tai có tiếng ù đặc do dây thanh rung động tạo nên (hoặc đặt ngón tay trỏ và ngón tay giữa lên chỗ nhô ra ở cổ, lúc
ấy sẽ cảm nhận được dây thanh đang rung, còn khi phát âm /f/ lại không có hiện tượng này). Như vậy ta có âm /v/
là hữu thanh, âm /f/ là vô thanh.
Theo cách thức trên, hãy phân biệt các âm sau đây ra hữu thanh và vô thanh:
/s, z, p, b, m, n, t, l, k/
Âm vô
thanh:
/p/, /t/, /k/, /s/
Âm hữu
thanh:
/b/, /m/,
/n/, /z/, /l/
BÀI TẬP 2
Câu hỏi
Bịt mũi phát âm /n,t/. Ở trường hợp đầu ta ra thấy tiếng vang trong
khoang mũi, trái với trường hợp sau không nhận thấy gì. Âm /n/ là âm
mũi, còn âm /t/ là âm miệng. Theo cách thức trên hãy phân biệt các âm
sau đây ra âm mũi và âm miệng /m, b, η, k, z/.
Trả lời
Khi bịt mũi phát âm âm /m, ƞ/ thấy tiếng vang trong khoang mũi vì vậy đây là các
âm mũi. Còn âm /b,k,z/ là âm miệng do không có tiếng vang trong khoang mũi.
Bài tập 3: Tìm trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học những vấn đề có liên quan đến Ngữ âm học và giải thích (có thể tìm
những vấn đề liên quan đến Ngữ âm học ở các phân môn: Học vần, Tập viết, Tập đọc, Chính tả, ...)
* Những vấn đề có liên quan đến Ngữ âm học trong sách giáo khoa
Tiếng Việt tiểu học:
- Mở rộng vốn từ, dạy cho học sinh các đọc, phát âm, viết, ý nghĩa của
nhiều từ vựng mới.
- Giáo dục các kiểu câu, cách đặt câu, các thành phần có trong câu, …
- Tu từ học xuất hiện giúp HS miêu tả, diễn đạt, biểu cảm tình cảm và cảm
xúc thông qua từ ngữ.
- Giúp HS hoàn thiện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt.
Bài
tập 3
* Tiếng Việt có các phân môn sau: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện.
Đối với các em ở lớp 1
Đối với các em ở lớp 2
- Bắt đầu từ những đơn âm, nguyên âm, dấu thanh → ghép các tiếng đơn giản ( đánh
vần và tô, đọc và viết được) vì lúc này các em mới tiếp xúc với mặt hình thức của ngữ
âm nên việc đặt câu sẽ dừng ở mức đơn giản nhất, viết về cảm xúc, biểu đạt cũng
không cần quá cầu kì, hoa mĩ. Việc luyện viết cũng dừng ở việc tô → chép → viết câu
đơn giản → chép bài thơ ngắn, câu thơ.
- Ví dụ: Bài a c lớp 1 sách cánh diều:
Yêu cầu HS nhận biết được âm và chữ cái a, c: đánh vần đúng, đọc đúng, đọc được
tiếng trong mô hình.
Nhìn tranh, ảnh minh hoạ phát âm và tự phát hiện được tiếng có âm a, c; tìm được chữ
a, c trong bộ chữ.
Viết đúng các chữ cái a, c và tiếng “ca”.
+ Việc đọc đã phát triển hơn, đánh vần bắng mắt. Trong phân môn tập đọc đã yêu cầu
cao hơn lớp 1 là phải đọc đúng, đọc rõ ràng toàn bài, ngắt nghỉ đúng. Hiểu được nội
dung của bài đọc.
+ Chính tả cũng nhiều và dài hơn nhưng vẫn là nhìn – chép.
+ Kể chuyện: Nội dung của câu chuyện sẽ dài hơn ở lớp 1, nhiều từ gợi ý và các bức
tranh cũng nhiều hơn.
+ Luyện từ và câu: Làm quen với từ mới và học các kiểu câu.
+ Tập viết: chữ viết hoa.
+ Tập làm văn: Viết được câu và đoạn văn ngắn theo yêu cầu.
Đối với các em ở lớp 3
+ Tập đọc: Phải đọc đúng, đọc rõ ràng toàn bài, ngắt nghỉ đúng. Bước đầu rèn việc
luyện đọc diễn cảm. Hiểu được nội dung bài.
+ Chính tả: Yêu cầu HS phải nghe – viết. Giúp HS ghi nhớ các cách viết các chữ.
+ Kể chuyện: Ở lớp 3 kể chuyện được dựa vào bài tập đọc đã học. HS có thể sang tạo
các từ ngữ mới vào câu chuyện không nhất thiết giống y hệt.
+ Luyện từ và câu: Tìm hiểu một số dấu câu, một số biện pháp tu từ.
+ Tập làm văn: Ứng dụng các biện pháp tu từ vào bài văn, biết thuyết trình, giới thiệu
về một vấn đề.
Đối với các em ở lớp 4
+ Tập đọc: Ngoài đọc đúng, ngắt nghỉ đúng thì cần đọc phân vai, đổi giọng, diễn cảm.
Hiểu được nội dung bài, và rút được bài học, cảm nhận sau khi học bài tập đọc.
+ Chính tả: Tiếp tục nghe – viết, một số bài nhớ - viết.
+ Kể chuyện: Ngoài những câu chuyện có sẵn, thì còn yêu cầu kể được những câu
chuyện đã nghe, đã đọc, đã chứng kiến hoặc tham gia, phát triển kĩ năng trình bày cho
HS.
+ Luyện từ và câu: Các dấu câu, thành phần có trong câu, mở rộng hiểu biết về một số
từ, học về từ loại.
+ Tập làm văn: Viết văn kể chuyện và văn tả cảnh, viết thư.
Đối với các em ở lớp 5
+ Tập đọc: Ngoài đọc đúng, ngắt nghỉ đúng thì cần đọc phân vai, đổi giọng, diễn cảm.
Hiểu được nội dung bài, và rút được bài học, cảm nhận sau khi học bài tập đọc và liên
hê bản thân.
+ Chính tả: Tiếp tục nghe – viết, một số bài nhớ - viết.
+ Kể chuyện: Ngoài những câu chuyện có sẵn, thì còn yêu cầu kể được những câu
chuyện đã nghe, đã đọc, đã chứng kiến hoặc tham gia, phát triển kĩ năng trình bày cho
HS.
+ Luyện từ và câu: Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, ôn tập các
kiến thức và mở rộng vốn từ.
+ Tập làm văn: Viết văn kể chuyện và văn tả cảnh, thuyết trình biện luận.
- Hệ thống dạy vần được xây dựng theo các nguyên tắc: các vần dễ dạy trước, khó dạy sau. Các âm và vần được
xếp từ dễ đến khó xét về mặt phát âm và chứ viết, cấu trúc bài dạy lấy việc phân tích âm tiết làm trọng tâm.
+ Phân môn Tập đọc nhấn mạnh việc đọc đúng chính âm, đúng ngữ điệu, diễn cảm.
+ Phân môn Chính tả đề cao mối quan hệ âm – chữ, dạy so sánh âm vần và thanh, dạy các quy tắc chính tả.
+ Phân môn kể chuyện đề cao việc ghi nhớ và trình bày, sắp xếp các tiếng sao cho hợp lí.
+ Phân môn Luyện từ và câu nhấn mạnh vào việc dạy cấu trúc, ngữ pháp và mở rộng hiểu biết về các tiếng, dạy
cách đặt câu, giao tiếp, các cú pháp văn bản cần thiết.
+ Phân môn Tập làm văn chú trọng việc dùng chữ viết diễn tả tình cảm, cảm nhận đối với những sự vật, hiện tượng,
con người xung quanh.
Tất cá các kĩ năng đó đều rất cần tri thức về Ngữ âm học.
BÀI TẬP CHUNG
Trình bày những nội dung ( trong phần lý thuyết nhóm anh(chị) đọc có tính vận dụng thực tiễn cao và
chỉ ra hướng vận dụng trong thực hiện dạy học ở tiểu học. Lấy ví dụ cụ thể.
* Ngữ âm học có tính vận dụng thực tiễn cao được sử dụng nhiều trong nhiều lĩnh vực khác nhau :
- Đối với y học, sử dụng những thành tựu của ngữ âm học để điều trị bệnh 'mất ngôn' hay dạy cho những người bi tật ngôn ngữ.
- Ngày nay, đối với việc phát triển của khoa học và kĩ thuật, Ngữ âm học đã góp phần rất nhiều cho việc nhận diện và tổng hợp lời
nói, chế tạo máy nói, máy phiên dịch…
- Xây dựng và rèn luyện cách phát âm chuẩn cho một ngôn ngữ - đặt nét chữ.
- Hỗ trợ giáo viên trong việc tìm hiểu, phân tích giá trị biểu đạt, biểu cảm của các phương tiện ngữ âm được sử dụng trong các
phẩm văn học.
- Trong trường tiểu học, những tri thức về ngữ âm học như cách phân tích, miêu tả âm thanh, cách cấu tạo âm tiết,… có tác dụng
quan trọng đối với giáo viên trong việc dạy tập đọc, dạy vần, dạy chính tả. Nó cũng là cơ sở dạy trẻ phát âm đúng, viết đúng, đọc
đúng và đọc diễn cảm,…
BÀI TẬP CHUNG
Trình bày những nội dung ( trong phần lý thuyết nhóm anh(chị) đọc có tính vận dụng thực tiễn cao và
chỉ ra hướng vận dụng trong thực hiện dạy học ở tiểu học. Lấy ví dụ cụ thể.
* Hướng vận dụng Ngữ âm học trong thực hiện dạy học ở tiểu học :
- Vận dụng ngữ âm học vào rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh bằng cách :
+ Giúp học sinh luyện phát âm đúng : GV phải phát âm ro ràng, tốc độ vừa phải. rèn phát âm trong tất cả các tiết học như Chính
tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…
Ví dụ trước khi cho HS viết, GV cần lưu ý học sinh phát âm các từ đặc biệt, chú ý môi và lưỡi khi phát âm
+ Giúp HS nắm vững thanh điệu đặc biệt là thanh hỏi/ngã.
- Rèn kĩ năng đoc đúng, phát âm chuẩn : Dạy học sinh phát âm dựa vào tiêu chí khu biệt nguyên âm , phụ âm. Giúp HS nắm
vững chiều hướng của lưỡi, độ mở của cửa miệng và hình dáng của môi.
Ví dụ: Ở lớp 1, HS học đánh vần bằng cách cho các chữ vào mô hình để xác định chính xác âm đầu, âm chính, âm cuối.
THANK
S!
Lớp: THK20A – Bắc Giang
Nhóm: 2
Thành viên
của nhóm 2
Nguyễn Hải Huyền
Vương Việt Hoa
Vũ Thị Hoà
Nguyễn Thị Hợi
Giáp Thị Huệ
Bùi Minh Huệ
Nguyễn Thị Hương
Hoàng Thị Thu Hương
Ngô Thuý Huyền
Ngô Thị Huệ
Hoàng Yến Lan
CHƯƠNG I:
PHẦN
CÂU HỎI
NGỮ ÂM VÀ NGỮ ÂM HỌC
PHẦN
BÀI TẬP
Câu 2
Câu 1
Câu 3
Phần câu hỏi
Câu 7
Câu 4
Câu 6
Câu 5
Câu 1: Âm thanh là gì? Những điều kiện để âm thanh trở thành âm thanh
ngôn ngữ?
Âm thanh là: Các dao động cơ học của các phân tử,
nguyên tử hay các hạt làm nên vật chất và lan truyền
trong vật chất như các sóng. Âm thanh, giống như
nhiều sóng, được đặc trưng bởi tần số, bước sóng,
chu kỳ, biên độ và vận tốc lan truyền.
Âm thanh tự nhiên là: những âm thanh
vốn tồn tại trong đời sống (như tiếng gió
thổi, mưa rơi, chim hót, …)
Âm thanh nhân tạo là: những âm thanh do
con người tạo ra (như tiếng trống, tiếng
còi, …)
Những điều kiện để âm thanh trở thành âm thanh ngôn ngữ: Là âm thanh nhân tạo có một loại âm thanh đặc biệt do
bộ máy phát âm của con người phát ra, được thính giác tiếp nhận và được dung trong giao tiếp.
Your Text
CÂU HỎI 2
Lấy âm thanh làm chất liệu để tạo ra ngôn ngữ có những thuận lợi và khó
khăn gì so với các tín hiệu thị giác?
Thuận lợi:
- Âm thanh ngôn ngữ loài người có tính phân tiết cao, nghĩa là
người ta có thể kết hợp một số lượng rất ít các yếu tố để mã
hóa một số lượng vô hạn các thông tin.
- Âm thanh ngôn ngữ không lệ thuộc vào ánh sáng
và vật cản: trong bóng tối, con người vẫn giao tiếp được với
nhau.
- Việc giao tiếp bằng ngữ âm không ngăn cản con người khi
lao động.
- Khi con người sử dụng bộ máy cấu âm thì đồng thời có thể
dùng tai nghe để kiểm tra âm thanh phát ra của mình và
dùng mắt theo dõi phản ứng của người nghe.
Your Text
Your Text
-
Khó khăn:
Lưu trữ không chính xác bằng chữ viết.
Đối với những người khuyết tật nghe-nói thì rất
khó để giao tiếp.
CÂU 3
Theo anh( chị ), bộ phận nào trong
bộ máy cấu ấm của con người là quan trọng nhất?
Vì sao?
- Trong bộ máy cấu âm của con người quan trọng nhất
là thanh quản.
- Vì dây thanh (thanh đới) là bộ phận quan trọng nhất mà sự dao
động của nó tạo ra tiếng thanh đầu tiên và được tăng cường qua
các khoang cộng hưởng ở phía trên theo những phương thức và
vị trí nhất định để hình thành nên âm thanh của ngôn ngữ.
CÂU 4
Vì sao sao mỗi người lại có giọng nói cá nhân riêng ?
* Mỗi người lại có giọng nói cá nhân riêng là vì những cơ sở tự nhiên của ngữ âm quyết định sự hình thành giọng nói
cá nhân
+ Độ cao: Phụ thuộc vào tần số rung động, tức là số lượng rung động xảy ra
trong một đơn vị thời gian. Số lượng đó càng nhiều (tần số càng lớn) thì âm
càng cao. Ví dụ: “ba” và :bà” khác nhau về độ cao.
- Cơ sở vật lí của ngữ
âm (âm học): Âm thanh
ngôn ngữ cũng có
những thuộc tính vật lí
đó là độ cao, độ vang,
độ dài, âm sắc
+ Độ vang: Phụ thuộc chủ yếu vào độ mạnh, tức là vào biên độ của rung động.
Biên độ càng rộng thì âm thanh càng mạnh, càng vang to.
+ Độ dài: Phụ thuộc vào thời gian lâu hay mau của âm thanh khi phát ra. Ví
dụ: “bán” và “báng” khác nhau về độ dài.
+ Âm sắc: Là sắc thái riêng của âm. Âm sắc khác nhau là do vật phát ra âm
khác nhau, phương pháp làm cho vật phát ra âm thanh khác nhau, tính chất
phức hợp của âm thanh do hiện tượng cộng hưởng gây nên. Ví dụ: “a” vang
hơn và sáng hơn so với “u” trầm hơn và tối hơn.
- Cơ sở sinh lí của ngữ
âm (cấu âm): Các cơ
quan trong cơ thể tham
gia vào quá trình phát
âm.
+ Cơ quan hô hấp: Gồm hai lá phổi nằm trong lồng ngực cung cấp không
khí cần thiết cho phát âm. Không khí ở phổi đi ra làm dây thanh rung
động, tiếp đó luồng không khí cọ xát vào các bộ phận phát âm ở khoang
miệng, khoang mũi tạo nên âm thanh.
+ Bộ máy phát âm của con người gồm có thanh hầu và dây thanh. Thanh
hầu gồm hai tổ chức cơ nằm song song ở trong thanh hầu. Với sựu điều
khiển của trung ương thần kinh, các chấn động cho phép luồng không khí
thoát ra ngoài thành những đợt đều đặn nối tiếp nhau tạo nên sóng âm.
Dây thanh dày mỏng khác nhau và tùy theo sự chấn động nhanh hay chậm
khác nhau mà cho ta những âm thanh cao, thấp khác nhau. Các bộ phận
của bộ máy phát âm chia thành hai loại: Loại hoạt động được (lưới con,
nắp họng, lưỡi, môi), loại không hoạt động được (răng, lợi, ngạc). Khoang
miệng và khoang mũi nhờ sự cộng hưởng của lưỡi và môi có thể thay đổi
thể tích bất kì lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm sắc khác nhau.
Như vậy là cơ sở vật lí (âm học) và cơ sở sinh lí (cấu âm) đã tạo ra chất âm (giọng nói) riêng của mỗi người.
Câu 5
Có người phân biệt Ngữ âm học với âm vị học. Theo quan niệm này Ngữ âm học hiểu theo nghĩa
hẹp là một bộ phận chuyên nhiên cứu mặt tự nhiên của ngữ âm còn Âm vị học chuyên nghiên cứu
mặt xã hội của ngữ âm. Anh ( chị ) hiểu thế nào về nội dung quan niệm đó?
- Ngữ âm học nghĩa hẹp áp dụng các phương pháp khoa
học tự nhiên để nghiên cứu những đặc trưng âm học của
các âm thanh thực tế và những phương thức phát ra các âm
thanh đó mà không cần biết chúng thuộc ngôn ngữ nào.
- Ví dụ:
+ Âm /a/ thì bất cứ người bình thường nào cũng có thể
phát ra từ bộ máy thanh quản.
Your Text
- Âm vị học: Nghiên cứu mặt xã hội của ngữ âm, tức là
nghiên cứu những đặc điểm sử dụng hay chức năng của
ngữ âm trong từng ngôn ngữ với những phương pháp và
khái niệm riêng của mình. Âm vị học (phonology) sẽ cho
ta biết trong một ngôn ngữ nhất định có những đơn vị ngữ
âm gì và đặc điểm hoạt động của chúng ra sao khi kết hợp
với nhau để tạo nên các cách phát âm khác nhau.
- Ví dụ:
+ Âm /a/ trong tiếng Việt được viết dưới dạng là : a
+ Âm /a/ trong tiếng Anh được viết dưới dạng là: ɑ
Còn chữ viết giống với tiếng Việt là “a” thì lại là âm /æ/
Your Text
Âm vị học và Ngữ âm học theo nghĩa hẹp không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau. Khi nghiên cứu ngữ
âm về mặt ngữ âm học, nhà nghiên cứu không tránh khỏi những giả thuyết âm vị học (thường là không tự
giác hoặc ẩn ngôn) và ngược lại, âm vị học bao giờ cũng sử dụng ngữ âm học nghĩa hẹp.
Câu 6
a) Ngữ âm và chữ viết có
những điểm giống và
khác nhau thế nào?
- Giống nhau:
+ Dùng để giao tiếp và truyền tải nội dung.
+ Đều được một cộng đồng người quy ước chung và sử dụng.
- Khác nhau:
Ngữ âm:
- Dùng âm thanh để giao tiếp.
- Bộ phận giao tiếp là bộ máy
phát âm của con người.
- Tất cả mọi người đều có thể sử
dụng ít nhất một kiểu giao tiếp
bằng ngôn ngữ âm thanh. ( trừ
một số trường hợp đặc biệt)
Chữ viết:
- Dùng các kí hiệu được quy ước
chung để giao tiếp.
- Bộ phận giao tiếp là chữ được
ghi trên sách, vở, …
- Phải học để có thể sử dụng
được, các trường hợp đặc biệt
cũng có thể sử dụng.
😉
😂
😒
😒
😭
😉
😂 😋
😒
CÂU 6: Chữ viết có vai trò như thế nào trong việc biểu đạt
ngôn ngữ?
Chữ viết là đại diện cho lời nói. Chữ viết dựa trên ấn tượng về thị giác
dùng để chỉ những tín hiệu nào liên hệ với các hình thái của ngôn ngữ. So
với lời nói thì chữ viết xuất hiện sau. Vì vậy chữ viết tất phải phụ thuộc
vào lời nói. Khi giữa lời nói và chữ viết không có sự phù hợp nữa thì phải
cải tiến chữ viết chứ không phải cố tìm cách phát âm theo chữ viết hiện
hành, bởi vì làm như vậy là "ngược", chẳng khác nào sửa đầu cho vừa mũ,
sửa chân cho vừa dép, sửa người cho vừa quần áo.
😭
😉
😂
😋
😋
😒
😭
😉
😂
😭
😉
😋
😒
Ngữ âm học có những lợi
ích gì?
Ngữ âm học cung cấp những kiến thức
cần thiết có liên quan tới các bộ môn
khác của ngành Ngôn ngữ học.
Về từ vựng, những hiểu biết Ngữ âm học
góp phần tích cực vào việc nghiên cứu các
phương thức cấu tạo từ, đặc điểm của từ
về mặt hình thức, âm thanh, đặc biệt là đối
với từ láy trong ngôn ngữ Nam Á, hoặc
đối với quy tắc biến hình của ngôn ngữ Ấn
- Âu.
CÂU7
Về cú pháp, ngữ điệu - một đơn vị ngữ âm
học - có thể giúp ta có cơ sở để phân loại
hay phân định thành phần câu, hoặc trong
âm có thể là tiêu chí để nhận diện từ loại
hay chức năng cú pháp. .
Về tu từ học, các đặc trưng của các đơn vị
ngữ âm là nền tảng của một số biện pháp
tu từ tạo nên giá trị biểu cảm, ý nghĩa hàm
ẩn của các đơn vị ngôn ngữ.
Những tri thức
về Ngữ âm học
có ý nghĩa quan
trọng như thế
nào đối với giáo
viên tiểu học?
Trong nhà trường, những tri thức về Ngữ âm
học như cách phân tích, miêu tả âm thanh,
cách cấu tạo âm tiết... có tác dụng đối với
việc dạy phát âm, dạy đọc đúng, day chính
tả.
Việc học ngoại ngữ chủ yếu là làm cho
người học nắm được cách phát âm một
cách có ý thức dựa vào so sánh cấu âm của
ngoại ngữ với tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, người
học ngoại ngữ phải có những kiến thức
vững chắc về môn học này.
Vấn đề chuẩn hóa ngữ âm, thống nhất chính tả, vấn để
xây dựng chữ viết, cải tiến chữ viết không thể nào giải
quyết đúng đắn nếu không có ý kiến chỉ đạo của các nhà
Ngữ âm học.
Những hiểu biết về Ngữ âm học còn hỗ trợ đáng kể giúp
giáo viên trong việc tìm hiểu, phân tích giá trị biểu đạt,
biểu cảm của các phương tiện ngữ âm được sử dụng
trong tác phẩm văn học.
CÂU7
Trong trường tiểu học, những tri thức về Ngữ
âm học đặc biệt quan trọng với giáo viên trong việc
dạy vần, dạy chính tả, dạy tập đọc. Những tri thức
về Ngữ âm học giúp giáo viên có cơ sở dạy trẻ phát
âm đúng, viết đúng, đọc đúng và đọc diễn cảm.
Trong sự nghiệp cải cách giáo dục hiện nay, khi mà
vai trò của giao tiếp ngày càng được đề cao, những
tri thức về Ngữ âm học chắc chắn còn mang
lại hiệu quả cao hơn trong việc dạy tiếng Việt ở tiểu
học.
Bài tập 1
c
Bài tập 3
Bài tập 2
a
d
b
h
e
g
k
i
u
o
Phần
bài
tập
BÀI TẬP 1: Bịt tai lại, phát âm /f/ thành {f,f,f, …},tương tự như vậy phát âm /v/. Lưu ý rằng, phát âm /v/, trong
tai có tiếng ù đặc do dây thanh rung động tạo nên (hoặc đặt ngón tay trỏ và ngón tay giữa lên chỗ nhô ra ở cổ, lúc
ấy sẽ cảm nhận được dây thanh đang rung, còn khi phát âm /f/ lại không có hiện tượng này). Như vậy ta có âm /v/
là hữu thanh, âm /f/ là vô thanh.
Theo cách thức trên, hãy phân biệt các âm sau đây ra hữu thanh và vô thanh:
/s, z, p, b, m, n, t, l, k/
Âm vô
thanh:
/p/, /t/, /k/, /s/
Âm hữu
thanh:
/b/, /m/,
/n/, /z/, /l/
BÀI TẬP 2
Câu hỏi
Bịt mũi phát âm /n,t/. Ở trường hợp đầu ta ra thấy tiếng vang trong
khoang mũi, trái với trường hợp sau không nhận thấy gì. Âm /n/ là âm
mũi, còn âm /t/ là âm miệng. Theo cách thức trên hãy phân biệt các âm
sau đây ra âm mũi và âm miệng /m, b, η, k, z/.
Trả lời
Khi bịt mũi phát âm âm /m, ƞ/ thấy tiếng vang trong khoang mũi vì vậy đây là các
âm mũi. Còn âm /b,k,z/ là âm miệng do không có tiếng vang trong khoang mũi.
Bài tập 3: Tìm trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học những vấn đề có liên quan đến Ngữ âm học và giải thích (có thể tìm
những vấn đề liên quan đến Ngữ âm học ở các phân môn: Học vần, Tập viết, Tập đọc, Chính tả, ...)
* Những vấn đề có liên quan đến Ngữ âm học trong sách giáo khoa
Tiếng Việt tiểu học:
- Mở rộng vốn từ, dạy cho học sinh các đọc, phát âm, viết, ý nghĩa của
nhiều từ vựng mới.
- Giáo dục các kiểu câu, cách đặt câu, các thành phần có trong câu, …
- Tu từ học xuất hiện giúp HS miêu tả, diễn đạt, biểu cảm tình cảm và cảm
xúc thông qua từ ngữ.
- Giúp HS hoàn thiện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt.
Bài
tập 3
* Tiếng Việt có các phân môn sau: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện.
Đối với các em ở lớp 1
Đối với các em ở lớp 2
- Bắt đầu từ những đơn âm, nguyên âm, dấu thanh → ghép các tiếng đơn giản ( đánh
vần và tô, đọc và viết được) vì lúc này các em mới tiếp xúc với mặt hình thức của ngữ
âm nên việc đặt câu sẽ dừng ở mức đơn giản nhất, viết về cảm xúc, biểu đạt cũng
không cần quá cầu kì, hoa mĩ. Việc luyện viết cũng dừng ở việc tô → chép → viết câu
đơn giản → chép bài thơ ngắn, câu thơ.
- Ví dụ: Bài a c lớp 1 sách cánh diều:
Yêu cầu HS nhận biết được âm và chữ cái a, c: đánh vần đúng, đọc đúng, đọc được
tiếng trong mô hình.
Nhìn tranh, ảnh minh hoạ phát âm và tự phát hiện được tiếng có âm a, c; tìm được chữ
a, c trong bộ chữ.
Viết đúng các chữ cái a, c và tiếng “ca”.
+ Việc đọc đã phát triển hơn, đánh vần bắng mắt. Trong phân môn tập đọc đã yêu cầu
cao hơn lớp 1 là phải đọc đúng, đọc rõ ràng toàn bài, ngắt nghỉ đúng. Hiểu được nội
dung của bài đọc.
+ Chính tả cũng nhiều và dài hơn nhưng vẫn là nhìn – chép.
+ Kể chuyện: Nội dung của câu chuyện sẽ dài hơn ở lớp 1, nhiều từ gợi ý và các bức
tranh cũng nhiều hơn.
+ Luyện từ và câu: Làm quen với từ mới và học các kiểu câu.
+ Tập viết: chữ viết hoa.
+ Tập làm văn: Viết được câu và đoạn văn ngắn theo yêu cầu.
Đối với các em ở lớp 3
+ Tập đọc: Phải đọc đúng, đọc rõ ràng toàn bài, ngắt nghỉ đúng. Bước đầu rèn việc
luyện đọc diễn cảm. Hiểu được nội dung bài.
+ Chính tả: Yêu cầu HS phải nghe – viết. Giúp HS ghi nhớ các cách viết các chữ.
+ Kể chuyện: Ở lớp 3 kể chuyện được dựa vào bài tập đọc đã học. HS có thể sang tạo
các từ ngữ mới vào câu chuyện không nhất thiết giống y hệt.
+ Luyện từ và câu: Tìm hiểu một số dấu câu, một số biện pháp tu từ.
+ Tập làm văn: Ứng dụng các biện pháp tu từ vào bài văn, biết thuyết trình, giới thiệu
về một vấn đề.
Đối với các em ở lớp 4
+ Tập đọc: Ngoài đọc đúng, ngắt nghỉ đúng thì cần đọc phân vai, đổi giọng, diễn cảm.
Hiểu được nội dung bài, và rút được bài học, cảm nhận sau khi học bài tập đọc.
+ Chính tả: Tiếp tục nghe – viết, một số bài nhớ - viết.
+ Kể chuyện: Ngoài những câu chuyện có sẵn, thì còn yêu cầu kể được những câu
chuyện đã nghe, đã đọc, đã chứng kiến hoặc tham gia, phát triển kĩ năng trình bày cho
HS.
+ Luyện từ và câu: Các dấu câu, thành phần có trong câu, mở rộng hiểu biết về một số
từ, học về từ loại.
+ Tập làm văn: Viết văn kể chuyện và văn tả cảnh, viết thư.
Đối với các em ở lớp 5
+ Tập đọc: Ngoài đọc đúng, ngắt nghỉ đúng thì cần đọc phân vai, đổi giọng, diễn cảm.
Hiểu được nội dung bài, và rút được bài học, cảm nhận sau khi học bài tập đọc và liên
hê bản thân.
+ Chính tả: Tiếp tục nghe – viết, một số bài nhớ - viết.
+ Kể chuyện: Ngoài những câu chuyện có sẵn, thì còn yêu cầu kể được những câu
chuyện đã nghe, đã đọc, đã chứng kiến hoặc tham gia, phát triển kĩ năng trình bày cho
HS.
+ Luyện từ và câu: Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, ôn tập các
kiến thức và mở rộng vốn từ.
+ Tập làm văn: Viết văn kể chuyện và văn tả cảnh, thuyết trình biện luận.
- Hệ thống dạy vần được xây dựng theo các nguyên tắc: các vần dễ dạy trước, khó dạy sau. Các âm và vần được
xếp từ dễ đến khó xét về mặt phát âm và chứ viết, cấu trúc bài dạy lấy việc phân tích âm tiết làm trọng tâm.
+ Phân môn Tập đọc nhấn mạnh việc đọc đúng chính âm, đúng ngữ điệu, diễn cảm.
+ Phân môn Chính tả đề cao mối quan hệ âm – chữ, dạy so sánh âm vần và thanh, dạy các quy tắc chính tả.
+ Phân môn kể chuyện đề cao việc ghi nhớ và trình bày, sắp xếp các tiếng sao cho hợp lí.
+ Phân môn Luyện từ và câu nhấn mạnh vào việc dạy cấu trúc, ngữ pháp và mở rộng hiểu biết về các tiếng, dạy
cách đặt câu, giao tiếp, các cú pháp văn bản cần thiết.
+ Phân môn Tập làm văn chú trọng việc dùng chữ viết diễn tả tình cảm, cảm nhận đối với những sự vật, hiện tượng,
con người xung quanh.
Tất cá các kĩ năng đó đều rất cần tri thức về Ngữ âm học.
BÀI TẬP CHUNG
Trình bày những nội dung ( trong phần lý thuyết nhóm anh(chị) đọc có tính vận dụng thực tiễn cao và
chỉ ra hướng vận dụng trong thực hiện dạy học ở tiểu học. Lấy ví dụ cụ thể.
* Ngữ âm học có tính vận dụng thực tiễn cao được sử dụng nhiều trong nhiều lĩnh vực khác nhau :
- Đối với y học, sử dụng những thành tựu của ngữ âm học để điều trị bệnh 'mất ngôn' hay dạy cho những người bi tật ngôn ngữ.
- Ngày nay, đối với việc phát triển của khoa học và kĩ thuật, Ngữ âm học đã góp phần rất nhiều cho việc nhận diện và tổng hợp lời
nói, chế tạo máy nói, máy phiên dịch…
- Xây dựng và rèn luyện cách phát âm chuẩn cho một ngôn ngữ - đặt nét chữ.
- Hỗ trợ giáo viên trong việc tìm hiểu, phân tích giá trị biểu đạt, biểu cảm của các phương tiện ngữ âm được sử dụng trong các
phẩm văn học.
- Trong trường tiểu học, những tri thức về ngữ âm học như cách phân tích, miêu tả âm thanh, cách cấu tạo âm tiết,… có tác dụng
quan trọng đối với giáo viên trong việc dạy tập đọc, dạy vần, dạy chính tả. Nó cũng là cơ sở dạy trẻ phát âm đúng, viết đúng, đọc
đúng và đọc diễn cảm,…
BÀI TẬP CHUNG
Trình bày những nội dung ( trong phần lý thuyết nhóm anh(chị) đọc có tính vận dụng thực tiễn cao và
chỉ ra hướng vận dụng trong thực hiện dạy học ở tiểu học. Lấy ví dụ cụ thể.
* Hướng vận dụng Ngữ âm học trong thực hiện dạy học ở tiểu học :
- Vận dụng ngữ âm học vào rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh bằng cách :
+ Giúp học sinh luyện phát âm đúng : GV phải phát âm ro ràng, tốc độ vừa phải. rèn phát âm trong tất cả các tiết học như Chính
tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…
Ví dụ trước khi cho HS viết, GV cần lưu ý học sinh phát âm các từ đặc biệt, chú ý môi và lưỡi khi phát âm
+ Giúp HS nắm vững thanh điệu đặc biệt là thanh hỏi/ngã.
- Rèn kĩ năng đoc đúng, phát âm chuẩn : Dạy học sinh phát âm dựa vào tiêu chí khu biệt nguyên âm , phụ âm. Giúp HS nắm
vững chiều hướng của lưỡi, độ mở của cửa miệng và hình dáng của môi.
Ví dụ: Ở lớp 1, HS học đánh vần bằng cách cho các chữ vào mô hình để xác định chính xác âm đầu, âm chính, âm cuối.
THANK
S!
 







Các ý kiến mới nhất