Bài 3: Cội nguồn yêu thương - Đọc: Quê hương (Tế Hanh).

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Hiền
Ngày gửi: 18h:05' 31-10-2023
Dung lượng: 668.2 KB
Số lượt tải: 64
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Hiền
Ngày gửi: 18h:05' 31-10-2023
Dung lượng: 668.2 KB
Số lượt tải: 64
Số lượt thích:
0 người
Văn bản 3: QUÊ
HƯƠNG
TẾ HANH
I. TÌM HIẺU CHUNG
1. Tác giả
- Tế Hanh (1921- 2009), tên khai sinh
là Trần Tế Hanh
- Quê quán: sinh ra tại một làng chài
ven biển tỉnh Quảng Ngãi
- Ông được nhà nước trao tặng Giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ
thuật năm 1996.
- Phong cách sáng tác: thơ ông chân
thực với cách diễn đạt bằng ngôn ngữ
giản dị, tự nhiên và rất giàu hình ảnh,
bình dị mà tha thiết.
- Tác phẩm chính: các tập thơ Hoa
niên (1945), Gửi miền Bắc (1955),
Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu
thương (1963).
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày
sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai
hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh
cá:
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập
đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy
ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc
trắng.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn
mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt
trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh
hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp
gió...
Dân chài lưới làn da ngăm rám
nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về
nằm
Nghe chất muối thấm dần trong
thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
Làng tôi ở vốn làm nghề chài
1. Quê hương trong tâm trí lưới:
tác giả:
Nước bao vây cách biển nửa
- Là một làng chài trên một cù ngày sông.
lao giữa sông và biển, làng chài Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai
dập dềnh sóng vỗ.
hồng,
- Với “Trời trong - gió nhẹ - sớm Dân trai tráng bơi thuyền đi
mai hồng”.
đánh cá:
=>không gian như kéo dài ra,
bầu trời như cao hơn, tràn ngập
ánh sáng.
- Bầu trời trong xanh, gió hiu hiu,
ánh nắng hồng nhẹ nhàng.
=>Báo hiệu một ngày mới lại
2. Hình ảnh con thuyền ra khơi:
- So sánh: chiếc thuyền nhẹ băng như
con tuấn mã/ cánh
thể hiện niềm vui và phấn khởi của
những người dân chài. Khí thế băng
tới vô cùng dũng mãnh của con
thuyền toát lên một sức sống tràn
trề, đầy nhiệt huyết. Vượt lên sóng.
Vượt lên gió.
- Nhân hóa, hoán dụ: Rướn thân trắng
bao la thu góp gió
-> sự mạnh mẽ vượt biển khơi của
con thuyền, cánh buồm hay cũng
chính là tâm thế của con người ra
khơi: phấn khởi mạnh mẽ
Chiếc thuyền nhẹ hăng như
con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt
trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh
hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp
gió...
3. Hình ảnh con người và thuyền
khi trở về
- với làn da ngăm rám nắng
->bút pháp tả thực-> một làn da khỏe
mạnh, không lẫn vào đâu được.
- thân hình nồng thở vị xa xăm
Hình ảnh ẩn dụ (chuyển đổi cảm
giác)+bút pháp lãng mạn->gợi cả
linh hồn và tầm vóc của con người
làng biển.
- Con thuyền nằm im trên bến đỗ
->sáng tạo nghệ thuật độc đáo->cảm
xúc bâng khuâng thương nhớ của
người con xa quê hương.
->ẩn dụ chuyển đổi cảm giác->thấy
con thuyền nằm im trên bến và cả sự
mệt mỏi của nó.
Dân chài lưới làn da ngăm rám
nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa
xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về
nằm
Nghe chất muối thấm dần trong
thớ vỏ.
4. Tình cảm của nhà thơ:
- Nỗi nhớ quê tha thiết với một tình
yêu thủy chung, gắn bó với nơi đã bao
bọc mình.
+qua màu xanh của nước
+màu bạc của cá
+ màu trắng của cánh buồm
+ con thuyền như những con tuấn mã
mạnh mẽ ra khơi…
- Câu cảm thán cuối bài: lời nói thốt ra
từ trái tim, là sự thủy chung, gắn bó
với quê hương yêu dấu.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng
nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc
buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy
ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn
quá!
HƯƠNG
TẾ HANH
I. TÌM HIẺU CHUNG
1. Tác giả
- Tế Hanh (1921- 2009), tên khai sinh
là Trần Tế Hanh
- Quê quán: sinh ra tại một làng chài
ven biển tỉnh Quảng Ngãi
- Ông được nhà nước trao tặng Giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ
thuật năm 1996.
- Phong cách sáng tác: thơ ông chân
thực với cách diễn đạt bằng ngôn ngữ
giản dị, tự nhiên và rất giàu hình ảnh,
bình dị mà tha thiết.
- Tác phẩm chính: các tập thơ Hoa
niên (1945), Gửi miền Bắc (1955),
Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu
thương (1963).
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày
sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai
hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh
cá:
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập
đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy
ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc
trắng.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn
mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt
trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh
hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp
gió...
Dân chài lưới làn da ngăm rám
nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về
nằm
Nghe chất muối thấm dần trong
thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
Làng tôi ở vốn làm nghề chài
1. Quê hương trong tâm trí lưới:
tác giả:
Nước bao vây cách biển nửa
- Là một làng chài trên một cù ngày sông.
lao giữa sông và biển, làng chài Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai
dập dềnh sóng vỗ.
hồng,
- Với “Trời trong - gió nhẹ - sớm Dân trai tráng bơi thuyền đi
mai hồng”.
đánh cá:
=>không gian như kéo dài ra,
bầu trời như cao hơn, tràn ngập
ánh sáng.
- Bầu trời trong xanh, gió hiu hiu,
ánh nắng hồng nhẹ nhàng.
=>Báo hiệu một ngày mới lại
2. Hình ảnh con thuyền ra khơi:
- So sánh: chiếc thuyền nhẹ băng như
con tuấn mã/ cánh
thể hiện niềm vui và phấn khởi của
những người dân chài. Khí thế băng
tới vô cùng dũng mãnh của con
thuyền toát lên một sức sống tràn
trề, đầy nhiệt huyết. Vượt lên sóng.
Vượt lên gió.
- Nhân hóa, hoán dụ: Rướn thân trắng
bao la thu góp gió
-> sự mạnh mẽ vượt biển khơi của
con thuyền, cánh buồm hay cũng
chính là tâm thế của con người ra
khơi: phấn khởi mạnh mẽ
Chiếc thuyền nhẹ hăng như
con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt
trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh
hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp
gió...
3. Hình ảnh con người và thuyền
khi trở về
- với làn da ngăm rám nắng
->bút pháp tả thực-> một làn da khỏe
mạnh, không lẫn vào đâu được.
- thân hình nồng thở vị xa xăm
Hình ảnh ẩn dụ (chuyển đổi cảm
giác)+bút pháp lãng mạn->gợi cả
linh hồn và tầm vóc của con người
làng biển.
- Con thuyền nằm im trên bến đỗ
->sáng tạo nghệ thuật độc đáo->cảm
xúc bâng khuâng thương nhớ của
người con xa quê hương.
->ẩn dụ chuyển đổi cảm giác->thấy
con thuyền nằm im trên bến và cả sự
mệt mỏi của nó.
Dân chài lưới làn da ngăm rám
nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa
xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về
nằm
Nghe chất muối thấm dần trong
thớ vỏ.
4. Tình cảm của nhà thơ:
- Nỗi nhớ quê tha thiết với một tình
yêu thủy chung, gắn bó với nơi đã bao
bọc mình.
+qua màu xanh của nước
+màu bạc của cá
+ màu trắng của cánh buồm
+ con thuyền như những con tuấn mã
mạnh mẽ ra khơi…
- Câu cảm thán cuối bài: lời nói thốt ra
từ trái tim, là sự thủy chung, gắn bó
với quê hương yêu dấu.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng
nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc
buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy
ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn
quá!
 








Các ý kiến mới nhất